1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thư mục thác bản văn khắc hán nôm việt nam tập 10 han viet

731 46 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thư Mục Thác Bản Văn Khắc Hán Nôm Việt Nam
Tác giả Lê Tuấn Anh, Vũ Lan Anh, Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Kim Mãng
Người hướng dẫn Trịnh Khắc Mạnh (ch.b.)
Trường học Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Nghiên cứu Hán Nôm
Thể loại catalogue
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 731
Dung lượng 543,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thư mục văn khắc Hán nôm Việt Nam tập 10 TMVKHN101 Viện Khảo cứu cao cáp Pháp Vietnamica Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Viện Nghiên cứu Hán Nôm THƯ MỤC THÁC BẢN VÀN KHẮC HAN NÔM VIỆT NAM CATALOGUE DES INSCRIPTIONS DU VIỆT NAM CAT.

Trang 1

Viện Hàn lâm Khoa học

xã hội Việt Nam

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

THƯ MỤC THÁC

BẢN VÀN KHẮC HAN NÔM VIỆT NAM

CATALOGUE DES INSCRIPTIONS

DU VIỆT-NAM

CATALOGUE OF VIETNAMESE INSCRIPTIONS

Trang 2

Nhà xuất bản Khoa học xã hội

Trang 3

ĩầư muc tíìác íản van tíiắc ỉìtâấ/n, 'AQhn jVa/m

4

ễĩậýi X

Trang 4

Ếcote Pntiquc

MOniE

flGEii CE

This project has received funding from the European Research Council (ERC); Wider the European Unions Horizon 2020 research and innovation j

I . — J

Trang 5

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam

Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam = Catalogue des inscriptions duViệt Nam = Catalogue of Vietnamese inscriptions / Trịnh Khắc Mạnh (ch.b.), Vũ LanAnh, Nguyễn Hữu Mùi - H : Khoa học xã hội - 24cm

T.10 - 2020 - 860tr

1 Văn bia 2 Văn khắc 3 T liệu cổ 4 chữ Hán Nôm 5 Thư mục 6 Việt Nam

016.49517 - dc23

KXF0141P-CIPVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Viện Nghiên cứu Hán NômÉcole pratique des Hautes ÉtudesVietnamica

THƯ MỤC THÁC BẢN VÀN KHẮC HÁN NÔM VIỆT NAM

Catalogue des inscriptions du Việt-Nam Catalogue of Vietnamese Inscriptions

(Tập X: N°18.002 - 20.000)

Ban chỉ đạo công trình - Comité directeaur - Scientific

Committee

Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin

Chủ biên - Édỉteur - Editor

Trịnh Khắc Mạnh

Ban thư ký - Secretariat ■ Secretariat

Phạm Thị Vinh, Nguyễn Hữu Mùi, Vũ Thị Mai Anh

Ban biên soạn - Comité de redaction - Authors

Lê Tuấn Anh, Vũ Lan Anh, Trịnh Khắc Mạnh, Nguyền Kim Mãng,

Trang 6

Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Thúy Nga, Nguyền Thị Ngân,

Nguyễn Văn Nguyên, Đinh Khắc Thuân,Đào Thái Tôn, Phạm Thị Thùy Vinh

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI

Hà Nội - 2020

PHÀM LỆ

Thác bản văn khắc được biên thành từ mục theo từng đơn vị văn khắc (gọi tat là

"bia"), có nghĩa là mỗi từ mục sẽ bao gồm từ 1 đến nhiều thác bàn liên quan với nhau

của 1 tấm bia Điều này căn cứ vào ghi chú của người sưu tầm trên thác bàn và trongmột số trường hợp cá biệt có điều chình lại cho hợp lí

Các từ mục sắp xếp theo thứ tự tăng dần của kí hiệu thư viện Vì coi đây là một

bộ phận của hệ thống cơ sở dữ liệu văn khắc nên các từ mục đều được trình bày thống

nhất theo quy cách gồm các yếu tố sau đây:

1 Tên mục: Ghi bằng chữ phiên âm Hán Việt và chữ Hán, chữ Nôm, lấy theo

đoạn câu chữ tiêu đề trên trán bia ở từng mặt thác bản (những câu chữ này nói chungcũng không hẳn mang tính chất tiêu đề), hoặc nhan đề ở dòng đầu vãn khắc, kèm theo

kí hiệu thư viện của chúng Tiêu đề và kí hiệu thư viện của các thác bản được táchbiệt nhau bằng dấu gạch chéo (/) Vì trên văn bản văn khắc vốn không có quy định vềthứ tự cùa các mặt khác nhau nên khi trình bày tiêu đề này chúng tôi co gắng sắp xếptheo ý nghĩa tương đối của nội dung chứ không căn cứ theo thứ tự kí hiệu thư viện.Trường hợp thác bản không có tiêu đề thì ghi [Vô đề]

2 Địa điểm xuất xứ: Phân biệt rõ địa danh dựng bia và địa danh sưu tầm thác

bản Địa danh của bia nhằm cung cấp một hệ thống địa danh cổ vào thời gian hìnhthành văn khắc được ghi trong nội dung văn bản, nên được ghi bằng phiên âm HánViệt kèm theo chữ Hán Nôm tương ứng Địa danh sưu tầm là tên địa điểm sưu tầmthác bản được người sưu tầm căn cứ vào tên gọi địa phương ở thời điểm sưu tầm màghi chú ở bên lề thác bản

3 Thông tin về hình thức của thác bản: bao gồm kích thước thác bản (chiều

Trang 7

ngang X chiều cao, đơn vị tính là cm), loại văn tự (chữ Hán, chữ Nôm), số dòng, sốchữ ước lượng, tíang trí hoa văn và sự xuất hiện chừ kiêng húy (kèm hình chữ nếucó).

4 Niên đại văn khắc: Ghi tên niên hiệu, năm thứ (hoặc năm can chi) đề trên văn

bàn kèm năm dương lịch qui đổi Trường hợp trong văn khắc không có niên đại thìghi rõ là “không ghi”; hoặc trong trường hợp niên đại không

rõ ràng hoặc có nghi vấn thì có thể cân cứ vào thông tin trong nội dung văn khắc màđưa ra một niên đại ước đoán

5 Thông tin về người tham gia xây dựng văn bản: Chủ yếu là người soạn,

người nhuận sắc, người viết chữ và người khắc Chú ưọng thể hiện những thôngtin liên quan về họ và tên (có kèm chữ Hán), tên tự, tên hiệu, quê quán, học vị,chức vị, tước hiệu Trường hợp tên người không ghi rõ trên văn bản nhưng nếu cóthể ưa cứu ra được thì ghi ưong ngoặc vuông ([ ])

6 Phân loại chủ đề: Phân loại theo 10 loại chủ đề chính do công trình tạm

thời đặt ra, nhằm cung cấp những từ khóa chủ yếu về nội dung văn khắc để trợgiúp độc già nhanh chóng nắm bắt và tìm kiếm thông tin nội dung, đồng thờinhằm chuẩn bị cho việc truy cập ưa cứu vào hệ thống cơ sở dữ liệu văn khắc sèđược xây dựng sau này

7 Nội dung văn khẳc: Trình bày tóm lược nội dung của văn bản, cố gắng

nêu bật được sự kiện chù yếu, kèm theo những thông tin về thời gian, địa điểm cụthể, hoặc ý nghĩa chính yếu của văn khắc

8 Ghi chú cần thiết về thác bản như: những đặc điểm đặc biệt, nghi vấn về

niên đại ngụy tạo, kí hiệu của thác bản trùng bàn hoặc thác bản liên quan

Vì số lượng thác bàn đã và đang sưu tầm rất lớn, nên bộ Thư mục thác bàn

văn khắc Hán Nôm Việt Nam sẽ chia thành nhiều tập, mồi tập bao gồm số lượng

thác bản đều nhau là 2.000 kí hiệu nhằm thuận tiện cho độc giả tìm chọn ưa cứu

Để nhanh chóng đưa công trình tới tay bạn đọc, chúng tôi sẽ lần lượt xuất bảntừng tập sau khi biên soạn xong, và như vậy phần sách dẫn tra cứu thông tin cùa

toàn bộ kho thác bản sẽ chỉ được tổng hợp và công bố sau khi đã xuất bản tập Thư

mục cuối cùng.

