1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thư mục thác bản văn khắc hán nôm việt nam tập 7 (NXB văn hóa thông tin 2010) trịnh khắc mạnh, 780 trang

705 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thư Mục Thác Bản Văn Khắc Hán Nôm Việt Nam
Tác giả Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Lê Tiến Anh, Vũ Lan Anh, Nguyễn Hữu Mù, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Ngân, Đinh Khắc Thuân, Đào Thái Tôn, Phạm Thị Vinh
Người hướng dẫn Trịnh Khắc Mạnh
Trường học Viện Nghiên Cứu Hán Nôm
Thể loại catalogue
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 705
Dung lượng 420,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thư mục thác bản văn khắc hán nôm việt nam tập 7 THU VIỆN HÀ Nộl|ĐC Viện Cao Học Thực Hành Viện Nghiên Cứu Hán Nôm Viên Viên Đông Bác cổ Pháp VII THƯ MỤC THÁC BÃN VĂN KHẤC HÁN NÔM VIỆT NAM CATALOGUE DES INSCRIPTIONS DU VIỆT NAM CATALOGUE OF VIETNAME.

Trang 1

THU VIỆN HÀ Nộl|ĐC

Viện Cao Học Thực Hành Viện Nghiên Cứu Hán Nôm Viên Viên Đông Bác cổ Pháp

VII THƯ MỤC THÁC BÃN

VĂN KHẤC HÁN NÔM VIỆT NAM

CATALOGUE DES INSCRIPTIONS

DU VIỆT-NAM CATALOGUE OF VIETNAMESE INSCRIPTIONS

2010 | PDF | 780 Pages

buihuuhanh@gmail.com

Trang 2

Viện Nghiên Cứu Hán NômÉcole franẹaise d’Extrême-OrientEcole pratique des Hautes Études

THƯMỤC THÁC BẢN VĂN KHẮC HÁN NÔM VỆT NAM

Catalogue des inscriptions du Việt-Nam

Catalogue of Vietnamese Inscriptions

(Tập VII: N° 12.001 - 14.000)

Ban chỉ đạo công trình - Comitẻ directeur - Scientific Committee

Trịnh Khác Mạnh, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin

Chủ biên - Éditeur - Editor

Trịnh Khắc Mạnh

Ban hiệu duyệt - Comitẻ de contrôle - Technical Committee

Trịnh Khắc Mạnh, Lê Tuấn Anh

Ban thư ký - Secretariat - Secretariat

Phạm Thị Vinh, Nguyễn Hữu Mùi, Vũ Thị Mai Anh

Ban biên soạn - Comité de redaction - Authors

Lê Tiấn Anh, Vũ Lan Anh, Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Hữu

Mù, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Ngân, Nguyễn VănNguyên, Đinh Khác Thuân, Đào Thái Tôn, Phạm Thị Vinh

Hà Nôi- 2010THƯ VIỆN HẢ NỘI

Trang 3

Mời Quí vị độc giả tham khảo Lời nói đầu ở Tập I

Nous renvoyons le lecteur à la Presentation se trouvant au début

du premier volumeThe reader is referred to the Introduction at the beginning of the

first volume

Trang 4

Các từ mục sắp xếp theo thứ tự tăng dần của kí hiệu thư viện.

Chúng tôi coi đây là một bộ phận của hệ thống cơ sở dữ liệu vàn

khắc nên các từ mục đều được trình bày thống nhất theo qui cách

gồm các yếu tố sau đây:

1 Tên mục: Ghi bằng chữ phiên âm Hán Việt và chữ Hán, chữ

Nôm, lấy theo câu chữ tiêu đề trên trán bia ở từng mặt thác bản (tuynhiên cũng có những câu chữ không hẳn mang tính chất tiêu đề),hoặc nhan đề ở dòng đầu văn khắc, kèm theo kí hiệu thư viện củachúng Tiêu đề và kí hiệu thư viện của các thác bản được tách biệtnhau bàng dấu gạch chéo (/) Vì trên văn bản văn khắc vốn không cóqui định về thứ tự của các mặt khác nhau nên khi trình bày tiêu đềnày chúng tôi cố gắng sắp xếp theo ý nghĩa tương đối của nội dungchứ không cãn cứ theo thứ tự kí hiệu thư viện Trường hợp thác bảnkhông có tiêu đề thì ghi [Vô đề]

