Thư mục thác bản văn khắc hán nôm việt nam tập 9 TMVKHN 925 Viện Khảo cửu cao cẫp Pháp Vietnamica Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Viện Nghiên cứu Hán Nôm IX THƯ MỤC THÁC BẢN VĂN KHẮC HÁN NÔM VIỆT NAM CATALOGUE DES INSCRIPTIONS DU VIỆT NAM C.
Trang 1Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
IX THƯ MỤC THÁC
BẢN VĂN KHẮC HÁN NÔM VIỆT NAM
CATALOGUE DES INSCRIPTIONS
DU VIỆT-NAM
CATALOGUE OF VIETNAMESE INSCRIPTIONS
Trang 2Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Trang 3Ẽcote Pratique
deaHaufM ítudes
fleen ce
UniUtiSITRIB
f
DElflfgftflCOffl Onit
This project has received funding from the European Research Council (ERC) under the European Unions Horizon 2020 research and innovation
programme (grant agreement No 833933 - VIETNAMICA) I
Trang 4Biên mục trẽn xuất bản phẩm của Thư vỉện Quốc gia Việt Nam
Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam = Catalogue des inscriptions du Việt Nam = Catalogue of Vietnamese inscriptions / Trịnh Khắc Mạnh (ch.b.), Vũ Lan Anh, Nguyễn Hữu Mùi - H : Khoa học xã hội - 24cm
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Viện Nghiên cứu Hán Nôm École pratique des Hautes Études
Vietnammica
THƯMỤC THÁC BẢN VĂN KHÁC HÁN NÔM VIỆT NAM
Catalogue des inscriptions du Việt-Nam Catalogue of Vietnamese Inscriptions
(Tập IX: N° 16.001 -18.001)
Ban chỉ đạo công trình - Comiié dừecteur - Scientific Committee
Trịnh Khắc Mạnh, Nguyền Vãn Nguyên, Philippe Papin
Chả biên - Édừeur - Editor
Trịnh Khắc Mạnh
Trang 5Ban thư ký - Secrétarỉat - Secretariat
Phạm Thị Vinh, Nguyễn Hữu Mùi, Vù Thị Mai Anh
Ban biên soạn • Comité de redaction - Authors
Lê Tuấn Anh, Vũ Lan Anh, Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Ngân, Nguyễn Vãn Nguyên, Đinh Khắc Thuân, Đào Thái Tôn, Phạm Thị Thùy Vinh
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
Hà Nội - 2020
Trang 6PHÀM LỆ
Thác bản văn khắc được biên thành từ mục theo từng đơn vị văn khắc (gọi tăt là "bia"), có nghĩa là mỗi rừ mục sẽ bao gồm từ l đến nhiều thác bàn liên quan với nhau của 1 tẩm bia.
Điều này căn cứ vào ghi chú cùa người sưu tầm trên thác bản và trong một số trường hợp
cá biệt có điều chinh lại cho hợp lí.
Các từ mục sắp xếp theo thứ tự tăng dần của kí hiệu thư viện Vì coi đây là một bộ phận của
hệ thống cơ sở dừ liệu văn khắc nên các từ mục đều được trình bày thống nhất theo quy
cách gồm các yếu tổ sau đây:
1. Tên mục: Ghi bằng chừ phiên âm Hán Việt và chữ Hán, chừ Nôm, lấy theo đoạn
câu chữ tiêu đề ưên ưán bia ờ từng mặt thác bản (nhùng câu chữ này nói chung cũng không hẳn mang tính chất tiêu đề), hoặc nhan đề ở dòng đầu văn khắc, kèm theo kí hiệu thư viện của chúng Tiêu đề và kí hiệu thư viện cùa các thác bàn được tách biệt nhau bằng dấu gạch chéo (/) Vì trên văn bản văn khắc vốn không có quy định về thứ tự của các mặt khác nhau nên khi trình bày tiêu đề này chúng tôi cố gắng sắp xếp theo ý nghĩa tương đối cùa nội dung chứ không căn cứ theo thứ tự kí hiệu thư viện Trường họp thác bản không có tiêu đề thì ghi [Vô đề].
2. Địa điểm xuất xứ: Phân biệt rố địa danh dựng bia và địa danh sưu tầm thác bản.
Địa danh của bia nhàm cung cấp một hệ thống địa danh cổ vào thời gian hình thành văn khắc được ghi trong nội dung vãn bàn, nên được ghi băng phiên âm Hán Việt kèm theo chữ Hán Nôm tương ứng Địa danh sưu tầm là tên địa điểm sưu tầm thác bàn được người sưu tầm căn cứ vào tên gọi địa phương ở thời điểm sưu tầm mà ghi chú ở bên lề thác bản.
3. Thông tin về hình thức của thác bản: bao gồm kích thước thác bàn (chiều ngang X
chiều cao, đơn vị tính là cm), loại vãn tự (chữ Hán, chữ Nôm), sổ dòng, số chừ ước lượng, trang trí hoa vãn và sự xuất hiện chừ kiêng húy (kèm hình chữ nếu có).
4. Niên đại văn khác: Ghi tên niên hiệu, năm thứ (hoặc năm can chi) đề trên văn bàn
kèm năm dương lịch qui đổi Trường hợp trong văn khắc không có niên đại thì ghi rõ là
“không ghi”; hoặc trong trường hợp niên đại không rõ ràng hoặc có nghi vấn thì có thể căn
cứ vào thông tin trong nội dung vãn khắc mà đưa ra một niên đại ưởc đoán.
5. Thông tin về người tham gia xây dựng văn bản: Chù yếu là người soạn, người
nhuận sắc, người viết chừ và người khắc Chú Ưọng thể hiện những thông tin liên quan về
họ và tên (có kèm chữ Hán), tên tự, tên hiệu, quê quán, học vị, chức vị, tước hiệu Trường
Trang 7hợp tên người không ghi rõ Ưên văn bàn nhưng nếu có thể tra cứu ra được thì ghi trong ngoặc vuông ([ ]).
6. Phần loại chủ đề: Phân loại theo 10 loại chủ đề chính do công trình tạm thời đặt
ra, nhằm cung cấp những từ khóa chủ yếu về nội dung văn khắc để ƯỢ giúp độc già nhanh chóng nắm bắt và tìm kiếm thồng tin nội dung, đồng thời nhằm chuẩn bị cho việc truy cập
Ưa cứu vào hệ thống cơ sở dữ liệu văn khắc sẽ được xây dựng sau này.
7. Nộỉ dung văn khắc: Trình bày tóm lược nội dung của văn bản, cố gắng nêu bật
được sự kiện chủ yểu, kèm theo những thông tin về thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc ý nghĩa chính yếu của văn khẳc.
8. Ghi chú cẩn thiết về thác bản như: những đặc điểm đặc biệt, nghi vấn về niên đại
ngụy tạo, kí hiệu của thác bản trùng bàn hoặc thác bản liên quan.
Vì số lượng thác bản đã và đang sưu tầm rất lớn, nên bộ Thư mục thác bản văn khẳc Hán
Nôm Việt Nam sẽ chia thành nhiều tập, mỗi tập bao gồm sổ lượng thác bàn đều nhau là
2.000 kí hiệu nhằm thuận tiện cho độc giả tìm chọn Ưa cứu Đẻ nhanh chóng đưa công trình tới tay bạn đọc, chúng tôi sẽ lần lượt xuất bàn từng tập sau khi biên soạn xong, và như vậy phần sách dẩn Ưa cứu thông tin của toàn bộ kho thác bàn sẽ chỉ được tổng hợp và công
bố sau khi đã xuất bản tập Thư mục cuối cùng.
Ban biên soạn
Trang 8Ce catalogue, tout comme le corpus des inscriptions originales que nous avons déjà commencé de publier, est fondé sur la collection des estampages conservés à 1’ĩnstitut de Recherches Hán-Nơm, ó chaque estampage possède sa propre cote numérique ưne cote renvoie done à une feuille estampée, et à une seule Quand la stèle ne possèđe qu’une face, son estampage correspond à la totalité de 1’inscription Mais, quand elle en possède plusieurs, y compris ses tranches, alors rinscription complète comporte évidemment autant d’estampages que de faces Ce catalogue, qui s’intéresse au contenu plus qu’à la forme, repose dès lors sur le principe qu’à une entrée correspond rintégralité de 1’inscription, c’est-à-dire un OU plusieurs estampages du monument entier (stèle OU cloche) C’est la raison pour laquelle les entrées - classées dans 1’ordre numérique qui est celui de leurs cotes à la bibliothèque de rinstitut - comprennent tantơt une cote, tantơt plusieurs.
Le contenu des entrées du catalogue, qui servira à 1’établissement de la base de données iníormatisée des inscriptions du Việt-Nam, repose sur quelques principes de présentation qui sont systématiques et unifies.