Ban biên soạn

Trang 8

Ce catalogue, tout comme le corpus des inscriptions originales que nous avonsdéjà commencé de publier, est fondé sur la collection des estampages conserves àrinstitut de Recherches Hán-Nơm, Ó chaque estampage possède sa propre cotenumérique Une cote renvoie done à une feuille estampée, et à une seule Quand lastèle ne possède qu’une face, son estampage correspond à la totalité de I’inscription.Mais, quand elle en possède plusieurs, y compris ses tranches, alors r inscriptioncomplète comporte évidemment autant d’estampages que de faces Ce catalogue, quis’intéresse au contenu plus qu’à la forme, repose dès lots sur le principe qu’à uneentrée correspond l’intégralité de r inscription, c’est-à-dire un OU plusieurs estam-pages du monument entier (stèle OU cloche) C’est la raison pour laquelle les enưées

- classées dans 1’ordre numérique qui est celui de leurs cotes à la bibliothèque derinstitut - comprennent tantơt une cote, tantơt plusieurs

Le contenu des enưées du catalogue, qui servira à 1’établissement de la base dedonnées iníormatisée des inscriptions du Việt-Nam, repose sur quelques principes deprésentation qui sont systématiques et uniriés

1- Le titre Le tiưe de r inscription apparaĩt d’abord dans sa transcription en vietnamien modeme, ensuite dans sa forme originale en caractères hán OU nơm Si r

inscription compte plusieurs estampages, done la stèle plusieurs faces, alors nousindiquons aussi le titte de chacun d’eux (ils sont séparé par le signe “ / ”) Les cotesdes estampages se trouvent en face des titres Bien qu’elle ne corresponde pasexactement à un “titte” au sens Ó nous 1’entendons aujourd’hui, e’est la premièreligne, gravée au fronton de la stèle, généralement en gros caractères, qui est utiliséedans cette rubrique, ou, en son absence, la première colonne du texte lui-même.Lorsque les différentes faces d’une même stèle porte chacune un titre individuel, cestitres n’étant liés entre eux par aucune logique de lecture qui puisse permettre de lesclasser, alors nous les citons dans 1’ordre qui est celui du contenu du texte lui-même,

et non dans 1’ordre numérique des estampages Enfin, en rabsence de titre au fronton

et si la première colonne du texte n’indique rien, alors 1’entrée du catalogue apparait

sous la forme Sans titre (VỠ de).

2 - La localisation Cette rubrique utilise deux systèmes de noms de lieux,

1’un et r autre essentiels à la localisation du monument, mais qu’il importe de

Trang 9

distinguer soigneusement: d’abord le lieu qui figure dans 1’inscription originale,ensuite celui 0Ù elle a été estampée La premiere indication, que nous donnons envietnamien et en caractères, est tirée du texte original et correspond au nom ancien

de 1’endroit Ó a été érigée la stèle La seconde, quant à elle, provientdirectement de la note que les estam- peurs ont inscrite en marge de r estampage.Par consequent, pour ce qui conceme le fonds des estampages de I’EFEO, ce sontles toponymes d’epoque coloniale qui sont utilisés La combinaison des deuxsystèmes est indispensable pour localiser 1’inscription dans le Việt-Namd’aujourd’hui

3 - Les informations sur la forme Elies comprennent les dimensions de la stèle (largeur X hauteur), la nature des caractères utilisés (hán, nơm), le nombre de

colonnes du texte, une approximation du nombre total de caractères, la presence

OU non de motifs decoratifs, la présence OU non de caractères taboués (avec, s’ilsexistent, leur reproduction)

4 - La dotation de I’inscription Nous donnons d’abord les informations qui

figurent dans le texte original, à savoir, selon les cas, tout OU partie des datesexprimées selon le triple système du nom de 1’ère de règne impérial, de sonnuméro d’ordre et de son année sexagésimale Vient ensuite, entre parenthèse, saconversion dans le calendrier actuel Dans le cas Ó rinscription n’est pas datée,

nous le signalons par une mention explicite (khơng ghi) et foumissons, quand la

chose est possible, une date approximative qui est từée de rétude philologique dutexte lui-même

5 - Les auteurs de rinscription Il s’agit, selon les cas, du rédacteur, du

correcteur, du calligraphe OU du graveur de 1’inscription Nous indiquons, envietnamien et en caractères, leurs noms d’usage, pseudonymes, noms de plume,village d’origine, diplơmes, titres et fonctions Si ces precisions sont tirées denotre enquête, et non du texte original, alors nous les écrivons entre crochets([ ])

6- Le sujet general de r inscription Il est indiqué par une OU plusieurs des dix

nomenclatures, équivalentes à des mots-clés, que nous avons retenues pour1’ensemble du catalogue Cette indication, qui a pour but de permettre au lecteur uneselection rapide des inscriptions, est un élément essentiel de la future base de donnéesinformatique qui viendra clore ce programme

Trang 10

7- Le contenu de rinscription Il s’agit d’un résumé qui tâche de faire saisir, en

quelques lignes qui reprennent et développent les informations principales du texte,

ce que le lecteur peut s’attendre à trouver dans r inscription

8- La note finale (ghỉ chú) Le cas échéant, cette note apporte des precisions

supplémentaữes sur certaines caractéristiques notables de 1’inscription, sur la dateréelle de sa composition, sur les estampages qui en sont des doublons, OU encore surles auttes inscriptions qui ont partie liée avec elle

Le volume considérable des estampages du Việt-Nam impose un catalogue enplusieurs tomes Cette premiere livraison en compte quatre, étant entendu que lessuivants verront le jour peu à peu, à mesure de 1’avancée du travail de dépouillement.Pour faciliter la recherche d’une réíérence, il est d’ores et déjà convenu que chaquetome contient exactement 2,000 inscriptions, dont les cotes extremes sont indiquéessur la tranche du livre Les index n’ont pas été oubliés Ils viendront naturellementfaciliter la selection d’inscriptions par lieux, dates, personnages, thèmes, etc, mais ils

ne pourront paraĩtre, sous forme de tomes complémentaires, qu’une fois achevée lecatalogage de la totaỉité des inscriptions

Le comité de rédaction

CONVENTIONS

This catalogue, like the corpus of original inscriptions of which publication isunder way, is based on the collection of rubbings kept at the Institute of Hán-NômStudies, where each rubbing bears its own numerical reference number Eachnumber refers to one rubbed sheet, and no more than one When a stele has onlyone side, one rubbing coưesponds to the entire inscription But when the stele isinscribed on several sides, including its edges, the inscription may be read on asmany rubbings as there are sides This catalogue, which pays as much attention tothe document’s form as its content, works from the principle that a single entrycorresponds to the entire inscription, which may be represented on one or severalrubbings of the entữe monument (stele or bell) That is why the entries, which arelisted in the numerical order of the index in the Institute’s library, sometimesincludes a single reference number, sometimes several

The content of the catalogue entries, which will serve for the establishment

Trang 11

of a computer database of Vietnamese inscriptions, is based on several systematicand internally consistent principles of presentation.

1- The Title The inscription’s title appears first in transcription into modem

Vietnamese, then in its original form in Han or Nom characters If the inscriptioncovers more than one rubbing - more than one side of a stele - we indicate thenumber of each (separated by the sign ‘ / *) The rubbing reference numbersappear opposite the titles Although it does not correspond exactly to the idea of a

‘title’ in the sense we understand today, the first line of the inscription, generally

in large characters engraved on the pediment of the stele, is used for this rubric;alternatively, in the absence of this line, the first column of characters in the textitself is used When the different sides of the same stele each bear their own titleand these titles are not linked by any discernible logic allowing US to classifythem, we cite them in the order of the text’s content, and not in the order of therubbing’s reference numbers Finally, in the absence of a pediment title and ifnothing is indicated in the first column of the text, the catalogue entry bears the

record No title (Vổ đề).

2 - Localisation This rubric uses two place name systems Both are

essential to the geographic localisation of the monument but they should be carefullydistinguished They are the place mentioned in the original inscription, and the placewhere the rubbing was made The first name, given in Vietnamese and characters, istaken from the original text and corresponds to the ancient name of the place wherethe stele was erected The second comes directly from the note made by the rubbingteam in the margin of the rubbing As a result, for the EFEO collection of rubbings,colonial toponyms are used The combination of both systems is indispensable for thelocalisation of the inscription in today’s Vietnam

3 - The inscription's form This is drawn from observations made on the

rubbing and includes its dimensions (width X height), the nature of the charactersused (hán, nôm), the number of columns in the text, an estimate of the total number ofcharacters, the presence or otherwise of decorative motifs, the presence or otherwise

of taboo characters (and theừ reproduction, if they exist)

4 - The inscription’s date We first provide the information figuring in

the original text, which may include all or part of the date expressed in the ancienttriple dating system: imperial reign era name, year order number within that era and

Trang 12

sexagesimal year name There follows, in brackets, the date’s conversion into today’scalendar When the inscription is not dated, this is mentioned in an explicit note

(không ghĩ) and we provide - where possible - an approximate date based on a

philological reading of the text itself

5 - The inscription's authors These may include the writer, the

corrector, the calligrapher and the engraver of the inscription We indicate, in

Vietnamese and characters, their common names, pseudonyms, noms de plume,

village of origin, diplomas, titles and offices If these details are drawn from our ownresearch, and not from the original text, they are placed between square brackets([ ])