2 Địa điểm xuất xứ: Phân biệt rõ địa danh dựng văn khắc và

địa danh sưu tầm thác bản Địa danh ghi trong văn khác nhằm cungcấp một hệ thống địa danh vào thời gian hình thành văn khắc đượcghi trong nội dung văn bản, nên được ghi bằng phiên âm Hán Việtkèm theo chữ Hán Nôm tương ứng Địa danh sưu tầm ghi bên lềthác bản là tên địa điểm sưu tầm thác bản được người sưu tầm căn

cứ vào tên gọi địa phương ở thời điểm sưu tầm mà ghi chú ở bên lềthác bản

3 Thông tin về hĩnh thức của thác bản: bao gồm kích thước

thác bản (chiều ngang X chiều cao, đơn vị tính là cm), loại vãn tự(chữ Hán, chữ Nôm), số dòng, số chữ ước lượng, trang trí hoa văn

và sự xuất hiện chữ kiêng húy (kèm hình chữ nếu có)

4 Niên đại văn khắc' Ghi tên niên hiệu, năm thứ (hoặc năm

can chi) đề trên vãn bản kèm năm dương lịch qui đổi Trường hợp

Trang 5

trong văn khắc không có niên đại thì ghi rõ là “không ghi”; hoặctrong trường hợp niên đại không rõ ràng hoặc có nghi vấn thì có thểcăn cứ vào thông tin trong nội dung văn khắc mà đưa ra một niên đạiước đoán.

5 Thông tin về người tham gia xây dựng văn bản' Chủ yếu là

người soạn, người nhuận sắc, người viết chữ và người khác Chútrọng thể hiện những thông tin liên quan về họ và tên (có kèm chữHán), tên tự, tên hiệu, quê quán, học vị, chức vị, tước hiệu Trườnghợp tên người không ghi rõ trên văn bản nhưng nếu có thể tra cứu rađược thì ghi trong ngoặc vuông ([ ])

6 Phân loại chủ đề: Phân loại theo 10 loại chủ đề chính do

công trình tạm thời đặt ra, nhằm cung cấp những từ khóa chủ yếu vềnội dung vãn khắc để trợ giúp độc giả nhanh chóng nắm bắt và tìmkiếm thông tin nội dung, đồng thời nhàm chuẩn bị cho việc truy cậptra cứu vào hệ thống cơ sở dữ liệu văn khắc sẽ được xây dựng saunày

7 Nội dung văn khắc: Trình bày tóm lược nội dung của văn

bản, cố gắng nêu bật được sự kiện chủ yếu, kèm theo những thôngtin về thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc ý nghĩa chính yếu của vănkhắc

8 Ghi chủ cần thiết về thác bản như: những đặc điểm đặc biệt,

nghi vấn về niên đại ngụy tạo, kí hiệu của thác bản trùng bản hoặcthác bản liên quan

Vì số lượng thác bản đã và đang sưu tầm rất lớn, nên bộ Thư

mục thác bản văn khắc Hán nôm sẽ chia thành nhiều tập, mỗi tập

bao gồm số lượng thác bản đều nhau là 2000 kí hiệu nhằm thuận tiệncho độc giả tìm chọn tra cứu Đẻ nhanh chóng đưa công trình tới taybạn đọc, chúng tôi sẽ lần lượt xuất bản từng tập sau khi biên soạnxong, và như vậy phần sách dẫn tra cứu thông tin của toàn bộ kho

thác bản sẽ chỉ được tổng hợp công bố sau khi đã xuất bản tập Thư

Trang 6

collection des estampages conserves à rinstitut de Recherches Nơm, ó chaque estampage possède sa propre cote numérique Unecote renvoie done à une feuille estampée, et à une seule Quand lastèle ne possède qu’une face, son estampage correspond à la totalité

Hán-de rinscription Mais, quand elle en possèHán-de plusieurs, y compris sestranches, alors 1’ inscription complete comporte évidemment autantd’estampages que de faces Ce catalogue, qui s’interesse au contenuplus qu’a la forme, repose dès lors sur le principe qu’a une entreecorrespond 1’intégralité de 1’inscription, e’est-a-dire un OUplusieurs estampages du monument entier (stèle OU cloche) C’est

la raison pour laquelle les entrees - classées dans 1’ordre numériquequi est celui de leurs cotes à la bibliothèque de rinstitut -comprennent tantơt une cote, tantơt plusieurs