1 - Le titre Le titre de rinscription apparait d’abord dans sa transcription en vietnamien modeme, ensuite dans sa forme originale en caractères hán OU nơm Si
I’inscription compte plusieurs estampages, done la stèle plusieurs faces, alors nous indiquons aussi le titre de chacun d’eux (ils sont séparé par le signe “ / ”) Les cotes des estampages se trouvent en face des titres Bien qu’elle ne corresponde pas exactement à un
“titre” au sens ó nous 1’entendons aujourd’hui, e’est la première ligne, gravée au fronton
de la stèle, généralement en gros caractères, qui est utilisée dans cette rubrique, ou, en son absence, la première colonne du texte lui-même Lorsque les différentes faces d’une même stèle porte chacune un titre individuel, ces tiưes n’étant líés enưe eux par aucune logique de lecture qui puisse permettre de les classer, alors nous les citons dans 1’ordre qui est celui du contenu du texte lui-même, et non dans 1’ordre numérique des estampages Enfin, en rabsence de tiưe au fronton et si la première colonne du texte n’indique rien, alors 1’enưée
du catalogue apparaft sous la forme Sans litre (Vơ đề).
2 - La localisation Cette rubrique utilise deux systèmes de noms de lieux, 1’un et
Famre essentiels à la localisation du monument, mais qu’il importe de distinguer soigneusement : d’abord le lieu qui figure dans rinscription originale, ensuite celui Ó elle
a été estampée La première indication, que nous donnons en vietnamien et en caractères,
Trang 9est tirée du texte original et correspond au nom ancien de 1’endroit 0Ù a été érigée la stèle.
La seconde, quant à elle, provient directement de la note que les estam- peurs ont inscrite
en marge de 1’estampage Par consequent, pour ce qui conceme le fonds des estampages de 1’EFEO, ce sont les toponymes d’époque coloniale qui sont utilisés La combinaison des deux systèmes est indispensable pour localiser 1’inscription dans le Việt-Nam d’aujourd’hui.
3 - Les informations sur la forme Elies comprennent les dimensions de ỉa stèle (largeur X hauteur), la nature des caractères utilisés (hán, nôm), le nombre de coỉonnes du
texte, une approximation du nombre total de caractères, la presence OU non de motifs décoratiís, la présence ou non de caractères taboués (avec, s’ils existent, leur reproduction),
4 - La dotation de I’inscription Nous donnons d’abord les informations qui figurent
dans le texte original, à savoir, selon les cas, tout OU partie des dates exprimées selon le triple système du nom de 1’ère de règne impérial, de son numéro d’ordre et de son année sexagésimale Vient ensuite, entre parenthèse, sa conversion dans le calendrier actuel Dans
le cas 0Ù 1’inscription n’est pas datée, nous le signalons par une mention expỉicite (không
ghi) et foumissons, quand la chose est possible, une date approximative qui est tirée de r
étude philologique du texte lui-même.
5 - Les auteurs de I’inscription Il s’agit, selon les cas, du rédacteur, du correcteur, du
calligraphe OU du graveur de r inscription Nous indiquons, en vietnamien et en caractères, leurs noms d’usage, pseudonymes, noms de plume, village d’origine, dipỉômes, titres et fonctions Sì ces précisions sont tirées de noưe enquête, et non du texte original, alors nous les écrivons entre crochets ([ ]).
6 - Le sụịet généraỉ de I’inscription Il est indiqué par une OU plusieurs des dix
nomenclatures, équivalentes à des mots-clés, que nous avons retenues pour 1’ensemble du catalogue Cette indication, qui a pour but de permettre au lecteur une sélection rapide des inscriptions, est un élément essentiel de la future base de données informatique qui viendra clore ce programme.
7 - Le contenu de I’inscription Il s’agit d’un résumé qui tâche de faire saisir, en
quelques lignes qui reprennent et développent les informations principales du texte, ce que
le lecteur peut s’attendre àữouver dans 1’inscription.
8 - La note finale (ghi chu) Le cas échéant, cette note apporte des précisions
supplémentaứes sur certaines caractéristiques notables de I’inscription, sur la date réelle de
sa composition, sur les estampages qui en sont des doublons, OU encore sur les autres
Trang 10inscriptions qui ont partie liée avec elle.
Le volume considérable des estampages du Việt-Nam impose un catalogue en plusieurs tomes Cette première livraison en compte quatre, étant entendu que les suivants verront le jour peu à peu, à mesure de 1’avancée du travail de dépouillement Pour faciliter la recherche d’une réíérence, il est d’ores et déjà convenu que chaque tome contient exactement 2,000 inscriptions, dont les cotes extremes sont indiquées sur la tranche du livre Les index n’ont pas été oubliés Ils viendront naturellement faciliter la sélectìon d’inscriptions par lieux, dates, personnages, thèmes, etc, mais ils ne pourront paraỉtre, sous forme de tomes complémentaữes, qu’une fois achevée le catalogage de la totalité des inscriptions.
Le comité de rédaction
CONVENTIONS
This catalogue, like the corpus of original inscriptions of which publication is under way, is based on the collection of rubbings kept at the Institute of Hán-Nôm Studies, where each rubbing bears its own numerical reference number Each number refers to one rubbed sheet, and no more than one When a stele has only one side, one rubbing corresponds to the entire inscription But when the stele is inscribed on several sides, including its edges, the inscription may be read on as many rubbings as there are sides This catalogue, which pays as much attention to the document’s form as its content, works from the principle that
a single entry corresponds to the entire inscription, which may be represented on one or several rubbings of the entire monument (stele or bell) That is why the entries, which are listed in the numerical order of the index in the Institute’s library, sometimes includes a single reference number, sometimes several.
The content of the catalogue entries, which will serve for the establishment of a computer database of Vietnamese inscriptions, is based on several systematic and internally consistent principles of presentation.
1 - The Title The inscription’s title appears first in transcription into modem
Vietnamese, then in its original form in Han or Nom characters If the inscription covers more than one rubbing - more than one side of a stele - we indicate the number of each (separated by the sign ‘ / ’) The rubbing reference numbers appear opposite the titles.
Trang 11Although it does not correspond exactly to the idea of a ‘title’ in the sense we understand today, the first line of the inscription, generally in large characters engraved on the pediment of the stele, is used for this rubric; alternatively, in the absence of this line, the first column of characters in the text itself is used When the different sides of the same stele each bear their own title and these titles are not linked by any discernible logic allowing US to classify them, we cite them in the order of the text’s content, and not in the order of the rubbing’s reference numbers Finally, in the absence of a pediment title and if
nothing is indicated in the first column of the text, the catalogue entry bears the record No
title (VỔ de).
2 - Localisation This rubric uses two place name systems Both are essential to the
geographic localisation of the monument but they should be carefully distinguished They are the place mentioned in the original inscription, and the place where the rubbing was made The first name, given in Vietnamese and characters, is taken from the original text and coưesponds to the ancient name of the place where the stele was erected The second comes dừectly from the note made by the rubbing team in the margin of the rubbing As a result, for the EFEO collection of rubbings, colonial toponyms are used The combination
of both systems is indispensable for the localisation of the inscription in today’s Vietnam.
3 - The inscription’s form This is drawn from observations made on the rubbing and
includes its dimensions (width X height), die nature of the characters used (hán, nôm), the number of columns in the text, an estimate of the total number of characters, the presence
or otherwise of decorative motifs, the presence or otherwise of taboo characters (and their reproduction, if they exist).
4 - The inscription’s date We first provide the information figuring in the original
text, which may include all or part of the date expressed in the ancient triple dating system: imperial reign era name, year order number within that era and sexagesimal year name There follows, in brackets, the date’s conversion into today’s calendar When the
inscription is not dated, this is mentioned in an explicit note (không ghi) and we provide
-where possible - an approximate date based on a philological reading of the text itself.
5 ' The inscription’s authors These may include the writer, the corrector, the
calligrapher and the engraver of the inscription We indicate, in Vietnamese and characters,
their common names, pseudonyms, noms de plume, village of origin, diplomas, titles and
offices If these details are drawn from our own research, and not from die original text, they are placed between square brackets ([ ]).
Trang 126 - The inscription's general subject This is indicated under one or several headings,
equivalent to key words, used throughout the catalogue This note, allowing the reader to make a rapid selection of the inscriptions, is an essential element of the future computer database which will form the final stage of the programme.
7 - The inscription’s content This aims to offer, in a few lines summarising the most
important information in the text, a clear idea of what the reader may expect to find in the inscription.
8 - The final note (ghi chú) This note may contain further details of noteworthy
characteristics of the inscription, on the real date of its composition, on rubbings which are doubles, or on other inscriptions which may bear a relation with this one.