6 - The inscription’s general subject This is indicated under one or

several headings, equivalent to key words, used throughout the catalogue This note,allowing the reader to make a rapid selection of the inscriptions, is an essentialelement of the future computer database which will form the

final stage of the programme

7 - The inscription’s content This aims to offer, in a few lines summarising

the most important information in the text, a clear idea of what the reader mayexpect to find in the inscription

8 - The final note (ghi chú) This note may contain further details of

noteworthy characteristics of the inscription, on the real date of its composition, onrubbings which are doubles, or on other inscriptions which may bear a relationwith this one

The great volume of Vietnamese rubbings requires a catalogue consisting ofseveral volumes The first stage of publication Four volumes will be published inthe first instance; others will follow gradually, as the work proceeds To facilitatethe search for references, each volume will contain exactly 2,000 inscriptions, ofwhich the first and last reference numbers are indicated on the spine of the book.The indexes have not been forgotten They will naturally facilitate the selection ofinscriptions by place name, date, person, theme, etc, but will be published infurther volumes only after completion of the entire catalogue of inscriptions

The Authors

Trang 13

Tự Đức Đinh Sửu niên tạo

Kí hiệu: 18002Thác bản bia xã Thọ Đức huyện Yên Phong phủ Từ Sơn g

I$-Ệí£ậi-, sưu tầm ở đình xã Thọ Đức huyện Yên Phong thị trấn Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 1 mặt, khổ 37 X 67 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ướckhoảng 400 chừ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Đinh Sửu Tự Đức thứ 30 (1877)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Năm Tự Đức thứ 10 (1857) bị mất mùa, dân nghèo trong làng vô cùng đói khổ, làng

xã không có tiền để chi dùng Bà Nguyễn Thị Đán người xã Thọ Đức huyện YênPhong đã cúng cho xã 200 quan tiền để xã chi dùng vào việc công, bà lại cúng 2mẫu ruộng để xã canh tác, lúc sổng thì chi phí cho các lễ tết, khi bà ưăm tuổi thìchi phí cho giỗ kỵ Quan viên, dân làng thuận tình bầu bà làm Hậu thần Ghi vị trícác thửa ruộng gửi giỗ và các vật phẩm cúng lễ vào các ngày giỗ của bà

Lập đức bi ký

Kí hiệu: 18003 Thác bản bia xã Thọ Đức tổng Phong Xá huyện Yên Phong phủ Từ

Sơn & sưu tầm ở đình xã Thọ Đứchuyện Yên Phong thị trấn Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 1 mặt, khổ 46 x 86 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 500 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Tự Đức thứ 11 (1858)

Người soạn: không ghi

Chù đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Năm Tự Đức thứ 10 (1857) vùng Yên Phong bị mất mùa dân tình vô cùng đóikém Khi ấy có việc nạo vét con sông Thuận Đức, nhưng việc dân phu ăn uốngchi dùng rat tốn kém, ông Dương Đình Tịch đã cúng cho bản xã 500 quan tiền

để xã chi dùng vào việc công và lại cúng 3 mẫu ruộng để xã canh tác Quan

Trang 14

viên, dân làng thuận tình bầu ông làm Hậu thần Bia có ghi các điều lệ kínhbiếu khi ông còn sống và điều lệ cúng giỗ sau khi ông chết và ghi rõ vị trí cácthửa ruộng gửi giỗ.

Niên đại: Thành Thái thứ 11 (1899)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Xã Tự Đức đã có linh từ từ lâu, nhưng vẫn chưa xây dựng được một gian tiềnđường, mỗi khi tế lễ gặp mưa gió rất là khó khăn vất vả, nay dân xã muốn xâynăm gian tiền đường tại nơi đó, nhưng chi phí rất lớn nên chưa làm được BàNguyễn Thị Hiền người bản xã đã tiến cúng 160 quan tiền để xã chi dùng vàoviệc công và lại cúng 2 mẫu ruộng để xã canh tác Quan viên, dân làng thuậntình bầu bà làm Hậu thần Bia có ghi các điều quy ước kính biểu lễ tết khi bàcòn sống và nghi lễ cúng giỗ khi bà trăm tuổi Có ghi rõ vị trí các thừa ruộnggừi giỗ

Quý Mão bi ký

Kí hiệu: 18005Thác bản bia xã Thọ Đức tổng Phong Xá huyện Yên Phong phủ Từ Sơn & sưu tầm ởđình xã Thọ Đức

huyện Yên Phong thị trấn Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 1 mặt, khổ 40 X 63 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ước khoảng 360 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Thành Thái thứ 15 (1903)

Người soạn: không ghi

Trang 15

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.

Tóm lược nội dung:

Bà Ngô Thị Tình người xã Thọ Đức huyện Yên Phong nhận thấy bản xã tu sửa lạiđình nhưng không có tiền đã bỏ ra 200 quan tiền để xã chi dùng vào việc sửa chữa

Bà lại cúng 4 mẫu ruộng giao cho dân làng canh tác Quan viên, dân làng thuậntình bầu vợ chồng ông bà làm Hậu thần Bia có ghi việc khi bà còn sống hàng nămtrích ra 5 quan tiền từ số hoa lợi của 4 mẫu ruộng để cúng tế các ngày lễ tết, khi vợchồng bà chểt thì sắm đủ lễ vật theo quy ước để cúng giỗ hàng năm Bia có ghi rõ

vị trí các thửa ruộng gửi giỗ

Hậu thần bi ký

Kí hiệu: 18006 Thác bản bia xã Lương cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ

Từ Sơn & Ể íặ sưu tầm ở đình xã LươngCẩm huyện Yên Phong thị trấn Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bàn 1 mặt, khổ 42 X 60 cm, gồm 15 dòng chừ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Bảo Đại thứ 6 (1931)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giồ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Vào năm Canh Ngọ, xã Lương cầm tu tạo 5 gian chùa Đông Trù phí tổn rất lớn,ông Phạm Văn Địch là người bản xã đã cúng 60 đồng để xã có tiền tu bổ chùa,ông lại cúng 6 sào ruộng để gừi giỗ Quan viên, dân làng thuận tình bầu cha mẹông làm hậu Phật Bia có ghi rõ họ và tên, ngày giỗ, cùng chư vị được bầu Hậu

và vị trí các thửa ruộng gửi giỗ

Duy Tân ngũ niên thập nhất nguyệt sơ lục nhật lập văn bi

Thác bản bia xã Lương cầm tồng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn s sưutầm ở đình xã Lương

Cẩm huyện Yên Phong thị trấn Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 1 mặt, khổ 31 X 46 cm, gồm 11 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn

Trang 16

ước khoảng 150 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy.

Niên đại: Duy Tân thứ 5 (1911)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Vào năm Đinh Mùi xã Lương cầm tu sửa lại đình phí tổn rất là lớn Ông NghiêmVăn Khôi người của xã đã cúng 100 quan tiền để giúp xã tu bổ đình, ông lạicúng 2 mẫu ruộng làm ruộng gửi giỗ Quan viên, dân làng thuận tình bầu cha mẹông làm Hậu thần Nay lập bia ghi rõ họ và tên, ngày giỗ của chư vị được bầuHậu, vị trí các thửa ruộng gửi giỗ

Ký kỵ bi

Kí hiệu: 18008Thác bản bia xã Phù cầm huyện Yên Phong phủ Từ Sơn s

sưu tầm ở đình xã Phù cầm tổng Dùng Liệt huyện Yên Phong phủ TừSơn tình Bắc Ninh

Thác bán 1 mặt, khổ 50 X 90 cm, gồm 15 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ước khoảng 500 chữ, có hoa vãn, không có chừ húy

Niên đại: Đồng Khánh thứ 3 (1888)

Người soạn: Hoàng Bá Lương #ÍÉJ quê quán: xã Phù cầm

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội đung:

Vào năm Mậu Tý xã Phù Liệt phải kê khai sổ đinh điền, chi phí rất tốn kém, ôngVương Vãn Tạo người bản xã đã cúng 300 quan tiền để giúp xã kê khai sổ đinhđiền và lại cúng một mẫu 6 sào ruộng để xã canh tác Quan viên, dân làng thuậntình bầu vợ chồng ông làm Hậu thần và cho 6 người trong nhà ông được phốihưởng Ghi họ và tên, ngày giỗ, chư vị được gửi giỗ và những người được phốihưởng, có ghi vị trí các thửa ruộng gửi giỗ

Ký kỵ bi

Kí hiệu: 18009Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Phù Cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Trang 17

Thác bản 1 mặt, khổ 38 X 65 cm, gồm 11 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 200 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy.