Le contenu des entrees du catalogue, qui servira à1’établissement de la base de données informatisee des inscriptions

du Việt-Nam, repose sur quelques principes de presentation qui sontsystématiques et unifies

1 - Le titre Le titre de rinscription apparaĩt d’abord dans sa

transcription en vietnamien moderne, ensuite dans sa forme originale

en caractères hán OU nơm Si rinscription compte plusieurs

estampages, done la Stele plusieurs faces, alors nous indiquons aussi

le titre de chacun d’eux (ils sont séparé par le signe “ / ”) Les cotesdes estampages se trouvent en face des titres Bien qu’elle necorresponde pas exactement à un “titre” au sens Ó nous1’entendons aujourd’hui, e’est la premiere ligne, gravée au fronton

de la stèle, généralement en gros caractères, qui est utilisée danscette rubrique, OU, en son absence, la premiere colonne du texte lui-même Lorsque les differentes faces d’une même stèle porte chacune

un titre individuel, ces titres n’etant lies entre eux par aucunelogique de lecture qui puisse permettre de les classer, alors nous lescitons dans 1’ordre qui est celui du contenu du texte lui-même, etnon dans 1’ordre numérique des estampages Enfin, en 1’absence detitre au fronton et si la premiere colonne du texte n’indique rien,

Trang 7

alors r entree du catalogue apparaĩt sous la forme Sans titre (Vỏ đề).

2 - La localisation Cette rubrique utilise deux systèmes de

noms de lieux, Tun et 1’autre essentiels à la localisation dumonument, mais qu’il importe de distinguer soigneusement :d’abord le lieu qui figure dans 1’inscription originale, ensuite celui

Ó elle a été estampée La premiere indication, que nous donnons

en vietnamien et en caractères, est tirée du texte original etcorrespond au nom ancien de 1’endroit Ó a été érigée la Stele Laseconde, quant à elle, provient directement de la note que lesestampeurs ont inscrite en marge de 1’estampage Par consequent.,pour ce qui concerne le fonds des estampages de 1’EFEO, ce sontles toponymes d’epoque coloniale qui sont utilises La combinaisondes deux systèmes est indispensable pour localiser rinscription dans

le Việt-Nam d’aujourd’hui

3 - Les informations sur la forme Elies comprennent les

dimensions de la Stele (largeur X hauteur), la nature des caractères

utilises (hán, nơm), le nombre de colonnes du texte, une

approximation du nombre total de caractères, la presence OU non demotifs decoratifs, la presence OU non de caractères taboués (avec,s’ils existent, leur reproduction)

4 - La dotation de rinscription Nous donnons d’abord les

informations qui figurent dans le texte original, à savoir, selon lescas, tout OU partie des dates exprimées selon le triple système dunom de 1’ère de règne imperial, de son numéro d’ordre et de sonannée sexagésimale Vient ensuite, entre parenthèse, sa conversiondans le calendrier actuel Dans le cas ó 1’inscription n’est pas

datée, nous le signalons par une mention explicite (khơng ghĩ) et

foumissons, quand la chose est possible, une date approximative quiest tirée de 1’étude philologique du texte lui-même

5 - Les auteurs de rinscription Il s’agit, selon les cas, du

rédacteur, du correcteur, du calligraphe ou du graveur de1’inscription Nous indiquons, en vietnamien et en caractères, leursnoms d’usage, pseudonymes, noms de plume, village d’origine,

Trang 8

diplômes, titres et fonctions Si ces precisions sont tirées de notreenquête, et non du texte original, alors nous les écrivons entrecrochets ([ ]).