The great volume of Vietnamese rubbings requires a catalogue consisting of several volumes The first stage of publication Four volumes will be published in the first instance; others will follow gradually, as the work proceeds To facilitate the search for references, each volume will contain exactly 2,000 inscriptions, of which the first and last reference numbers are indicated on the spine of the book The indexes have not been forgotten They will naturally facilitate the selection of inscriptions by place name, date, person, theme, etc, but will be published in further volumes only after completion of the entire catalogue of inscriptions.
The Authors
[Vô đề]
Kí hiệu: 16001Thác bản bia sưu tầm tại đền Thánh Mẩu phố Xuân Hòa tỉnh Tuyên Quang.Thác bàn 1 mặt, khổ 45 X 79 cm, gồm 7 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng
130 chừ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Thành Thái năm Tân Sửu (1901)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Năm Giáp Thân phố bị nạn cháy, ngôi đền Thánh Mầu cũng bị hư hòng nặng.Hương trưởng Lý Quý Châu đã cúng tiền để dựng lại ngôi đền này Quan
Trang 13viên, dân phổ tôn bầu ồng Lý Quý Châu và vợ là bà Nguyễn Thị Vân,cùng bố mẹ đẻ (ông Lý Đức Thụy và bà Nguyễn Thị Viết) và bố mẹ vợ(ông Nguyền Văn Nhung và bà Nguyễn Thị Hòe) làm Hậu Ghi ngày giỗ
và khắc bài vị các Hậu
Xuân Hòa phố bi ký
Kí hiệu: 16002 Thác bản bia sưu tầm tại đền Thánh Mẩu phố Xuân Hòa tỉnh Tuyên Quang Thác bản 1 mặt, khổ 37 X 60 cm, gồm 10 dòng chừ Hán, toàn văn ước
khoảng 200 chừ, không có hoa vân, không có chữ húy
Niên đại: Thành Thái thứ 10 (1898)
Người soạn: không ghi Chù đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ngợi ca tấm gương những người làm việc thiện, sẽ được phúc đức về sau.Đền Thánh Mầu tu sửa nên chi phí rất lởn Bà Cao Thị Mùi cúng bạc 50nguyên và tiền 300 quan để chi phí xây dựng đền Nay lập bia ghi lại sự việc,định lệ cúng giồ Hậu mãi mài, quy định lễ phẩm vào ngày giỗ, như xôi, gà,cau, trầu, rượu, v.v
[Vô đề]
Kí hiệu: 16003
tầm tại đền Thánh Mầu phố Xuân Hòa tinh Tuyên Quang
Thác bàn 1 mặt, khổ 31 X 60 cm, gồm 11 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 250 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy
Niên đại: Duy Tân thứ 5 (1911)
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Trang 14[Vô đề]
Kí hiệu: 16004 Thác bản bia chùa Phúc Lâm phố Xuân Hòa huyện Hàm Yên
Lâm phố Xuân Hòa tinh Tuyên Quang
Thác bản 1 mặt, khổ 33 X 48 cm, gồm 10 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 200 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Duy Tân thứ 3 (1909)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội đung:
Dân phổ trùng tu chùa Phúc Lâm, chi phí rất lớn Bà Nguyễn Thị Nhu cúng
30 nguyên để tu sửa chùa và gửi giỗ cho bà cùng chồng bà Ghi bài vị vợchồng bà: ông họ Hoàng thụy là Đôn Giản, tự Khắc Đĩnh, giỗ ngày 6tháng 2 và bà họ Nguyễn húy Nhu, hiệu Diệu Hòa
[Vô đề]
Kí hiệu: 16005Thác bàn bia sưu tầm tại chùa Trùng Quang phố Xuân Hòa tinh Tuyên
Quang Thác bản 1 mặt, khổ 40 X 58 cm, gồm 13 dòng chừ Hán, toàn văn ước khoảng 200 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy
Niên đại: Bảo Đại thứ 14 (1939)
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Trang 15Tóm lược nội dung:
Ghi về việc bản phố tu sửa chùa Trùng Quang, chi phí rất lớn Bà Vũ ThịCấm hiệu Diệu Kim, nguyên quán xã Quàng Bị tồng Quảng BỊ huyệnChương Mĩ phủ Hoài Đức tinh Hà Đông, ngụ cư tại tỉnh Tuyên Quang, đãcúng vào chùa Trùng Quang 30 nguyên để sừa tòa Phật đường Quan viên
và dân phố cùng bàn chùa nhận cúng giỗ cha mẹ bà và vợ chồng bà mãimãi Ghi họ và tến, ngày giồ của từng người
Ký kị Hâu bi
Kí hiệu: 16006 Thác bản bia sưu tầm tại chùa Trùng Quang phố Xuân Hòa
tỉnh Tuyên Quang.Thác bản 1 mặt, khổ 44 X 64 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 250 chữ, có hoa văn, không có chừ húy
Niên đại: Bảo Đại thứ 14 (1939)
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi về việc bản phố tu sửa chùa Trùng Quang, chi phí rất lớn Tín nữ NguyễnThị Thỏa người xã Thịnh Xá tồng Thịnh Xá huyện Hương Sơn tinh HàTĩnh đã cúng 100 nguyên để dân phố sửa chùa và xin gừi giỗ cho cha mẹcùng dì ruột Nay bà lập bia ghi họ và tên cùng ngày giỗ của từng người:hiển khảo Nguyễn Văn Phục, hiển ti Nguyễn Thị Thổ, bà dì Nguyễn ThịThỏa hiệu Từ Vĩnh
Trùng Quang tự Phạm thị ký Hậu bỉ
Kíhiệu: 16007 Thác bàn bia phố Xuân Hòa tinh Tuyên Quang M sưu tầmtại chùa Trùng Quang phố Xuân Hòa tinh Tuyên Quang
Thác bàn 1 mặt, khổ 43 X 63 cm, gồm 12 dòng chữ Hán, toàn vàn ướckhoảng 250 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Khải Định thứ 7 (1922)
Trang 16Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi việc tín nữ Phạm Thị Kê quê Nghệ An cư trú tại phố Xuân Hòa tỉnhTuyên Quang, nghĩ đến cha mẹ không may mất sớm, muốn báo đáp, nên
đã cúng 60 nguyên để nhà chùa chi phí tu sửa và xin gửi giỗ cho cha mẹ.Ghi họ và tên người được cúng giỗ: ông họ Phạm húy Thuần giỗ ngày 20tháng 4 và bà họ Phạm húy Dụng giỗ ngày 29 tháng 4
Ký kỵ bi
Kí hiệu: 16008
tại chùa Trùng Quang phố Xuân Hòa tinh Tuyên Quang
Thác bản 1 mặt, khổ 47 X 70 cm, gồm 13 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Duy Tân thử 2 (1908)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Chùa Trùng Quang tu sửa nhà thờ tổ tốn kém nhiều, bà Lê Thị Tôn cúng 40nguyên giúp nhà chùa chi phí và xin gửi giồ cho chồng, cha mẹ, ông bà haibên nội ngoại Ghi bài vị chư vị được cúng giỗ: chồng là ông Trần VănHuy, Đội trưởng tòng cửu phẩm mất 10 tháng 2 năm Bính Thân Bên nội:hiển khảo Trần Văn Lương và hiền tỉ là Đào Thị Hợp Bên ngoại hiển tồ
Lê Văn Phượng, hiển tổ tỉ Phạm Thị Nhượng, hiển khảo Lê Văn Khuê giồngày 1 tháng 8
Thành Thái thập ngũ niên hạ tiết nhất bỉ
à te-í* X tp—Kí hiệu: 16009
Thác bản bia phố Xuân Hòa tỉnh Tuyên Quang ề 7^^' 4^ w , sưu tầm tại chùaTrùng Quang phố Xuân Hòa tỉnh Tuyên Quang
Trang 17Thác bản 1 mặt, khổ 47 X 17 cm, gồm 13 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 230 chừ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Thành Thái thử 15 (1903)
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Việc báo đáp mẹ cha là bổn phận của con cháu để giữ trọn đạo hiếu Ngợi cacon gái ông bà họ Nguyễn ở phố Xuân Hòa tỉnh Tuyên Quang đã biết giữđạo hiếu đó Bà đã cúng cho Hội Tín lạc của tỉnh 80 nguyên, để tu tạo chùaTrùng Quang và xin gừi giỗ cho cha mẹ là hiển khảo Nguyễn quý công tựĐại Hữu, hiển tỉ chính thất Nguyễn Thị Tính và đích mầu Nguyễn Thị Độ
[Vô đề]
Kí hiệu: 16010
tầm tại chùa Trùng Quang phổ Xuân Hòa tinh Tuyên Quang
Thác bàn 1 mặt, khổ 35 X 60 cm, gồm 8 đòng chữ Hán và Nôm, toàn vãnước khoảng 100 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Thành Thái thứ 15 (1903)
Người soạn: không ghi Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi việc bà Vũ Thị ước cúng vào Hội Tín lạc cùa tinh 30 nguyên đề tu sửachùa Trùng Quang và xin gửi giỗ cho cha mẹ: hiên khào Vũ Viết Nguyên
và hiển ti là Lương Thị Châu để cha mẹ được nương nhờ khói nhang nơicửa Phật Nay lập bia để lưu truyền về sau
Thác bản bia sưu tầm tại chùa Trùng Quang phố Xuân Hòa tinh
Tuyên Quang
Trang 18Thác bản 1 mặt, khổ 36 X 51 cm, gồm 10 dòng chữ Hán và Nôm, toàn vănước khoảng 150 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy.