Niên đại: Tự Đức thứ 22 (1869)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Vào năm Kỷ Mão vợ chồng ông Hoàng Phúc người xã Phù Cầm đã cúng cho xã 150quan tiền để dân làng làm cầu lợp ngói và xây 3 gian nhà ở sau đình, lại cúng 6sào ruộng để gừi giỗ Quan viên, dân làng thuận tình bầu vợ chồng ông bà làmHậu thần Bia có ghi rõ quy định khi ông bà còn sống thì các ngày lễ tết thì cócúng biếu lộc thánh, khi ông bà trăm tuổi vào các ngày giỗ được cúng giỗ tạiđình

Ký kỵ bi

Kí hiệu: 18010 Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Phù cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên

Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.Thác bản 1 mặt, khổ 40 X 60 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vănước khoảng 300 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Tự Đức thứ 31 (1878)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Vào năm Đinh Sửu xã Phù cầm sửa chữa đình, có bà họ Vương hiệu là Diệu Từcúng 200 quan để xã chi dùng vào việc công, bà lại cúng 6 sào ruộng để gửi giỗcho chồng và bản thân Quan viên, dân làng đã đồng ý nhân đó khắc vào bia đá

để lưu truyền mãi mãi Bia có ghi vị trí các thửa ruộng gửi giỗ và các điều lệ,như vào ngày giỗ những người canh tác 6 sào ruộng đó phải sắm sửa 3 mâm cỗ,

1 cỗ để cúng thần, 1 cỗ đem đến trước bia làm cỗ cúng giỗ và 1 cỗ sau khi cúngđem đến biếu nhà người gửi giỗ, v.v

Ký kỵ bi

Trang 18

Thác bản bia xã Phù cầm tổng Dũng Liệt sưu tầm ởđình xã Phù cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.Thác bản 1 mặt, khổ 47 X 75 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vănước khoảng 400 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy.

Niên đại: Khải Định thứ 3 (1918)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Dân xã Phù cầm có 1 ngôi đình, nãm ngoái tu bổ nhưng vẫn chưa xong, nay lại bịmưa gió làm cho hư hỏng, muốn tiếp tục tu bổ nhưng chi phí tốn kém, lúc nàydân tình khó khăn, thật khó mà chiếu bổ Ông Hoàng Bá Liêu là người trong xã

đã bỏ ra 40 đồng để giúp xã có tiền tu sửa đình, lại cúng 6 sào 3 thước ruộng đểgửi giỗ cho bà nuôi và mẹ nuôi Quan viên, dân xã đã thuận tình nay lập bia ghilại việc này và ghi rõ khi bà họ Hoàng hiệu là Diệu Thanh còn sống vào lễ cơmmới kính biếu bà 5 đấu gạo, 1 con gà giá khoảng 3 hào, 5 quả cau, khi bà 100tuổi vào ngày giồ hàng năm làm lễ cúng giỗ

Hậu thần bỉ ký

Kí hiệu: 18012Thác bản bia xã Phù cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong 5Ê ăO sưu tầm ở đình

xã Phù cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bàn 1 mặt, khổ 40 X 65 cm, gồm 15 dòng chữ Hán, có chữ Nồm, toàn vãnước khoảng 300 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Bảo Đại thứ 1 (1926)

Người soạn: không ghi

Chù đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Dân xã Phù cầm vào năm Bính Dần có tu sửa lại đình chi phí rất là tổn kém, cóông Vương Đức tự là Phúc Hiền người bản xã đã cúng 70 đồng để xã chi dùngvào việc công, ông lại cúng 7 sào 3 thước 7 tấc ruộng để gừi giỗ cho vợ chồngông và xin cho 3 người được phối hưởng Quan viên, dân xã đã thuận tình naylập bia, ghi họ và tên, ngày giỗ của chu vị được phối hưởng

Ký kỵ bỉ

Kí hiệu: 18013Thác bản bia xã Phù cầm tổng Dũng Liệt sưu tầm ở

Trang 19

đình xã Phù cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tinh Bắc Ninh.Thác bản 1 mặt, khổ 44 X 81 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vănước khoảng 300 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy.

Niên đại: Khải Định thử 7 (1922)

Người soạn: không ghi <

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Năm nay dân xã được sức cho phải mua 1 phiếu quốc ưái trị giá là 50 đồng, xétthấy đương vào tháng 3 ngày 8 dân tình khó khăn có bổ cũng không thu được,khó mà nạp đủ Có bà Ngô Thị Thải người bản xã đã cúng 30 đồng để giúp xãmua công trái và lại cúng 6 sào ruộng để gửi giỗ cho vợ chồng mình và xin chocon trai đã mất sớm được phối hường Quan viên, dân xã đã thuận tình nay lậpbia ghi họ và tên, ngày giỗ của chư vị được gừi giỗ và phối hưởng

Hậu thần bi ký

Kí hiệu: 18014 Thác bản bia xã Phù cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ

tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 1 mặt, khổ 32 X 46 cm, gồm 15 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vănước khoảng 250 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Tự Đức thứ 30 (1877)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội đung:

Dân xã Phù cầm tu bổ lại đình, có bà Đào Thị Nhà người bản xã đã cúng 100 quantiền để xã có tiền tu sửa Bà lại cúng 5 sào ruộng đê gửi giỗ cho ông bà ngoại.Quan viên, dân làng đã thuận tình nay lập bia ghi họ và tên, ngày giỗ của chư vịgửi giỗ và vị trí các thừa ruộng gửi giỗ

Hoàng triều Tự Đức thập bát niên ỉập bỉ

Kí hiệu: 18015Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Phù cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ

Trang 20

Sơn tinh Bắc Ninh.

Thác bản 1 mặt, khổ 30 X 60 cm, gồm 15 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 400 chữ, không có hoa văn, không có chừ húy

Niên đại: không ghi

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Sự tích công trạng nhân vật

- Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Bia ghi công trạng công thần tước Bảng Công hầu thời Lê Trung hưng Sau này concháu cùa ông đã tiến cúng ruộng là 1 mẫu 5 sào, 5 sào để cúng tế xuân thu nhị kỳ,ông được dự phổi hưởng, còn 1 mẫu thì làm ruộng gừi giỗ, để hàng năm lấy tiềnhoa lợi cúng giồ ông vào ngày 18 tháng 5

Ký kỵ bi

Kí hiệu: 18016 Thác bản bia xã Phù cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ

ở đình xã Phù cầm tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.Thác bản 1 mặt, khổ 45 X 67 cm, gồm 18 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ướckhoảng 350 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Bảo Đại thử 16 (1941)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Thác bản 3 mặt, khổ 39 X 60 cm; 22 X 60 cm, gồm 18 dòng chữ Hán, có chữ Nôm,

Trang 21

toàn văn ước khoảng 300 chữ, có hoa vãn, có chữ húy.

Niên đại: Vĩnh Hựu thứ 5 (1739)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung'.

Vợ chồng ông Ngô Quốc Tín người xã Phù Ân huyện Yên Phong đã tiến cúng chophường Đông 42 quan 5 mạch và tiến cúng cho phường Đoài 22 quan 5 mạch, ông

bà lại tiến cúng ruộng cho 2 phường này để gửi giỗ Quan viên, dân làng thuận tìnhbầu 2 vợ chồng ông bà làm Hậu thần Bia có ghi rõ vào ngày giỗ, phường Đoàisắm sửa lễ vật cúng giỗ

Hậu phật bi ký

Kí hiệu: 18020Thác bàn bia sưu tầm ờ chùa Trùng Quang xã Phù An tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phù Từ Sơn tình Bắc Ninh

Thác bàn 1 mặt, khổ 52 X 90 cm, gồm 12 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 300 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Bào Đại thử 15 (1940)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Xã Phù An tổng Dũng Liệt có ngôi chùa Trùng Quang trước đây dựng ở ngoài đê,sớm tối hương khói thờ cúng thật là bất tiện, nay thấy phía trong đê vừa gần vừatiện nên muốn chuyển vào nhưng việc xây dựng rất là tốn kém Bà Ngô Thị Hùngngười bản xã đã cúng 20 đồng để xã chi dùng vào việc xây dựng và lại cúng ruộng

để gửi giỗ, Quan viên, dân làng thuận tình bầu bà làm Hậu phật Bia có ghi rõ saunày bà trăm tuổi vào các ngày giỗ hàng năm sẽ được cúng giỗ tại chùa Có ghi rõ

số ruộng và vị trí các thửa ruộng gửi giỗ

Đồng bản xã phoi hưởng Trùng Quang tự

Kíhiệu: 18021Thác bản bia sưu tầm ở chùa Trùng Quang xã Phù An tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phù Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bàn 1 mặt, khổ 52 X 76 cm, gồm 19 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước

Trang 22

khoảng 500 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.