6 - Le sujet general de rinscription Il est indiqué par une OU

plusieurs des dix nomenclatures, équivalentes à des mots-clés, quenous avons retenues pour 1’ensemble du catalogue Cette indication,qui a pour but de permettre au lecteur une selection rapide desinscriptions, est un element essentiel de la future base de donnéesinformatique qui viendra clore ce programme

7 - Le contenu de rinscription Il s’agit d’un resume qui tâche

de faire saisir, en quelques lignes qui reprennent et développent lesinformations principales du texte, ce que le lecteur peut s’attendre àtrouver dans rinscription

8 - La note finale (ghì chú) Le cas échéant, cette note apporte

des precisions supplémentaires sur certaines caractéristiquesnotables de rinscription, sur la date réelle de sa composition, sur lesestampages qui en sont des doublons, OU encore sur les autresinscriptions qui ont partie liée avec elle

Le volume considerable des estampages du Việt-Nam impose uncatalogue en plusieurs tomes Cette premiere livraison en comptequatre, étant entendu que les suivants verront le jour peu à peu, àmesure de 1’avancée du travail de dépouillement

Pour faciliter la recherche d’une reference, il est d’ores et déjàconvenu que chaque tome contient exactement 2000 inscriptions,dont les cotes extremes sont indiquées sur la tranche du livre Lesindex n’ont pas été oubliés Ils viendront naturellement faciliter laselection d’inscriptions par lieux, dates, personnages, themes, etc,mais ils ne pourront paraĩtre, sous forme de tomes complémentaires,qu’une fois achevée le catalogage de la totalité des inscriptions

Le comité de redaction

Trang 9

be read on as many rubbings as there are sides This catalogue,which pays as much attention to the document’s form as its content,works from the principle that a single entry corresponds to the entireinscription, which may be represented on one or several rubbings ofthe entire monument (stele or bell) That is why the entries, whichare listed in the numerical order of the index in the Institute’slibrary, sometimes includes a single reference number, sometimesseveral.

The content of the catalogue entries, which will serve for theestablishment of a computer database of Vietnamese inscriptions, isbased on several systematic and internally consistent principles ofpresentation

1 - The Title The inscription’s title appears first in

transcription into modern Vietnamese, then in its original form inHan or Nom characters If the inscription covers more than onerubbing - more than one side of a stele - we indicate the number ofeach (separated by the sign ‘ / ’) The rubbing reference numbersappear opposite the titles Although it does not correspond exactly

to the idea of a ‘title’ in the sense we understand today, the first line

of the inscription, generally in large characters engraved on the

Trang 10

pediment of the stele, is used for this rubric; alternatively, in theabsence of this line, the first column of characters in the text itself isused When the different sides of the same stele each bear their owntitle and these titles are not linked by any discernible logic allowing

US to classify them, we cite them in the order of the text’s content,and not in the order of the rubbing’s reference numbers Finally, inthe absence of a pediment title and if nothing is indicated in the first

column of the text, the catalogue entry bears the record No title (Vô

đề).

2 - Localisation This rubric uses two place name systems.

Both are essential to the geographic localisation of the monumentbut they should be carefully distinguished They are the placementioned in the original inscription, and the place where therubbing was made The first name, given in Vietnamese andcharacters, is taken from the original text and corresponds to theancient name of the place where the stele was erected The secondcomes directly from the note made by the rubbing team in themargin of the rubbing As a result, for the EFEO collection ofrubbings, colonial toponyms are used The combination of bothsystems is indispensable for the localisation of the inscription intoday’s Vietnam

3 - The inscription’s form This is drawn from observations

made on the rubbing and includes its dimensions (width X height),the nature of the characters used (hán, nôm), the number of columns

in the text, an estimate of the total number of characters, thepresence or otherwise of decorative motifs, the presence orotherwise of taboo characters (and their reproduction, if they exist)

4 - The inscription’s date We first provide the information

figuring in the original text, which may include all or part of thedate expressed in the ancient triple dating system: imperial reign eraname, year order number within that era and sexagesimal yearname There follows, in brackets, the date’s conversion into today’s

Trang 11

calendar When the inscription is not dated, this is mentioned in an

explicit note (không ghi) and we provide - where possible - an

approximate date based on a philological reading of the text itself

5 - The inscription s authors These may include the writer, the

corrector, the calligrapher and the engraver of the inscription Weindicate, in Vietnamese and characters, their common names,

pseudonyms, noms de plume, village of origin, diplomas, titles and

offices If these details are drawn from our own research, and notfrom the original text, they are placed between square brackets([ ])

6 - The inscription’s general subject This is indicated under

one or several headings, equivalent to key words, used throughoutthe catalogue This note, allowing the reader to make a rapidselection of the inscriptions, is an essential element of the futurecomputer database which will form the final stage of theprogramme