Niên đại: Thành Thái thứ 15 (1903)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội đung-.
Ghi về việc bà Phạm Thị Tích cúng 40 nguyên vào Hội Tín lạc cùa tỉnh để tusửa chùa Trùng Quang và xin gừi giỗ cho chồng là ông Ngô Văn Đán giỗngày 8 tháng 6 Bia do bà Phạm Thị Tích lập nên cuối bia có ghi “ThêPhạm Thị Tích cẩn chf
[Vô đề]
Kí hiệu: 16012Thác bản bia sưu tầm tại miêu Đồng Xuân phổ Xuân Hòa tình Tuyên Quang.Thác bản 1 mặt, khổ 61 X 77 cm, gồm 20 dòng chừ Hán và chừ Nôm, toànvăn ước khoảng 250 chữ, có hoa vân, không có chữ húy
Niên đại: Thành Thái thứ 18 (1906)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi việc bà Đoàn Thị Nga, con gái ông họ Đoàn làm quản vệ ở tỉnh từng cónhiều công tích, bà đã cúng 100 nguyên vào Hội Đồng Xuân đế tu bổ đềnmiếu và xin được gửi giỗ cho cha mẹ Lập bài vị người được gừi giỗ là:Chánh quản vệ Đoàn tiên công húy Thống, hiệu Thế Dũng và chính thấtĐặng lệnh thị húy Đường, hiệu Diệu Phương, hiển khảo Đoàn Thế Vân vàhiển ti Nguyền Thị Hậu
Trùng tu Đồng Xuân từ bi
Kí hiệu: 16013Thác bản biển gỗ sưu tầm tại đền Đồng Xuân phố Xuân Hòa tình Tuyên
Trang 19Thác bản 1 mật, khổ 62 X 175 cm, gồm 27 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 600 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy
Niên đại: Bảo Đại thứ 7 (1932),
Người soạn: Nguyền Ôn Ngoạn PLS#,; quê quán: tình Ninh Bình;học vị: Tú tài khoa Bính Ngọ; chức vị: Hàn lâm viện Cung phụng.Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích
- Thơ văn
Tóm lược nội dung:
Đồn vốn ở trong thành Tuyên Quang, song khi Pháp chiếm giữ thành, đềnchuyển thành miếu và được đưa ra ngoài thành dựng tại phường ĐồngXuân Miếu là một tòa nhà 3 gian, rất khang trang, thờ vị Trung hưngTrung đẳng thần Có bài minh
Vô đề
Kí hiệu: 16014Thác bàn bia xã Đại Đồng châu Thu Vật phủ Yên Bình
A Is] H, sưu tầm tại đền xã Đại Đồng tổng Đại Đồng phủ Yên Bình tỉnhTuyên Quang
Thác bản 1 mặt, khổ 25 X 27 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 200 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 44 (1783)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích
- Hành trạng, công tích nhân vật
Tóm lược nội đung:
Ngày 24 tháng 10 năm Cành Hưng thứ 44 (1783) toàn dân xã Đại Đồng châuThu Vật phủ Yên Bình khắc biển đồng ghi duệ hiệu các vị linh thần phụngthờ ở đền của xã: Đức vua Linh ứng Anh liệt đại vương, Đức vua ChàngHai đại vương, Đức vua Chàng Ba đại vương, Đức vua Đương cảnhThành hoàng đại vương
Trang 20Cúng điền Minh Pháp tự lập bỉ
Kí hiệu: 16015/16016Thác bản bia hai xã Nam Châu và Thu Vật phù Yên Bình đạo Tuyên Quang
tầm tại chùa Minh Pháp xã Khuẩn Sơn tổng Đại Đồng phù Yên Bình tỉnhTuyên Quang
Thác bàn 2 mặt, khổ 40 X 56 cm, gồm 33 dòng chữ Hán, toàn vãn ướckhoảng 1.000 chữ, có hoa văn, không có chừ húy
Niên đại: Hoằng Định thứ 20 (1620)
Người soạn: Nguyễn Phúc Nguyên học vị: Sinh đồ
Người viết chừ: Nguyễn Văn Lâm chức vị: Thư kí
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giồ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi việc gia đình vị Quận công, ông Lương Kim Tịch và bà Vũ Thị NgọcThái cúng 2 mẫu ruộng, cùng ao đầm, tiền bạc vào chùa Minh Pháp đểgừi giỗ cho các tín chủ: Trấn Quận công Lương Kim Bài và chính thấtLương Thị Bình, Kỳ tướng Phó tướng Chưởng vệ sự kiêm Thái y vàchánh phu nhân Lương Thị Ngọc Thanh; Nam trưởng triều liệt đại phuLương Kim Tịch và Quận phu nhân Võ Thị Ngọc Thái, v.v Ghi vị trí,diện tích các thửa ruộng
Ghi chú', Bia ghi Hoằng Định thứ 20, thực tế niên hiệu Hoằng Định chỉ
đến thứ 19 (1619)
Minh Pháp/Thiền tự/Hồng chung/Tường chú
Kí hiệu: 16017Thác bản chuông phường Đại Đồng châu Thu Vật phủ Yên Bình xứ
Pháp xã Khuẩn Sơn tổng Đại Đồng phủ Yên Bình tỉnh Tuyên Quang.Thác bàn 4 mặt, khổ 35 X 74 cm, gồm 42 dòng chữ Hán và chữ Nôm,toàn vãn ước khoảng 800 chữ, không có hoa vãn, không có chữ húy.Niên đại: Cảnh Hưng thứ 35 (1774)
Trang 21Người soạn: không ghi.