Niên đại: Bảo Đại thứ 15 (1940)

Người soạn: không ghi

Chù đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội dung:

Chùa Trùng Quang xã Phù An trước đây nằm ở ngoài đê, vào tháng 7 năm Kỷ Mão bản xã đã di chuyển vào trong đê xây dựng lại, chi phí rất là tốn kém, các nhà hảo tâm

đã tiến cúng tiền của để hoàn thành việc xây dựng lại chùa Nay khắc họ tên những người đó vào bia và quy định lệ, những người đó khi còn sống thì lễ khánh tiết mùa xuân được cầu phúc bình an, sau khi chết thì ngày 15 tháng 7 hàng năm sè được cúng

tể Có ghi rõ họ và tên, số tiền tiến cúng cùa từng người

Hậu thần bi ký

Kí hiệu: 18022 Thácbản bia xã Yên Lãng tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh sưu tầm ởđình xã Yên Lãng

tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 2 mặt, khổ 35 X 54 cm, gồm 20 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 300 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Bảo Đại thứ 16 (1941)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung',

Dân xã Yên Lãng tu bổ lại đình, chi phí rất là tốn kém Nay có bà Nguyễn Thị Hợpngười trong xã đã tiến cúng 100 đồng và 1 mẫu ruộng và bà Nguyễn Thị Khắccúng 60 đồng và 6 sào ruộng để giúp xã sửa chữa lại đình Quan viên, dân xã thuậntình bầu hai bà làm Hậu thần Bia có ghi rõ vị trí các thừa ruộng tiến cúng

Hậu phật bi ký

Kí hiệu: 18023Thác bản bia sưu tầm ở chùa Diên Phúc xã Yên Lãng tổng Dũng Liệt huyện YênPhong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 1 mặt, khổ 27 X 60 cm, chữ Hán, toàn vãn ước khoảng 4 chữ,

Trang 23

không có hoa văn, không có chữ húy.

Niên đại: không ghi

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung'.

Bia không có chữ chỉ có tượng Hậu phật

Hậu thần tạo/Diên Phức tự/Lập thạch trụ

Kíhiệu: 18024/18025/18026Thác bản bia xã Yên Lãng huyện Yên Phong sưu tầm

ở chùa Diên Phúc xã Yên Lâng tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnhBắc Ninh

Thác bản 3 mặt, khô 25 X 126 cm, gồm 22 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 600 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Chính Hòa thứ 22 (1701)

Người soạn: Nguyễn Vãn Toán KixX- Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nộỉ dung'.

Dân làng xã Yên Lãng tổng Dũng Liệt cùng với khách thập phương đã tiển cúng tiềnbạc để xây dựng cột hương ở chùa Diên Phúc Nay lập bia ghi họ và tên chư vịhưng công, những người đã tiến cúng tiền bạc để ca ngợi công đức của họ

Hiếu nghĩa tri phương

Kíhiệu: 18027 Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Trần Xá tổng Dũng Liệt huyện Yên

Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.Thác bản 1 mặt, khổ 60 X 120 cm, gồm 20 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 180chữ, không có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Minh Mệnh thứ 16 (1835)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Công văn triều đình

Tóm lược nội đung:

Nhà vua ban chì dụ khen xã Trần Xá là một ấp nhỏ, khi bị bọn phỉ đánh phá, đãngoan cường chống cự, lấy ít địch nhiều, bọn phỉ bị thương rất nhiều phải bỏ chạy,

Trang 24

đã bảo toàn được làng xóm Nay vua ban thưởng cho Lý trưởng 1 cái áo bằng lụanam sa và 300 quan tiền để dân làng chia nhau Quan viên, dân làng đã khắc tờ chỉnày vào biểu ngạch.

Hoàng thượng vạn vạn nỉên/Phúc Khánh tự bỉ

Thác bản bia xã Trần Xá huyện Yên Phong phủ Từ Sơn M

sưu tầm ở chùa Phúc Khánh xã Trần Xá tổng Dũng Liệt huyện YênPhong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 2 mặt, khổ 83 X 98 cm, gồm 28 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 900 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Dương Hòa thứ 5 (1639)

Người soạn: Nguyễn Công Luận

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội dung:

Quan viên hương lão và dân chúng xã Trần Xá tổng Dũng Liệt cùng với khách thậpphương đã quyên góp tiền của để xây dựng chùa Phúc Khánh Nay lập bia ca ngợicông đức, ghi họ và tên chư vị hội chủ những người tiến cúng tiền bạc

Phúc Khánh tự/Hậu phật/Bi ký

Kí hiệu: 18030/18031/18032Thác bản bia sưu tầm ở chùa Phúc Khánh xã Trần Xá tổng Dũng Liệt huyện YênPhong phù Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 3 mặt, khổ 34 X 75 cm, gồm 18 dòng chừ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 300 chữ, có hoa vãn, không có chừ húy

Niên đại: Chính Hòa thứ 6 (1685)

Người soạn: hiệu là Chân Niên

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dùng'.

Bà Vũ Thị Điện người xã Phù Xá tổng Dũng Liệt thấy chùa Phúc Khánh dột nát xiêuvẹo, lại đúng lúc các sư trụ trì tại chùa muốn trùng tu lại chùa bèn tiến cúng 30quan tiền và 1 thừa ruộng và tín vãi Nguyễn Thị Cây tiến cúng 5 quan Nay quanviên hương lão trong xã đã thuận tình bầu bà Vũ Thị Điện làm Hậu thần Có ghi rõ

Trang 25

vị trí các thửa ruộng tiến cúng.

Phật thỉên/Tháp thiền/Tự kính/Đài tiền

Ỷ Jb fit Kí hiệu: 18033/18034/18035/18036Thác bản bia xã Chân Hộ huyện Yên Phong phủ Từ Sơn & iỉế&tịÉH, sưu tầm ờ chùa Long Tháp xã Lạc Trung tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bàn 4 mặt, khổ 15 X 100 cm, gồm 22 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 400 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Chính Hòa thứ 16 (1695)

Người soạn: họ Ngô chức vị: Tri huyện huyện Lương Tài

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội dung:

Ông Ngô Tiến Đa người xã Chân Hộ huyện Yên Phong phủ Từ Sơn cùng các thiệnnam tín nữ trong xà đã tiến cúng tiền của để xây dựng một cột thiên đài tại chùaLong Tháp Nay khẳc họ và tên chư vị hội chủ, những người tiến cúng tiền của vàocột đá để ca ngợi công đức của họ và lưu truyền mãi mãi

Tiền tháp thiền tự

Kí hiệu: 18037Thác bản bia xã Hộ Trung huyện Yên Phong phủ Từ Sơn

Ỳ ì£, sưu tầm ờ chùa Tiền Tháp xã Lạc Trung tổng Dũng Liệt huyện YênPhong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 1 mặt, khổ 38 X 63 cm, gồm 18 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 250 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: không ghi

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội dung:

Các quan viên hương lão trong xã Hộ Trung đã tiến cúng tiền của để xây dựng trùng

tu chùa Tiền Tháp Vào nãm Ất Mùi đã xây dựng gác chuông, đến năm Đinh Dậu

tu tạo tiền đường, đến năm Tân Sửu lại xây thềm đá Nay lập bia ghi lại việc này,ghi họ và tên chư vị hưng công hội chủ, những người đã tiến cúng tiền của để cangợi công đức của họ

Trang 26

[Vô đề]

Kí hiệu: 18038/18039 Thácbản bia sưu tầm ở chùa Tiền Tháp xã Lạc Trung tổng Dũng Liệt huyện Yên Phongphủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 2 mặt, khổ 60 X 74 cm, gồm 39 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 700 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Vĩnh Thịnh thứ 1 (1705)

Người soạn: Ngô Năng ; học vị: Quốc tử giám, Giám sinh

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội đung:

Chùa Tiền Tháp ờ xã Lạc Trung xây dựng chưa được bao lâu, rất là đẹp đẽ hoàn hảo nhưng điều đáng lo là tiền án làm bằng gồ đã trang sức bằng vàng ngọc, nhưng gỗ lâungày sẽ bị mối mọt Sư trụ trì tại chùa muốn làm tiền án bằng đá xanh để được vững bền mãi mãi nên đã quyên góp tiền bạc của các thiện nam tín nữ để làm Nay công việc đã hoàn thành bèn làm bài ký ghi lại việc này, ghi họ và tên chư vị hội chủ, gồm

có ông Đào Đức Tài, Ngô Khẳc Minh và bà Ngô Thị Hỗ, v.v

Tam bảo/Hưng sùng/Hương đài/Nhất trụ

& Kíhiệu: 18040/18041/18042/18043Thác bản bia sưu tầm ở chùa Khúc Giang xã Lạc Trung tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 4 mặt, khổ 20 X 100 cm, gồm 20 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 700 chữ có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Canh Ngọ