7 - The inscription’s content This aims to offer, in a few lines

summarising the most important information in the text, a clear idea

of what the reader may expect to find in the inscription

8 - The final note (ghi chú) This note may contain further

details of noteworthy characteristics of the inscription, on the realdate of its composition, on rubbings which are doubles, or on otherinscriptions which may bear a relation with this one

The great volume of Vietnamese rubbings requires a catalogueconsisting of several volumes The first stage of publication Fourvolumes will be published in the first instance; others will followgradually, as the work proceeds To facilitate the search forreferences, each volume will contain exactly 2,000 inscriptions, ofwhich the first and last reference numbers are indicated on the spine

of the book The indexes have not been forgotten They will

Trang 12

naturally facilitate the selection of inscriptions by place name, date,person, theme, etc, but will be published in further volumes onlyafter completion of the entire catalogue of inscriptions.

The Authors

Trang 13

Hậu phật bi kí/Điền mẫu kí

Kí hiệu: 12001/12002Thác bản bia giáp Đông giáp Bắc xã Ngư Uyên huyện Giáp Sơn phủ

Kinh Môn #'J T Ậ ĩ7, sưu tầm tạichùa Linh Tương xã Ngư Uyên tổng An Lưu phủ Kinh Môn tỉnhHải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 33 X 50cm, gồm 30 dòng chữ Hán và Nôm,toàn văn ước khoảng 400 chữ, không có hoa văn, không có chữhúy

Niên đại: Chiêu Thống thứ 1 (1787)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Xây dựng, trùng tu di tích

- Sinh hoạt làng xã

Tóm lược nội dung:

Bà Nguyễn Thị Khuê hiệu Diệu Quang là vợ ông họ Vũ tự Thời Cửngười xã Ngư Uyên, đã cúng cho giáp Đông và giáp Bắc bản xã 30quan tiền cổ để tu bổ chùa Phật và 5 sào ruộng để xin gửi giỗ tại

chùa Quan viên, hương lão, dân làng tôn bầu bà làm Hậu phật.

Nay lập bia ghi qui định lệ cúng biếu và thể thức cúng giỗ, có ghi

vị trí, diện tích các thửa ruộng tiến cúng

Tam quan hồng kiều bi/Tu tạo thạch lộ bi

Kí hiệu: 12003/12004Thác bản bia sưu tầm tại động Kính Chủ xã Dương Nham tổngDương Nham phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

17 [ THỨ VIẸN HÀ NỘI

<HVt

Trang 14

Thác bản 2 mặt, khổ 45 X 58cm, gồm 32 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 900 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy.

Niên đại: Hoàng Định thứ 6 (1606)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội dung:

Ghi họ và tên các vị hưng công, thiện nam, tín nữ đã có công đức tínthí tiền bạc để xây dựng tam quan, cầu và con đường đá cho chùaDương Nham tại động Kính Chủ Như hưng công Nguyễn ĐứcKhiêm, Nguyễn Kim Quế, Nguyễn Thị Tốt, v.v Nay lập bia ghilại

[Vô đềỊ

Kí hiệu: 12005Thác bản bia sưu tầm tại động Kính Chủ xã Dương Nham tổng

Dương Nham phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 34 X 49cm, gồm 12 dòng chữ Hán, toàn vãn ướckhoảng 200 chữ, không có hoa văn, có chữ húy: Trừ

Niên đại: Thịnh Đức thứ 1 (1653)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Công văn triều đình (sắc, lệnh, chỉ dụ)

Tóm lược nội dung:

Do xã Kính Chủ có nghề chạm khắc đá, nay lệnh cho quan viên xã

thôn trưởng, lấy các mẫu bia đá, rùa đá để làm bia Chế khoa Tiến sĩ

chư khoa đề danh bi kí dùng ở cửa nhà Quốc học Đây là công việc

có ý nghĩa Vậy nha môn thừa ti bản xứ và nha môn bản phủ bảnhuyện hãy chuẩn cho miễn trừ sưu sai tạp dịch cho các hộ xã Kính

Trang 15

Chủ để khoan sức dân.