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội đung;
Ghi việc đúc chuông chùa Minh Pháp Hưng công là gia đình tín quan quêphường Hồ Khẩu huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên định cư ởphường Đại Đồng châu Thu Vật phủ Yên Bình xứ Tuyên Quang, gồm
bà Vũ Thị Tươi, Hùng đột Hổ trưởng hiệu chỉ huy Thiêm sự KhanhTâm hầu Lý Khắc Tuy và vợ là bà Phạm Thị Bích, thiếp bà Lương ThịNgôi và bà Nguyễn Thị Xuyến cùng các con cháu công đức đúc chuôngchùa Minh Pháp Tham gia đúc chuông còn có Tuyên Quang xứ Lưuthủ Tiền Khuông cơ Phó cai quản Thị nội Giám ty lễ giám Tổng Tháigiám Đô đốc phủ Đô đốc Đồng tri Huân Trung hầu Bùi Huy Ánh cúng
cổ tiền 3 quan, v.v
[Vô đề]
Kí hiệu: 16018 Thác bản bia sưu tầm tại chùa Minh Pháp xã Khuẩn Sơn tổng
Đại Đồng phủ Yên Bình tinh Tuyên Quang.Thác bản 1 mặt, khổ 36 X 80 cm, không có chừ Hán và chữ Nôm, có hoa văn
Niên đại: không ghi
Người soạn: không ghi
Chủ đề: -Nghệ thuật
Tóm lược nội dung:
Không có chữ viết mà chi là một bức ưanh hình hoa sen
Tinh Húc xã Hậu bi
Kí hiệu: 16019Thác bàn bia sưu tầm tại đền Quang Nhuận xã Tinh Húc tổng Bình Ca phù Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang
Thác bản 1 mặt, khổ 50 X 73 cm, gồm 14 dòng chữ Hán, toàn văn ước
Trang 22khoảng 400 chừ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: không ghi
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giồ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
- Thơ vãn
Tóm lược nội dung:
Ghi việc lão từ là Thị Bình và con nuôi là Thị Hương được giao cho cai quàn việc nhà đền Việc cúng bái ở đền ngày càng sầm uất Nay dân làng tạo mới đình vũ chi phí hơn 300 nguyên, thu bổ chưa đủ và còn thiếu 60 nguyên nữa
Bà Chu Thị Lương giúp làng tiền chi phí và xin gửi Hậu cho bổ mẹ cùng toàngia là hiển khảo Chu Tá Năm và hiển tỉ Đào Thị cẩm, cùng các chư vị là ông Chu Văn Hài, bà Nguyễn Thị Ba, ông Nguyền Vãn Tạ, bà Nguyễn Thị Cốc
Có bài minh
Hậu thần bi ký
Kí hiệu: 16020 Thác bản bia xã Tinh Húc tổng Bình Ca huyện Hàm Yên phủ
tầm tại đền Quang Nhuận xã Tinh Húc tổng Bình Ca phù Yên Sơn tinhTuyên Quang
Thác bản 1 mặt, khổ 45 X 72 cm, gồm 15 dòng chữ Hán và chừ Nôm Nôm,toàn văn ước khoảng 250 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Tự Đức thứ 18 (1865)
Người soạn: Hoàng Đại Nhất % À.—; học vị: Tú tài khoa Giáp Ngọ
Người viết chừ: Lê Văn Tuyên
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội đung:
Ghi việc bà Tạ Thị Cao hiệu Diệu Thuận người phố Xuân Hòa bàn huyện,vốn là người từ Quảng Tây sang sinh sổng ở đây đã cúng cho đền QuangNhuận 200 quan thanh tiền để sửa chữa đền Quan viên và dân làng tônbầu bà làm Hậu thần phụng thờ mãi mãi Ghi họ và tên những người làm
Trang 23Sâm Sơn Thánh Mẩu từ đại bái đường bi
Kí hiệu: 16021
tại đền Quang Nhuận xâ Tinh Húc tổng Bình Ca phủ Yên Sơn tinh TuyênQuang
Thác bản 1 mặt, khổ 46 X 85 cm, gồm 15 dòng chữ Hán và chữ Nôm, toànvăn ước khoảng 400 chữ, có hoa văn, không có chừ húy
Niên đại: Bảo Đại thứ 16 (1941)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội đung:
Đền Quang Nhuận còn gọi là đền Thánh Mầu thờ Thủy cung thần nữ rất linhứng Nay ông Hưng Ký Trần Văn Thành sống ở phố Hàng Trổng HàThành cùng vợ là bà Trần Thị Tuyết lên vãn cảnh đã xuất tiền dựng thêm 3gian đại bái, mở rộng qui mô đền Quan viên và dân xã đội ơn, khắc bialưu lại về sau
Sâm Sơn Phật tự bỉ kí
Kíhiệu: 16022Thác bản bia sưu tầm tại chùa Lâm Quang xã Tinh Húc tổng Bình Ca phủYên Sơn tinh Tuyên Quang
Thác bản 1 mặt, khổ 55 X 90 cm, gồm 20 dòng chừ Hán và chữ Nôm, toànvăn ước khoảng 500 chữ, có hoa vân, không có chừ húy
Niên đại: Bào Đại thử 4 (1929)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
- Thơ vãn
Trang 24Tóm lược nội dung:
Bà Lả Thị Bình vốn sinh trưởng ở thành Tuyên Quang, bổ là ông Bao Antừng làm Tri phủ Khi cuối đời số theo về cừa Thánh Mầu nên bà đã điquét chùa làm thủ từ, có nhiều công sức tu bổ chùa Phật Bà bỏ ra 50nguyên để di chùa Lâm Quang lên núi Sâm Sơn Quan viên và dân làngnhớ ơn tôn bầu bà làm Hậu phật và cho bố mẹ bà được phối hưởng Ghingày giỗ và thể lệ cúng giỗ Có bài minh
Hậu bỉ kí
Kí hiệu: 16023Thác bàn bia xã Y La tổng Trung Môn huyện Yên Sơn tinh Tuyên Quang X
dí Sậ Ỳ H, sưu tầm tại đền Hiệp Thuận xã Ỷ La tổng Trung Môn phủ Yên
Sơn tỉnh Tuyên Quang
Thác bàn 1 mặt, khổ 38 X 60 cm, gồm 12 dòng chữ Hán và chữ Nôm, toànvăn ước khoảng 200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Khải Định thứ 6 (1921)
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Bản xã trùng tu tòa Thánh Mầu linh từ, vị thủ từ là Ngô Quang Lạc quyêngóp được hơn 160 nguyên giúp xã tu sửa miếu đường Quan viên và dân xãtôn bầu ông làm Hậu, qui định khi ông còn sông thì biếu giỗ và khi ôngtrăm tuổi thì cúng giỗ Nay lập bia ghi lại lưu truyền về sau
Kiến tạo đệ nhất cung bi kí
Thác bàn bia sưu tầm tại đền Hiệp Thuận xã Ỷ La tổng Trung Môn phù YênSơn tỉnh Tuyên Quang
Thác bàn 1 mặt, khổ 98 X 150 cm, gồm 25 dòng chữ Hán và Nôm, toàn vầnước khoảng 600 chữ, có hoa văn, không có chử húy
Niên đại: Bào Đại thứ 7 (1932)
Trang 25Người soạn: Nguyền Văn Bân K.jt$(1868 - ?); quê quán: xã Hữu Bằng tổngThạch Xá huyện Thạch Thất phủ Quốc Oai tinh Sơn Tây (nay thuộc huyệnThạch Thất thành phố Hà Nội); học vị: Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ khoaTân Sửu niên hiệu Thành Thái 13 (1901); chức vị: Hồng lô Tự khanh sungThượng nghị viện Bắc Kì, Tổng đốc Hải Dương.
Người khắc: hiệu Nam Sơn; quê quán: Hà Nội
Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung‘.
Đền Hiệp Thuận thờ Thánh Mầu có từ lâu, thanh linh hiển hách, trải qua mưagió mà đền đổ nát tiêu điều Đen đời vua Khải Định đền mới được xâydựng lại Năm Bào Đại 7 (1932) các quan tình Tuyên Quang góp tiền hợpsức xây Đệ nhất cung làm cho đền thêm đẹp đẽ nguy nga Ghi họ và têncác chư vị công đức, như: Quang lộc Tự khanh Lãnh bản tình Bổ chánh
sứ Trần đại nhân, Tri phù bàn phũ Đinh Văn Trân cúng 53 nguyên, Trihuyện huyện Yên Bình cùng nha môn cúng 77 nguyên, Tri châu châu SơnDương cùng nha môn cúng 180 nguyên, v.v
Hiệp Thuận từ Hậu bi
Kí hiệu: 16025 Thác bàn bia xã Ỷ La tổng Trung Môn phủ Yên Sơn tinhTuyên Quang ' Ỉ7sưu tầm tại đền Hiệp Thuận xã Ỷ La tổng Trung Môn phù
Yên Sơn tình Tuyên Quang.Thác bàn 1 mặt, khổ 98 X 150 cm, gồm 25 dòng chữ Hán và Nôm, toàn vânước khoảng 300 chừ, có hoa văn, không có chừ húy
Trang 26Niên đại: Bào Đại thứ 7 (1932),
Người soạn: Trần Lương Diệm chức vị: Tòng cửu phẩm Bá hộ chínhkhanh
Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội đung:
Ghi việc bà Nguyễn Thị Bình hiệu là Diệu Thanh thú từ đền Hiệp Thuận đã
bỏ ra 400 nguyên để tu sửa, mở mang quy mô đền Quan viên và dânlàng ghi công ơn và tồn bầu bà làm Hậu Quy định khi bà còn sống thìkính biếu, khi bà mất thì cúng giỗ mãi mãi Nay lập bia ghi lại truyền vềsau
Kiến tạo đệ nhất cung bỉ kỉ
Kí hiệu: 16026Thác bản bia sưu tầm tại đền Hiệp Thuận xã Ỷ La tổng Trung Môn phủYên Sơn tỉnh Tuyên Quang
Thác bản 1 mặt, khổ 98 X 150 cm, gồm 31 dòng chữ Hán và Nôm, toàn vãnước khoảng 1000 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Bảo Đại thứ 7 (1932)
Người soạn: Nguyễn Vãn Bân (1868 - ?); quê quán: xã Hừu Bằng tổngThạch Xá huyện Thạch Thất phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây (nay thuộchuyện Thạch Thất thành phố Hà Nội); học vị: Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩkhoa Tân Sửu, niên hiệu Thành Thái 13 (1901); chức vị: Hồng lô Tựkhanh sung Thượng nghị viện Bắc Kì, Tổng đốc Hải Dương
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi việc các quan chức ưong tỉnh Tuyên Quang công đức xây dựng
28
Trang 27Đệ nhất cung đền Hiệp Thuận thần mẫu Trong đó có các vị Trần tướngcông và Tôn phu nhân cúng 50 nguyên, bà Hoàng Thị Thân cúng 75 nguyên,
bà họ Lê cúng 50 nguyên, bà Nguyền Thị Cư cúng 50 nguyên, v.v
Ghi chú: Thác bàn có thể là mặt sau của thác bàn N°16.024.