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội dung:

Các thiện nam tín nữ đã tiến cúng tiền bạc để xây dựng cột hương cho chùa KhúcGiang ở xã Lạc Trung Nay lập bia để ghi lại việc này, ghi họ và tên chư vị đã tiếncúng tiền của Gồm có ông Trần Khánh Đương và vợ là bà Đào Thị Nghĩa, ôngĐương Vãn Thuận và vợ vợ là bà Trần Thị Tịnh, V.v

Trang 27

Hậu phật bi ký

Kí hiệu: 18044Thác bản bia xã Hộ Trung huyện Yên Phong phủ Từ Sơn đạo Kinh B ắc nước ĐạiViệt ỄỊ 3b ìt Ổ' iL ® Ỳ ìi, sưu tầm ở

chùa Khúc Giang xã Lạc Trung tổng Dũng Liệt huyện Yên Phong phủ Từ Sơn tỉnhBắc Ninh

Thác bản 1 mặt, khổ 36 X 65 cm, gồm 13 dòng chừ Hán, có chữ Nôm,

toàn văn ước khoảng 200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 39 (1778)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Vợ chồng ông Ngô Hạo tự là Hải Đường người xã Lạc Trung đã cúng 6 quan tiền và

3 sào ruộng để xin làm Hậu phật Quan viên, dân làng đã thuận tình, ghi quy định

rõ vào ngày giỗ hàng năm sẽ sắm sửa lễ vật cúng giỗ

Sáng lập thạch hương án chỉ tỉền/Cung thỉnh thập phương chư phật hộỉ

Kí hiệu: 18045/18046Thác bản bia sưu tầm ở chùa Khúc Giang xã Lạc Trung tổng Dũng Liệt huyện YênPhong phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Thác bản 2 mặt, khổ 60 x 75 cm, gồm 42 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 900 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707)

Người soạn: Vương Tiến Tài XìỀMt; học vị: Sinh đồ

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội dung:

Dân làng Lạc Trung tổng Dũng Liệt cùng với khách thập phương đã quyên góp tiềnbạc để làm tượng phật và hương án bằng đá Nay công việc đã hoàn thành bèndựng bia để ghi lại việc này và ca ngợi công đức chư vị hưng công hội chủ, thiệntín quyên góp tiền của

Trang 28

[Vô đề]

Kí hiệu: 18047Thác bản bia sưu tầm ở xã Lạc Trung tổng Dũng Liệt huyện Yên

Phong phủ Từ Sơn

Thác bản ỉ mặt, khổ ỉ 10 X 100 cm, chữ Hán, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: không ghi

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội dung:

Hương án bằng đá, có chạm hoa lá hình thú không có chữ

Dần giáp bỉ ký/Lini truyền vĩnh thế

Kí hiệu: 18048/18049Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Hàm Giang huyện cẩm Giàng tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 50 X 110 cm, gồm 17 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ướckhoảng 500 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 9(1915)

Người soạn: Thẩm Lý Thản chức: Đốc học Hải Dương

Chủ đề: - Sự tích, thần phả

Tóm lược nội dung:

Đinh đại vương có công dẹp giặc, nổi danh khắp thiên hạ, được phong là phúc thầncủa bản xã, vạn đời cúng tế Làng xã đã để ra một số ruộng để lấy tiền hoa lợi cúng

tế hàng năm Nay làm bài ký ca ngợi công đức của Đinh đại vương, ghi rõ số ruộng

để lo việc cúng tế và nghi lễ cúng tế hàng năm

Mão giáp bi ký/Điều lệ các tiết

Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Hàm Giang huyện cẩm Giàng tỉnh Hài Dương

Thác bàn 2 mặt, khổ 48 X 110 cm, gồm 30 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ưởckhoảng 700 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 9 (1915)

Người soạn: không ghi

Trang 29

Chủ đề: - Sinh hoạt làng xã.

Tóm lược nội dung.

Bia ghi điều lệ cúng tế Thành hoàng vào các tiết trong năm Vào ngày mồng 1 tháng 3hàng năm, dân làng sắm lễ vật gồm xôi gà mỗi thứ 1 cân, trầu cau mỗi thứ 100miếng, rượu 1 chai Vào ngày mùng 8 tháng 3, thì chuẩn bị 1 mâm cơm chay 20cái bánh chay v.v

Lưu truyền hậu thế tế tự

Kí hiệu: 18052 Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Hàm Giang huyện cầm Giàng Hải Dương Thác bản 1 mặt, khổ 76 X 115 cm, gồm 28 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 500 chữ,

có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Canh Tý

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Bia ghi họ và tên chư vị cúng ruộng vào đình, để cúng tế Thành hoàng tại đình, nhữngngười này được đời đời phoi hưởng

Hậu thần bỉ ký

Kí hiệu: 18053 Thácbản bia xã Hàm Giang huyện cẩm Giàng phủ Bình Giang -f - /X sưu tầm ở đình xãHàm Giang tổng Hàm Giang huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 48 X 110 cm, gồm 30 dòng chữ Hán, có chữ Nôm,

toàn vãn ước khoảng 700 chừ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Gia Long thứ 18(1819)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội đung'.

Đinh tướng công là một danh tướng thời nhà Lê, là hậu duệ của Đinh đại vương cóngười con gái trường là Thị Nhạn và người con gái thứ là Thị Hợi đã tiến cúng 450quan tiền và 2 mẫu ruộng để giúp dân làng tu bổ lại đình Quan viên, dân làng đã

Trang 30

bầu vợ chồng Đinh tướng công làm Hậu thần, ghi rõ họ và tên ngày giỗ của vợchồng Đinh tướng công, nghi lễ cúng giỗ hàng năm.

Hậu thần bỉ ký/Khoán văn điền tế ỉưu truyền

Kíhiệu: 18054/18055Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Hàm Giang tổng Hàm Giang huyện Cẩm Giàng HảiDương

Thác bản 2 mặt, khổ 55 X 120 cm, gồm 26 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 900 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Tự Đức thứ 8 (1855)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Đinh tướng quân tên tự là Vãn Bảo, đã tiến cúng tiền và ruộng để giúp dân làng chidùng vào việc công Dân làng đã bầu vợ chồng ông làm Hậu thần Ghi họ và tên,ngày giỗ của vợ chồng ông, nghi lễ cúng giỗ hàng năm Bia nguyên được lập vàonăm Vĩnh Hựu thứ 5 (1680), nhưng do bị vỡ nên đã khắc lại vào năm Tự Đửc thử 8(1855) Họ tộc đã tận mắt xem thấy bia mới này nên khắc đúng theo như bia cũ

Quý giáp bi ký/Các tiết tế tự

Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Hàm Giang huyện cẩm Giàng tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 43 X 100 cm, gồm 36 dòng chữ Hán, có chừ Nôm, toàn văn ước khoảng 800 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thử 9 (1915)

Người soạn: Đinh Văn Tương T Ẳ.40 ■

Chủ đề: - Sinh hoạt làng xã

Tóm lược nội đung:

Dân giáp Quý xã Hàm Giang đồng tâm hiệp lực góp tiền của để mua ruộng làm ruộngcúng tế Hàng năm vào mùa xuân sau khi cầu phúc, bản giáp lại chọn ngày lànhcúng té tiên tổ để bày tỏ lòng thành kính ngưỡng Nay lập bia để ghi lại các lễ cúng

tế và nghi lễ cúng tể của các lễ Có ghi rõ số mẫu sào thước tấc và vị trí của cácthửa ruộng cúng te Vào ngày tế tổ người nào đến lượt thì phải sắm sửa gà 2 cân,xôi 2 cân, rượu 3 bình, trầu cau 150 miếng và đường trà đủ dùng Tế xong những

Trang 31

người trong giáp có mặt tại đó chia nhau hưởng lộc, V V

Đương kim trọng tướng/Công danh sự nghỉệp/Công thần điền tư thổ/

Bi minh ký lưu truyền

Kíhiệu: 18058/18059/18060/18061Thác bản bia sưu tầm ở đình xã Hàm Giang huyện cẩm Giàng tỉnh Hải Dương

Thác bản 4 mặt, khổ 75 X 125 cm, gồm 98 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 2000 chữ, có hoa văn, có chữ húy

Niên đại: Vĩnh Trị thứ 2 (1677)

Người soạn: Trương Quang Tiền ; học vị: Tiến sĩ

Chủ đề: - Hành trạng, công tích nhân vật

- Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Bia ca ngợi tài năng đức độ của Đinh Văn Tà, một võ tướng triều Lê

Ông có công lao đánh dẹp, được nhà vua phong chức Phụ quốc Thượng tướngquân, tước Lộc quận công Nhà vua lại ban thưởng cho ông lộc điền, để đời đờiđược hưởng quốc lộc Bia còn ghi rõ tiểu sử cùa ông, ông sinh được trưởng nam làĐinh Văn Vĩ được tập ấm vinh hiển của cha được gia phong tước Hiển Nghĩa hậu,con gái trưởng là Đinh Thị Ngọc Phương Có bài minh

Hàm Giang tổng các xã hộ nhỉ dân lập thạch lưu truyền/Phụng sự vi bản thổ Đại vương Công chứa tam vị đại đại

Kí hiệu: 18063/18064Thác bản bia sưu tầm ở ngoài đồng xã Hàm Giang huyện cẩm Giàng tình Hải Dương.Thác bàn 2 mặt, khổ 80 X 105 cm, gồm 51 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ướckhoảng 1000 chữ, có hoa văn, có chữ húy

Niên đại: Chính Hòa thứ 3 (1682)

Người soạn: không ghi

Trang 32

Chủ đề: - Sự tích, thần phả.