[Vô đề]

Kí hiệu: 12006Thác bản bia sưu tầm tại động Kính Chủ xã Dương Nham tổng

Dương Nham phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 55 X 67cm, gồm 9 dòng chữ Hán, toàn vãn ướckhoảng 80 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Tự Đức năm Nhâm Tuất (1862)

Người soạn: Trương Quốc Dụng ; chức vị: Thượng thư Bộ Hình, PhóTổng tài

Chủ đề: - Thơ vãn

Tóm tược nội dung:

Vào năm Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức quan Thượng thư Bộ HìnhTrương Quốc Dụng hành quân qua núi Kính Chủ Cảm thán côngỉao phá giặc Nguyên Mông của tướng quân Phạm Ngũ Lão đờiTrần, đã làm bài thơ khắc vào bia đá để bày tỏ sự kính phục củamình đối với tiền nhân

Trùng tu Duong Nham tự thạch bi

Kí hiệu: 12007Thác bản bia xã Kính Chủ huyện Giáp Sơn ỉỉMitìíA, sưu tầm tại độngKính Chủ xã Dương Nham tổng Dương Nham phủ Kinh Môn tỉnhHải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 130 X 168cm, gồm 32 dòng chữ Hán, toàn vănước khoảng 1600 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Đại Chính thứ 3 (1532)

Người soạn: Vũ Cán hiệu Tùng Hiên ; quê quán: xã Trạch Xuyên

Trang 16

huyện Đường An; học vị: Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất [niên hiệu CảnhThống thứ 5 (1502) đời vua Lê Hiến Tông]; chức vị: Lễ bộ Thượngthư, tước Lễ Độ bá.

Chủ đề: - Lịch sử di tích

- Xây dựng, trùng tu di tích

- Thơ văn

Tótn lược nội dung:

Chùa Dương Nham nằm trong động trên sườn phía đông núi, hồi xưa

là nơi vua Lý Thần Tông thường lui tới, về sau vua Lê Thánh Tôngcũng từng tới đề thơ Trải qua chiến tranh binh hỏa, chùa bị hưhỏng Tháng 12 năm Canh Dần (1530), các sãi vãi của chùa cùngdân hai thôn Trung và thôn Tây quyên góp được 900 quan tiền đồngtiến hành trùng tu tòa thượng điện, hành lang tạc tượng Phật, Thánh,trên tường vẽ các bức tranh khuyến giới Công trình hoàn thành,chùa mở lễ suốt 7 ngày đêm, tín thí bốn phương đến lễ, cúng tiến,cộng hai lần được 2000 quan Nay khắc bia lưu truyền đời sau Cóbài minh

Ghi chủ' Thác bản mờ.

An kinh pháp phật tăng bảo giá

Kí hiệu: 12008Thác bản bia sưu tầm tại động Kính Chủ xã Dương Nham tổngDương Nham phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 47 X 56cm, gồm 8 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 80 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Vĩnh Tộ thứ nhất (1619)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Hành trạng, công tích nhân vật

Trang 17

Tóm lược nội dung:

Óng Nguyễn Văn Ngũ hiệu Phúc Điền cùng vợ Lê Thị Dựng hiệu TừThái người xã Uy Viễn huyện Gia Viễn phủ Trường An đạo Sơn

Nam tự tay khắc bộ An Kinh vào đá cúng vào chùa Dương Nham,

được nhà chùa khắc bia kỉ niệm

[Vô đề]

Kí hiệu: 12009Thác bản bia sưu tầm tại động Kính Chủ xã Dương Nham tổng

Dương Nham phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 44 X 63cm, gồm 13 dòng chữ Hán và Nôm, toànvãn ước khoảng 250 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: không ghi

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Ngày 27 tháng 8 năm Mậu Thìn, quan Thừa Chánh trấn quan bản hạt

đi du ngoạn núi này, cảm khái đề hai bài thơ nhan đề Kính Chủ sơn

thi và Hựu Kính Chủ vân để, nội dung ca ngợi cảnh đẹp núi sông

đất nước, ngoài ra còn có một câu đối Nôm

Duong Nham

Kí hiệu: 12010Thác bản bia sưu tầm tại động Kính Chủ xã Dương Nham tổng

Dương Nham phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 85 X 98cm, gồm 11 dòng chữ Hán, toàn vàn ướckhoảng 111 chữ, khồng có hoa vãn,có chữ húy: Lí X

Niên đại: Triều Trần (1225 - 1400)

Người soạn: Phạm Sư Mạnh kỀÉí-ẳ hiệu Hiệp Thạch quê quán: làng

Trang 18

Giáp Sơn huyện Giáp Sơn tỉnh Hải Dương; chức vị: Nhập nội Hànhkhiển tri khu mật viện sự, sau thăng Nhập nội nạp ngôn.