Vô đề
Kí hiệu: 16027Thác bàn bia sưu tầm tại đền Hiệp Thuận xã Ỷ La tổng Trung Môn phủ YênSơn tình Tuyên Quang
Thác bàn 1 mặt, khổ 71 X 113 cm, gồm 21 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn
ước khoảng 800 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Tự Đức thứ 28 (1875)
Người soạn: Hoàng Kể Viêm #fiỂJ£.(1820 - 1909), hiệu Tùng An
tự Nhật Trường 0 quê quán: người xã Vân La phủ Quảng Ninh tinh QuảngBình; học vị: Cừ nhân; chức vị: Lang trung Bộ Lại, Án sát Ninh Bình, Bốchính Thanh Hóa, Thổng đốc An Tịnh, Thống đốc quân vụ 4 tỉnh (Lạng,Bình, Ninh, Thái), Tiết chế quân vụ miền Bắc, Vinh lộc đại phu Hiệp biệnĐại học sĩ
Chủ đề: - Hành trạng, công tích nhân vật
- Lịch sừ di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi về đền Hiệp Thuận thờ Phương Dung công chúa và Lân Vương công chúa.Đen nổi tiếng là nơi linh thiêng Nãm Tự Đức thứ 27 (1874), ông Hoàng KếViêm được lệnh đi đánh Lưu Vĩnh Phúc đã đến cầu hai vị Thần ở đây để phù
hộ thắng ưận Sau khi dẹp xong quân Lưu Vĩnh Phúc, ông Hoàng Kế Viêm
về đền dựng bia ngợi ca thần linh và lưu truyền về sau
Phổ Quang tự trùng tu bi kí
Kí hiệu: 16028 Thác bàn bia sưu tầm tại chùa Phổ Quang phố Đồ Hữu Vị, Hà Thành Thác bàn 1 mặt, khổ 63 X 111 cm, gồm 15 dòng chữ Hán và Nôm, toàn vãn ước khoảng
400 chừ, có hoa văn, không có chữ húy
Trang 28Niên đại: Duy Tân thứ 3 (1909).
Người soạn: tự Nguyên Nhâm TÉi; chức vị: Tỳ khâu ni Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Chùa Phổ Quang do Chu phu nhân của viên quan Thụy Ngọc hầu xây dựng từthời Lê Khi mới xây dựng chùa là một am nhỏ, sau đó phu nhân cùa vị Tạo
sĩ triều Lê tước Di Đình hầu cúng tượng đồng Chùa dần dần được tu bổthêm bởi các nhà sư trụ trì kể tiếp Nay sư ni Nguyên Nhâm trụ trì chùa thấychùa hư hỏng nhiều đã tự bỏ tiền của ra trùng tu lầu chuông và mờ rộng quy
mô đẹp đẽ hơn Nay lập bia lưu truyền về sau
Vô đề
Kí hiệu: 16029 Thác bản bia sưu tầm tại chùa Phổ Quang phổ Đỗ Hữu Vị, Hà Thành Thác bàn 1 mặt, khổ 42 x 57 cm, gồm 7 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 200 chữ, không có hoa vãn, không có chữ húy
Niên đại: Duy Tân thứ 9 (1915)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Bà Ngô Thị Dậu người ờ phố Hàng Bạc, nguyên quán thôn Dũng Thọ huyệnThọ Xương đã lập đàn chay ờ chùa Phổ Quang và cúng 40 nguyên để chi phíhương hoa cúng Phật, cầu mong hương hồn cha mẹ, anh em bà được về phốihưởng tại chùa
Trang 29Niên đại: Minh Mệnh thứ 5 (1824).
Người soạn: không ghi
Người viết: Phạm Huy Đăng
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giồ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung'.
Chùa Phổ Quang hay là am chùa Phổ Quang được dựng từ đời Lê Sau đượcphu nhân quan Trấn thủ Lạng Sơn là Khâm sai Thống chế Án thủ họ Chuđốc thành lãnh bảo hộ, rồi ngài họ Cao tước Thụy Ngọc hầu bỏ tiền tu bổ lại.Khi lão sư Diệu Chẩn trụ trì thì am có cả thày 6 pho tượng, rồi sư lại trờ vềchùa Thanh Hoa, nên am Phổ Quang bị hư hỏng Nay tu bổ chùa, công việcviên màn, lập bia ghi nhớ công ơn người đời trước đã khai sáng
Phổ Quang tự bi
Kíhiệu: 16031 Thác bàn bia sưu tầm tại chùa Phổ Quang phổ Đỗ Hữu Vị, Hà Thành Thác bản 1 mặt, khổ 54 X 96 cm, gồm 6 dòng chữ Hán, toàn vân ước khoảng 100 chữ, có hoa vân, không có chừ húy
Niên đại: Minh Mệnh thứ 10 (1829)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi bài vị Hậu phật của Thụy Ngọc hầu và Chu phu nhân, người có công xâydựng chùa vào thời Lê, cụ thể là: Khâm sai Thống chế Án thủ Chu đốc đồnlãnh bảo hộ cao cẩm quốc ấn kiêm quản Hà Tiên trấn biên vụ, gia nhị cấp kilục tứ thử Thụy Ngọc hầu Thần vị, Nguyễn tôn công phối húy Te hiệu NhànTĩnh Chu phu nhân
Phổ Quang tự bi
Kí hiệu: 16032 Thác
Trang 30mặt, khổ 40 X 71 cm, gồm 12 dòng chừ Hán và chữ Nôm, toàn văn ước khoảng
400 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Minh Mệnh thứ 19 (1838)
Người soạn: không ghi
Người viết: Nguyễn Văn Chính; chức vị: Cư sĩ Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi về việc bà Phan Thị Hai người giáp Bắc Thượng phường Hồ Khẩu tồngDũng Thọ huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội nước Đại Nam đã
bỏ tiền mua một số mảnh đất gần kề với đất chùa để cúng làm ruộng Tambào và để xây tháp Phật Bà Phan Thị Hai và gia tiên của bà được phốihưởng ở chùa Phổ Quang
Vô đề
Kí hiệu: 16033 Thác bản bia sưu tầm tại chùa Phổ Quang phố Đồ Hữu Vị, Hà Thành Thác bàn
1 mặt, khổ 23 X 70 cm, gồm 3 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 30 chữ, không có hoa văn, không có chừ húy
Niên đại: không ghi
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi bài vị của ba vị Hậu được cúng giỗ ở chùa Phổ Quang là: ông húy KiệtXương tự Tuấn Bồi, vợ Hoàng Thị Ba hiệu Từ Chính và thứ thất Quan ThịThụy hiệu Thục Bộc
Phối hưởng bi kí
Kí hiệu: 16034 Thác bàn bia sưu tầm tại chùa Phồ Quang phố Đồ Hữu VỊ, Hà Thành Thác bản
1 mật, khổ 30 X 40 cm, gồm 8 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 30 chữ, có
Trang 31hoa vãn, không có chữ húy.
Niên đại: Bảo Đại thứ 12 (1937)
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biếu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi việc ông Tạ Hoa Xương người Quảng Đông đã cúng 50 nguyên vào chùaPhổ Quang đề xin cho cha mẹ được phối hưởng tại chùa Ghi họ và tên bố
mẹ ông Tạ Hoa Xương là ông Tạ Trạch Sinh và bà Hứa Thị Ân
Phổ Quang tự bi kí
Kí hiệu: 16035Thác bản bia chùa Phổ Quang thôn Yên Viên tổng Yên Thành huyện Vĩnh
tầm tại chùa Phổ Quang phố Đỗ Hữu Vị, Hà Thành
Thác bàn 1 mặt, khổ 36 X 53 cm, gồm 10 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ướckhoảng 200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Tự Đức thứ 21 (1868)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi về việc cựu Lý trưởng Nguyễn Vãn Cường cúng 70 quan tiền để tô tượngCửu long, sửa sang chùa Phật và mong muốn được gửi giỗ cho ông bà cùng
bố mẹ được phụ hưởng tại chùa Phổ Quang Ghi họ và tên chư vị được cúnggiỗ là: Ngoại tổ Nguyễn quý thị hiệu Từ Lương, hiển khảo là Hoàng quýcông tự Phúc Thái
Phổ Quang tự bài kí
Kí hiệu: 16036 Thác bản bia chùa Phổ Quang thôn Yên Viên tổng Yên Thành
tầm tại chùa Phổ Quang phố Đỗ Hữu Vị, Hà Thành
Thác bàn 1 mặt, khổ 35 X 56 cm, gồm 13 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ướckhoảng 240 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy
Trang 32Niên đại: Thành Thái thứ 2 (1890).