Tóm lược nội dung:

Bia ghi lại sự tích công ừạng của ba vị Trung đẳng thần được thờ làm Thành hoàng ởtổng Hàm Giang, đó là: Trung đẳng đương cảnh Thành hoàng, Chiêu huệ bảo quốcvĩnh thế an dân đại vương, Trung đẳng đương cảnh Thành hoàng kim chi tiên phái,thuần mỹ cẩn tiết công chúa và Trung đẳng đương cảnh Thành hoàng, thiện khánhtiên hoa huy trang diễm lệ công chúa Ba vị này do có công với đất nước nên đãđược triều đình phong làm Trung đẳng thần và triều đình cho các xã ưong tổngHàm Giang làm dân hộ nhi được miễn sai dịch để quanh năm lo việc thờ cúng

Niên đại: Cảnh Trị thứ 1 (1663)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Hành trạng, công tích nhân vật

Tóm lược nội dung:

Ông Đinh Văn Tả là người có nhiều công lao với dân với nước, ông đã cúng cho xã

37 mẫu ruộng và 2916 quan tiền đồng, để xã chi dùng vào việc công Quan viên,dân xã lại được phê chuẩn làm dân hộ nhi hàng năm lo việc cúng giỗ ông tại đình

Có bài minh

Ghi chú: Bia mất 1 góc, nên mất một số chữ của 3 dòng đầu.

Trọng tướng bi minh/Lưu truyền phụng sự

Kí hiệu: 18067/18068 Thác bản bia sưu tầm ờ ngoài đồng xã Hàm Giang tổng Hàm

Giang huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương.Thác bản 2 mặt, khổ 70 X 120 cm, gồm 53 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 1200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Trị thứ 1 (1663)

Trang 33

Người soạn: họ Nguyễn 1%; học vị: Tiến sĩ khoa Ất Mùi; chức vị:

Vinh lộc đại phu, Thượng thư Bộ Công

Chủ đề: - Hành trạng, công tích nhân vật

Tóm lược nội dung:

Trọng tướng Lộc Quận công Đinh Vân Tả là công thần nhà Lê, có nhiều công laođánh dẹp được triều đình ban tặng lộc điền, ông đã cùng vợ là bà Phạm Thị NgọcHiền đã cúng cho các xã mấy nghìn quan tiền, mấy chục mẫu ruộng để xây đình.Quan viên, dân làng đã thở cúng ông ở ữong đình, vạn đời hương khói Nay làm bài

ký thuật lại công trạng sự nghiệp, ca ngợi công đức của ông, khắc vào bia đá để lưutruyền

Ghi chú: Thác bản mờ.

Lưu truyền tự bỉ/Đại vương tự vị

Kí hiệu: 18069/18070Thác bản bia sưu tầm ở ngoài đồng xã Hàm Giang tồng Hàm Giang huyện CẩmGiàng tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 42 x 100 cm, gồm 22 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ướckhoảng 500 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Trị thứ 1 (1663)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Sinh hoạt làng xã

Tóm lược nội dung:

Các xã được ban làm dân hộ nhi, hàng năm chăm lo việc thờ cúng các vị đại vương,

đã được nhà nước ban cấp tiền và ruộng Có ghi tên hiệu của các vị đại vương và sốtiền số ruộng được ban cẩp Gồm có Vĩnh Thế đại vương dân bản quán làm dân hộnhi được ban cho 150 quan tiền, 5 mẫu ruộng và 1 ngôi đình lợp ngói An Quốc đạivương dân bản quán làm dân hộ nhi được ban cho 50 quan tiền và 2 mẫu 5 sàoruộng, v.v

[Vố đề]

Kí hiệu: 18071 Thác bản bia sưu tầm ở đền Vĩnh Quốc công phố Sinh Từ, Hà Thành Thác bàn 1 mặt, khổ

40 X 83 cm, gồm 7 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 90 chữ, không có hoa văn,

Trang 34

không có chữ húy.

Niên đại: Khài Định thử 3 (1918) Người soạn: Nguyễn Hoằng Tông Chủ đề: - Thơ vãn

Tóm lược nội dung:

Nhà vua đến thăm sinh từ của Vĩnh Quốc đã làm bài thơ để bày tỏ nỗi lòng của mìnhđối với Vĩnh Quốc công và cho khắc bia để kỷ niệm

[Vô đề]

Kí hiệu: 18072Thác bản bia sưu tầm ở đền thờ Vĩnh Quốc công phố Sinh Từ, Hà Thành

Thác bản 1 mặt, khổ 115 X 200 cm, gồm 23 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 500chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Kiến Phúc thứ 1 (1883)

Người soạn: Nguyễn Tư Giản R,, hiệu: Thạch Nông học vị: Tiến sĩ; chức vị: Thượngthư Bộ Lại

Chủ đề: - Hành trạng, công tích nhân vật

Tóm lược nội dung:

Vĩnh Quốc công tức Nguyễn Tống Khê, Nguyễn Hữu Độ là Khâm sai Bắc Kỳ kinhlược đại sứ làm Đốc bộ đường Hà Ninh, là bậc lương đống của triều đình có rất nhiềucông lao trong việc ổn định trật tự, chăm lo đời sống cho dân chúng Bắc Kỳ và điềuđình đối phó với quân Pháp, đã được dân chúng rất kính phục nên đã lập sinh từ đểcúng tế Bài ký ca ngợi công lao đức độ của Vĩnh Quốc công và khắc vào bia đá dựng

ở đền thờ Vĩnh Quôc công

Dực vận công thần phổ lại công bi

Kí hiệu: 18073Thác bản bia sưu tầm ở đền thờ Vĩnh Quốc công phố Sinh Từ, Hà Thành

Thác bản 1 mặt, khổ 110 X 165 cm, gồm 24 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 500 chừ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Đồng Khánh thứ 3 (1888)

Người soạn: Dương Quang chức vị: Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ

Chủ đề: - Hành trạng, công tích nhân vật

Tóm lược nội dung:

Nguyễn Hữu Lang là con trai của Vĩnh Lại Quận công Nguyễn Tống Khê Khi giặcPháp xâm chiếm nước ta ông được giao trọng ưách trấn giữ thành Hà Nội, đã hết

Trang 35

lòng chinh đốn binh sĩ, vồ về dân chúng, giữ yên thành trì Triều đình đã đánh giácao công lao của ông, phong ông làm Tổng đốc thành Hà Nội nhưng ông khôngnhận Ông mất vào năm 29 tuổi, thân sĩ Bắc Hà đã lập bia ca ngợi công lao của ông

và dựng đền Vĩnh Quốc công để thờ cúng

[Vô đề]

Kí hiệu: 18074 Thác bản bia sưu tầm ở đền thờ Vĩnh Quốc công phố Sinh Từ, Hà Thành Thác bàn 1 mặt, khổ 110 X 175 cm, gồm 20 dòng chữ Hán, toàn vãn ước khoảng 500 chữ, có hoa vãn,không có chữ húy

Niên đại: Kiến Phúc thứ 1 (1883)

Người soạn: Nguyễn Đức Đạt học vị: đỗ Thám hoa khoa

Quý Sửu (1853); chức vị: Tuần phủ Hưng Yên

Chủ đề: - Hành trạng, công tích nhân vật

Tóm lược nội dung:

Vĩnh Lại Quận công Nguyễn Hữu Độ là bậc lương đống của triều đình, xưa kia do có nhiều công lao trong việc đánh dẹp đà được phong làm Đồng Tri phủ, sung Biện quân vụ, lại quyền Tiễu phủ sứ Khi giặc Pháp gây hấn ông được phong làm Khâm sai đại thần đến thương thuyết với Pháp Do có nhiều công lao với đất nước, với dân chúng nên được mọi người lập sinh từ để thờ cúng Khi ông chêt các nhân sĩ Băc Hà đã lập bia ca ngợi công lao đức độ của ông và dựng tại sinh từ

Kỉ niệm bỉ ký

Kí hiệu: 18075Thác bản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành

Thác bản 1 mặt, khổ 45 X 84 cm, gồm 16 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ướckhoảng 300 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 2 (1908)

Người soạn: hiệu Thanh Hải

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Trang 36

Tóm lược nội dung‘.