Người soạn: không ghi Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi việc sư trụ trì chùa Phổ Quang thôn Yên Viên tổng Yên Thành huyện VĩnhThuận phủ Hoài Đức hưng công tu sùa chùa Bà Lý Thị Liên cúng tiền trợgiúp để bản thôn tu sừa chùa và xin vong linh của tổ tiên được phụ hường tạichùa Ghi họ và tên, tự, hiệu chư vị được cúng giỗ: Phan môn chính thất LýThị Liên hiệu Từ Phụng, Lương môn kế thất Phan Thị Tiếu, Lý môn chánhthất Tạ Thị Hai, hiển tổ khảo Tạ Vãn Thủy, hiển tỉ Tạ Thị Nhơ hiệu TừĐoan, hiển khảo Tạ Văn Lương, hiển tì Tạ Thị Thức, v.v
Phổ Quang tự bỉ
Kí hiệu: 16037Thác bản bia chùa Phổ Quang thôn Yên Viên tổng Yên Thành huyện VĩnhThuận phủ Hoài Đức
sưu tầm tại chùa Phổ Quang phố Đỗ Hữu VỊ, Hà Thành
Thác bản 1 mặt, khổ 52 X 90 cm, gồm 11 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ướckhoảng 270 chữ, có hoa văn, không có chừ húy
Niên đại: Tự Đức thử 18 (1865)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi việc chùa Phổ Quang tu sửa, chi phí nhiều Tín quan Hoàng Văn Phù người
xã Vân La Hạ tổng Phúc Yên huyện Quàng Điền phủ Thừa Thiên, nguyênchức Trung Thuận đại phu Công bộ Quy chế ty Lang trung và bà kế thất phunhân Doãn Thị Xuyến hiệu Diệu Phúc cúng 100 quan tiền để sửa chữa chùa.Ông bà được dân thôn tôn kính và được cúng giỗ mãi mãi về sau
Đông giáp Hậu bỉ
Kí hiệu: 16038 Thácbàn bia giáp Đông xã Vị Lương tổng Đông Mặc huyện Mĩ Lộc sưu tầm tại đình
Trang 33xã Vị Lương tổng Đông Mặc huyện Mì Lộc tỉnh Nam Định.
Thác bản 1 mặt, khổ 51x61 cm, gồm 10 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ướckhoảng 150 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Bảo Đại năm Tân Tị (1941)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ba vị thiện tín ờ giáp Đông xã Vị Lương huyện Mĩ Lộc đã cúng ruộng cho làng
để làng canh tác thu hoa lợi và xin được cúng giỗ cho bàn thân ở đình Ghi
họ và tên, húy hiệu, ngày giỗ của ba vị: ông họ Vũ húy Lượng, ông họ Trầnhúy Thái và bà họ Trần húy Quyến
Trần Đại vương từ bỉ kí
Kí hiệu: 16039 Thác bản bia sưu tầm tại đền Trần xã Vị Lương tổng Đông Mặc
huyện Mĩ Lộc tỉnh Nam Định.Thác bản 1 mặt, khổ 71 X 135 cm, gồm 16 dòng chữ Hán và Nôm, toàn vănước khoảng 500 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Thành Thái thứ 5 (1893)
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ngôi đền thờ Trần Đại vương ở xã Vị Lương đã có từ lâu, trải nhiều năm thángnên đã bị hư hỏng Nay dân làng đóng góp tiền của tu bổ nội ngoại, chính điện,nhà thiêu hương, tiền đường, hành lang đền Quy mô thật là hoàn hảo Nay lậpbia ghi họ và tên chư vị công đức cùng thiện tín thập phương đã đóng góp tiềncùa tu sửa chùa
Phổ Quang tự Hậu bỉ
Kí hiệu: 16040
Trang 34Thác bản bia sưu tầm tại chùa Phổ Quang xã Phong Lộc tổng Đông Mặc huyện
Mĩ Lộc tình Nam Định
Thác bản 1 mặt, khổ 55 X 85 cm, gồm 14 dòng chừ Hán và Nôm, toàn văn ướckhoảng 250 chừ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Khải Định Giáp Tý (1924)
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi việc cựu Lý trưởng Trần Đắc Ỏn và vợ là bà Trần Thị Tỵ người bản xã đãcúng tiền 40 nguyên và 6 sào ruộng cho 3 giáp để xin đặt Hậu Quan viên vàdân làng đồng ý cho cha mẹ và bản thân ông bà được gửi giỗ ở chùa Giao 1sào cho bàn xã cày cẩy lo đèn nhang Kê sổ ruộng, vị trí các thừa ruộng, họ
và tên chư vị được gửi giỗ tại chùa Phổ Quang
Bồi Phổ Quang bi
Kí hiệu: 16041Thác bàn bia sưu tầm tại chùa Phổ Quang xã Phong Lộc tổng Đông Mặc huyện
Mĩ Lộc tỉnh Nam Đinh
Thác bản 1 mặt, khổ 44 X 68 cm, gồm 12 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ướckhoảng 200 chừ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: không ghi
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi việc bà Hoàng Thị Thiêm người xã Minh Hương cúng tiền, ruộng giúp xãPhong Lộc tu sửa kiệu thờ Thần Dân làng tôn bầu ông bà, cha mẹ bà làmHậu phật Ghi họ và tên, húy hiệu các vị Hậu
Vô đề
Kí hiệu: 16042
Thác bản bia xã Đông Phong Lộc huyện Mĩ Lộc phủ Thiên Trường X sưu tầm
Trang 35tại chùa Phổ Quang xã Phong Lộc tổng Đông Mặc huyện Mĩ Lộc tỉnh NamĐịnh.
Thác bản 1 mặt, khổ 63 X 116 cm, gồm 16 dòng chữ Hán và Nôm, toàn vãnước khoảng 400 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy
Niên đại: Tự Đức thử 12 (1859)
Người soạn: không ghi
Người khắc: Hoàng Công Nghiêm nghề nghiệp: thợ đá
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung:
Ghi việc dân xã Phong Lộc huyện Mĩ Lộc vốn trước ngày tu sửa miếu vũ bịthiếu tiền chi phí, có bà Bùi Thị Đôn người xóm An Lạc phù Dị Hoàng chovay 200 quan tiền để chi phí Nay đã đến kì trả nợ nhưng xã chưa có tiền BàĐôn đồng ý miễn số tiền này cho dân làng và lại cúng thêm 3 mẫu 3 sào 5thước ruộng trị giá 330 quan tiền để xã thu hoa lợi chi dùng và lo việc thờcúng con gái bà Xã lập bia ghi số ruộng và định ước cúng lễ về sau, gồmlợn, xôi, 50 quả chuối,
Hoa Nghiêm hội gia tiên phụ phối bi kí
Niên đại: Bảo Đại thứ 9 (1934)
Người soạn: tên tự Thanh Huyền; chức vị: Giám tự
Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi những người trong Hội Hoa Nghiêm cúng tiền để gia tiên họ được phốihưởng ở chùa, như Tín chủ Lê Thị Năm hiệu Diệu Thái cúng gia tiên Đặngquý công tự Phúc Hoa, tỉ Đặng quý thị hiệu Diệu Ngọc; bà Phùng Thị Tậphiệu Diệu Tiến cúng cho chồng; Tín chủ Hoàng Thị Thiện gửi giỗ cho hiểnkhảo Phùng Văn Phú (cả thảy 200 vị cúng tiền) Định lệ hàng nàm vào ngày
27 tháng 2 và ngày 1 tháng 10 cúng tổ sư, các gia tiên được phụ hường
Trang 36Hoa Nghiêm hội bỉ kí
Kí hiệu: 16044 Thác bàn bia sưu tầm tại chùa Diên Khánh xã Phụ Long tổng
Đông Mặc huyện Mĩ Lộc tỉnh Nam Định.Thác bản 1 mặt, khổ 77 X 132 cm, gồm 29 dòng chữ Hán và Nôm, toàn vănước khoảng 1000 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy
Niên đại: Bào Đại thử 9 (1934)
Người soạn: không ghi
Chù đề: - Sinh hoạt làng xã
Tóm lược nội dung:
Ghi việc dân xã Phụ Long cùng nhà sư trụ trì chùa Diên Khánh lập Hội thiệnHoa Nghiêm vào năm Bảo Đại 6 (1931) để tụ họp những người thiện tín.Ghi danh sách những người ưong Hội thiện: Trưởng hội là Lê Thị Hiến hiệuDiệu Thái, Phó hội là bà Lê Thị Hợi hiệu Diệu Ân cùng 200 hội viên Định
lệ hàng năm 4 mùa 8 tiết tế lề tại chùa và định điều lệ của Hội về việc thờcúng, thăm viếng
Diên Long hộỉ bi kí
Kí hiệu: 16045Thác bàn bia sưu tầm tại chùa Diên Khánh xã Phụ Long tổng Đông Mặc huyện
Mĩ Lộc tỉnh Nam Định
Thác bản 1 mặt, khổ 68 x 104 cm, gồm 22 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ướckhoảng 400 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Bào Đại thứ 7 (1932)
Người soạn: Nguyễn Minh Khôi quê quán: xã Phụ Long; chức vị: nguyên Nôngviện thông sự kiêm Hương lí hầu
Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội dung’.