Chùa Quang Minh ở phố Sinh Từ, Hà Nội được nhà sư Hòa Lạc sửa sang tu bổ vôcùng đẹp đẽ Đệ tử của ông là Tỳ khưu Thanh Hải kế nghiệp từ năm Đinh Mùi đếnnăm Mậu Thân đã trùng tu chùa phật, đến nám Ất Mão lại tu tạo tổ đường đúctượng phật Cừu Long, v.v Nay nhớ ơn sư Hòa Lạc, quan viên và dân làng đã lậpbia kỉ niệm ghi rõ ngày giỗ của nhà sư và ông bà cha mẹ sư Thanh Hải để hàngnăm cúng giỗ

Hậu phật bi ký

Kí hiệu: 18076 Thác bản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành Thác bản 1 mặt, khổ 38

X 53 cm, gồm 15 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 300 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 2 (1908)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Bà Nguyễn Thị Phú và Nguyền Thị Phúc đã cúng vào chùa 150 đồng để chùa chidùng vào việc hương khói Dân làng đã cho họ hàng thân tộc của họ được gửi giỗtại chùa Hàng nãm vào 3 ngày giỗ nhà chùa sẽ sắm sửa cỗ chay, hoa quả cúng giỗtại chùa Có ghi rõ họ tên ngày giồ của những người được gửi giỗ tại chùa

Hậu kỵ bi ký

Kí hiệu: 18077 Thác bản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành Thác bản 1 mặt, khổ 38

X 61 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 300 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 2 (1908)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bậu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Trang 37

Tóm lược nội dung:

Các bà Bùi Thị Kiên, Bùi Thị Lỗi, Bùi Thị Thần ờ số nhà 98 phố Thợ Nhuộm đã cúnglên chùa 200 đồng để chùa chi dùng vào việc hương khói Quan viên, dân làngđồng ý để bố mẹ họ được gừi giỗ tại chùa Có ghi họ và tên, ngày giồ của chư vịđược gửi giỗ

Lập bỉ hậu ky

Kí hiệu: 18078 Thác bản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phổ Sinh Từ, Hà Thành Thác bản 1 mặt, khổ 37

X 54 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 300 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 3 (1909)

Người soạn: không ghi

Chù đề: - Bậu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Tín chủ Lê Thị Bản ở số nhà 2 phố Hàng Bông đã cúng cho chùa Quang Minh đểchùa làm việc phúc, đến ngày giỗ sẽ sắm sửa co chay, trước hết là cúng tam bảo,thứ đến là cúng trước bia để hương hỏa 100 năm được vĩnh truyền Quan viên, dânlàng đồng ý để bà và ông bà cha mẹ của bà được gửi giỗ tại chùa, ghi rõ họ và tên,ngày giỗ của từng người

Hậu ky bỉ ký

Thác bản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành Thác bản 1 mặt, khổ 38 X 53 cm, gồm 20 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 400 chữ,

có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 2 (1908)

Người soạn: không ghi

Chủ để: - Bậu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Ông Trần Đình Túc và vợ là Mai Thị Chính ở phố Hàng Bạc, Hà Nội đã cúng vàochùa Quang Minh để chùa chi dùng vào việc hương khói và xin gửi giỗ cho tiên

tổ Quan viên, dân làng đã thuận tình, cho lập bia dựng tại nhà, ghi họ tên ngày giỗ

Trang 38

của từng người được gửi giỗ Hàng năm vào ngày giỗ nhà chùa sẽ sắm sửa cồchay, hoa quả cúng giỗ để linh hồn dưới tuyền đài luôn luôn được nương nhờ vàocửa Phật.

Hậu phật bỉ ký

Kí hiệu: 18080 Thácbản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành

Thác bản 1 mặt, khổ 40 X 60 cm, gồm 15 dòng chừ Hán, có chừ Nôm, toàn văn ước khoảng 300 chữ, có hoa văn, không có chừ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 4 (1910)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung.

Bà Nguyễn Thị Huệ ở phường Bạch Mai tổng Kim Liên Hà Nội đã cúng tiền vàochùa Quang Minh để chùa chi dùng vào việc công Quan viên, dân làng đồng đểgia tiên của bà được gửi giỗ tại chùa Bia ghi rõ họ và tên, ngày giỗ của chư vịđược gửi giỗ

Tạo tự bi ký

Kí hiệu: 18081Thác bản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành

Thác bản 1 mặt, khổ 42 X 80 cm, gồm 20 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 400 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 2 (1908)

Người soạn: Nguyền Đức Vịnh ỊỈMẳtK

Chù đề: - Bậu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung-.

Vào năm Quý Mão có phu nhân họ Phan và họ Hoàng là thứ nhất của Tổng đốc HàNinh đã tiến cúng tiền bạc để xây chùa Vào năm Mậu Thân phu nhân họ Hoàng lạicúng tiền để trùng tu chùa Quan viên, dân làng thuận tình bầu hai bà và gia tiênlàm Hậu thần, nay lập bia để ca ngợi công đức, ghi họ và tên, ngày giỗ cùa chư vịđược bầu Hậu

Trang 39

Hậu phật bi ký

Kí hiệu: 18082 Thác bàn bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành

Thác bản 1 mặt, khổ 42 X 62 cm, gồm 18 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 400 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 2 (1908)

Người soạn: Nguyễn Đức Vịnh

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Chùa Quang Minh được xây dựng vào năm Quý TỊ niên hiệu Thành Thái Người tiếncúng tiền bạc để xây dựng là hai phu nhấn họ Hoàng họ Phạm của tồng đốc HàNinh nhưng đất vườn của chùa này là do sư trụ trì Hòa Lạc cúng Quan viên, dânlàng nhớ ơn công đức của nhà sư Hòa Lạc đã lập bia ghi rõ việc này và ghi lại họtên ngày giỗ của thiền sư và gia tiên của thiền sư để hàng năm cúng giỗ

Hậu ky bi ký

Thác bản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành Thác bản 1 mặt, khổ 37 X 60 cm, gồm 16 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ước khoảng 250 chữ,

có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Duy Tân thứ 2 (1908)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Các nhà hảo tâm ở Hà Nội đã tiến cúng tiền của để giúp chùa Quang Minh chi dùngvào việc hương khói, dân làng đã thuận tình cho gia tiên của họ được gửi giỗ tạichùa Ghi họ và tên, ngày giỗ của chư vị được gửi giỗ

Hậu phật bỉ ký

Kí hiệu: 18084 Thácbản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành

Thác bản 1 mặt, khổ 35 X 60 cm, gồm 13 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn vãn ước

Trang 40

khoảng 120 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.

Niên đại: Bào Đại thứ 16 (1941)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung-.

Bà Lê Thị Thục ở phố Đông Môn châu Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn và bà ĐỒ Thị Bẩy ởphố Hàng Cá, Hà Nội đã cúng tiền lên chùa để chùa chi dùng vào việc hương khói.Quan viên, dân làng đồng ý để gia tiên của hai bà được gửi giỗ tại chùa Ghi họ vàtên, ngày giỗ của chư vị được gửi giỗ

Quang Minh tự Hậu

Thác bản bia sưu tầm ở chùa Quang Minh phố Sinh Từ, Hà Thành Thác bản 1 mặt, khổ 38 X 60 cm, gồm 5 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ước khoảng 120 chữ,

có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Bảo Đại thứ 15 (1940)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Bà Nguyễn Thị Tư ở phố Hàng Vải, Hà Nội đã cúng cho chùa Quang Minh 100 đồng

để tạo thành phúc quả Quan viên, dân làng đồng ý để bố mẹ của bà được gửi giỗtại chùa Ghi họ và tên, ngày giỗ của chư vị được gửi giỗ

Ký kỵ bi ký

Kí hiệu: 18086 Thácbản bia sưu tầm ở đình phố Lương Sử, Hà Thành

Thác bản 1 mặt, khổ 43 X 63 cm, gồm 17 dòng chữ Hán, có chữ Nôm, toàn văn ướckhoảng 300 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Bảo Đại thử 3 (1928)

Người soạn: Trương Du OLift

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Ngày đăng: 04/12/2022, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w