Ghi các hoạt động khuyến thiện của Hội Diên Long của xà Phụ Long đổi vớichùa Diên Khánh như năm Bảo Đại thứ 6 (1931) tu sửa gác chuông NămKhải Định thứ 7 (1922) tu sửa Phật đài, sau đó lại cúng ruộng vào chùa đểthu hoa lợi làm lễ cúng Phật Ghi họ và tên các hội viên, ữong đó có Trưởnglão Trần Thị Lãnh hiệu Diệu Minh, Hội chủ Trần Thị Thảo hiệu Diệu
Trang 37Phương cùng 40 hội viên khác như bà Trần Thị Sinh, bà Trần Thị Trang, bàPhạm Thị Nguyệt,
Vô đề
Kí hiệu: 16046 Thácbản bia sưu tầm tại chùa Diên Long xã Phụ Long tổng Đông Mặc huyện MìLộc tinh Nam Định
Thác bản 1 mặt, khổ 27 X 51 cm, gồm 8 dòng chừ Hán và Nôm, toàn văn ướckhoảng 150 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Bảo Đại thứ 15 (1940)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi việc bà Trần Thị Tý người trong xã cúng 8 sào ruộng tư vào chùa DiênLong để gừi giồ cho mẹ và vợ chồng bà Ghi họ và tên người được gửi Hậu
là Nguyễn môn Trần Thị Di hiệu Diệu Minh giỗ ngày 11 tháng 5, NguyễnNhất Lang húy Xuân Thiệp giỗ ngày 12 tháng 12, Nguyền môn Trần Thị Týhiệu Diệu Hương Ghi vị trí các thửa ruộng cúng
Thiên ma
Kí hiệu: 16047Thác bản bia sưu tầm tại chùa Diên Long xã Phụ Long tổng Đông Mặc huyện
Mĩ Lộc tỉnh Nam Định
Thác bản 1 mặt, khổ 77 X 113 cm, gồm 36 dòng chữ Hán và Nôm, toàn vănước khoảng 1800 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Bào Đại thứ 3 (1928)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giỗ, biểu dương việc thiện
Tóm lược nội dung:
Ghi các thành viên Hội Liên Hoa trong xã góp tiền mua 1 mẫu 2 sào ruộngcúng vào chùa để gửi giỗ cho gia tiên Ghi danh sách những hội viên tronghội và gia tiên các vị gửi giỗ Trong đó có vị Chánh Hội trưởng sắc thụ Tu
Trang 38chức lang nguyên Thái Bình phiên ty chánh bát phẩm Trần môn kế thấtNguyễn Thị Sai hiệu Diệu Nghiêm hiến lễ gia tiên là bà Trần Tiến Liên, bàTrần Thị Cát, bà Trân
Thị Ngột; Phó hội là vợ của vị đương thứ Chánh tổng là Đoàn
Thị Lành hiệu Diệu Tiền, (khoảng 200 vị) Định lệ cúng giỗ hàng năm:xôi, oản quà,
Diên Khánh bỉ kí
Kí hiệu: 16048Thác bản bia sưu tầm tại chùa Diên Khánh xã Phụ Long tổng Đông Mặc huyện
Mĩ Lộc tinh Nam Định
Thác bản 1 mặt, khổ 36 X 94 cm, gồm 12 dòng chữ Hán, toàn vãn ước khoảng
300 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy
Tóm lược nội dung:
Chùa Diên Khánh vốn là cổ tích danh lam, có vị thế hữu tình, cảnh quan tráng
lệ Chùa đã hơn 60 năm nay chưa tu bổ nên hư hỏng nhiều Các thiện tínưong xã công đức tiền của làm lại lầu gác Có bài minh
Vô đè
Kí hiệu: 16049/16050 Thác bản bia xã Phụ Long tổng Đông Mặc huyện Mĩ
xã Phụ Long tổng Đông Mặc huyện Mĩ Lộc tỉnh Nam Định
Thác bản 2 mặt, khổ 70 X 125 cm, gồm 28 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng
700 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Bảo Đại thứ 9 (1934)
Người soạn: Phan Đình Hòe học vị: Cử nhân khoa Canh Tí; chức vị: Tổng đốc,trí sĩ đặc thụ Thượng thư Tư thiện đại phu
Chủ đề: - Công vãn triều đình (sắc, lệnh, chỉ dụ)
Trang 39- Hành trạng, công tích nhân vật.
- Thơ văn
Tóm lược nội dung-.
Ghi về tiểu sử và công đức của Đoan Túc tôn thần, họ Trần tự Trực Đạo người
xã Phụ Long huyện Mĩ Lộc Ông sinh nãm Vĩnh Hựu thứ 1 (1735), đỗ Cống
cừ, được bổ chức Quốc từ giám Giám sinh, làm Tri huyện huyện VĩnhKhang Lúc sinh thời, ông có nhiều công đức với dân làng, Sau khi ôngmất, dân làng dựng miếu thờ Ngôi miếu linh thiêng, cầu khấn ứng nghiệm.Năm Duy Tân thứ 4 (1910) dân làng bị bệnh dịch đến lễ ở miếu, được phùtrợ qua khỏi Từ đó càng nhiều người đến cúng, lại được triều đình ban sấcphong vào năm Khài Định thứ 2 (1917) là Dực bảo Trung hưng Linh phùTôn thần, năm Khải Định thứ 9 (1924) phong là Đoan túc Tôn thần Có bàiminh
Hậu phật bi truyền
Kí hiệu: 16051/16052 Thác bản bia chùa Nghiêm Quang xã Ngọc Liễn tổng
Thượng Viền huyện Lập Thạch đạo Sơn Tây nước Đại Việt
’ệ7, sưu tầm tại chùa Nghiêm Quang xã Ngọc Liễntổng Thượng Đạt huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Yên
Thác bản 2 mặt, khổ 33 X 57 cm, gồm 11 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng
400 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Minh Mệnh thử 11 (1830)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gừi giồ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội đung:
Ghi về việc bà họ Nguyền hiệu Diệu Ý người trong xã, bản tính đức hạnh luônlàm điều thiện Nay bà cúng 20 quan tiền và 3 sào ruộng giúp làng đúcchuông chùa Nghiêm Quang Dân làng ghi ơn bà và tôn bầu làm Hậu phật,định lệ cúng giỗ mãi mãi
Trang 40Nghiêm Quang tự bỉ/Ngọc Liễn xã kỉ
Kíhiệu: 16053/16054Thác bản bia thôn Phú Thị xã Sơn Đông huyện Lập Thạch phủ Tam Đái đạo
iL'ffl sưu tầm tại chùa Nghiêm Quang xã Ngọc Liễn tổng Thượng Đạthuyện Lập Thạch tinh Vĩnh Yên
Thác bản 2 mặt, khổ 50 X 83 cm, gồm 18 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ướckhoảng 1000 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Vĩnh Thịnh thứ 1 (1705)
Người soạn: không ghi
Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện
- Xây dựng, trùng tu di tích
Tóm lược nội đung:
Ghi về việc những thiện tín thôn Phú Thị xã Sơn Đông huyện Lập Thạch góptiền sửa lại tòa từ đường, tam quan 2 gian, tòa Phật điện cùng việc đúcchuông, tô tượng Kê họ và tên chư vị công đức và cúng tiền gửi giỗ, nhưHội chủ là Trần Kiên Chi tự Phúc Khang gừi giồ cho hiển khảo tự PhúcThọ, tỉ hiệu Thiện Niệm, tổ khảo Trần nhất lang, công đức thân nam TrầnKiên Trân và vợ là bà Trần Thị Cân, con trai là Trần Văn Phấn,
Vô đề
Kí hiệu: 16055/16056/16057/16058Thác bàn bia sưu tầm tại miếu xã Ngọc Liễn tổng Thượng Đạt huyện
Tóm lược nội dung-,
Hai biển gỗ khắc thần tích hai vị thần thờ ở miếu xã Liễn Sơn