Chủ đề: - Thơ văn

Tỏm lược nội dung:

Phạm Sư Mạnh vâng chiếu đi duyệt quân đội thuộc ngũ lộ, giữađường lên vãn cảnh núi Thạch Môn, tức cảnh đề lên vách đá bài thơ

14 câu ngũ ngôn, miêu tả cảnh sắc núi sông, tưởng nhớ tới chiếncông lẫy lừng đánh bại quân giặc Nguyên Mông

Thiên Nam động chủ đề

Kí hiệu: 12011Thác bản bia sưu tầm tại động Kính Chủ xã Dương Nham tổng

Dương Nham phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 76 X 130cm, gồm 20 dòng chữ Hán, toàn vănước khoảng 200 chữ, không có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: không ghi

Người soạn: vua Lê Thánh Tông ÍT, hiệu Thiên Nam Động Chủ ^ĨỈJ/|S]Ì

Người viết: Hoàng Hoàn ; chức vị: Ngự tiền Học sinh

Chủ đề: - Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Vua Lê Thánh Tông thân hành dẫn chiến thuyền đi duyệt binh, trênđường trở về lên thãm núi Thạch Môn đề thơ khắc lưu lên vách đá.Bài thơ gồm 22 câu thất ngôn, nội dung ca ngợi cảnh đẹp đất nước,thể hiện chí nguyện nối nghiệp các bậc tiên vương đời trước

Trang 19

Trùng tu Võ chức bi kí

Kí hiệu: 12012/12013/12014Thác bản bia xã cổ Tân tổng cổ Biện huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn

Cổ Tân xã cổ Tân tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương Thác bản 3 mặt, khổ 15 X 48cm và 48 X 90cm, gồm 49 dòng chữ Hán, toàn vãn ước khoảng 1600 chữ, không có hoa văn, không có chữhúy

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 15 (1754)

Người soạn: Nguyễn Đỗ Thi quê quán: xã Huề Trì; họcvị: Sinh đồ

Người viết: Nguyễn Vĩnh ỈVcẶẬ; quê quán: xã La Xá; học vị: Sinhđồ

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Xây dựng, trùng tu di tích

- Sinh hoạt làng xã

- Thơ vãn

Tóm lược nội dung:

Đền thờ các vị võ chức của tổng cổ Biện huyện Giáp Sơn vôn đã có từtrước tại chợ cổ Biện Sau đó được trùng tu, nhưng vừa mới xâyxong móng đá thì gặp phải binh hỏa những năm Tân Dậu và NhâmTuất, nên đành phải bỏ dở Đen nay gặp buổi thái bình, các hội viênthuộc 9 xã trong tổng góp mỗi người 3 mạch tiền cổ, lại tiến hànhtôn bầu các vị cao niên trong tổng làm Hậu hiền, bán các chứcNông trưởng tổng, Câu đương để lấy tiền tu sửa võ miếu, muaruộng để chi dùng cho thờ phụng Bia dành một mặt để khắc tên các

vị Tiên hiền thuộc võ chức được thờ ở võ miếu, họ và tên các vịđược tôn bầu cùng số tiền, số ruộng tiến cúng Có bài minh

Trang 20

[Vô đề]

Kí hiệu: 12015/12016/12017Thác bản bia tổng cổ Biện huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #>J lố, sưutầm tại văn chỉ tổng cổ Tân ở xã cổ Tân tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Tóm lược nội dung:

Hội Tư võ tổng cổ Biện lập bia ghi họ và tên những vị Hậu hiền đượcthờ tại võ miếu bản tổng Ghi rõ họ và tên những người đã tiếncúng tiền và ruộng cho Hội Tư võ, vị trí các thửa ruộng tiến cúng

Trang 21

Thác bản 2 mặt, khổ 56 X 73cm, gồm 47 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 1800 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.

Niên đại: Bảo Thái thứ 1 (1720)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Xây dựng, trùng tu di tích

- Sinh hoạt làng xã

- Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Tháng 4 năm Canh Tí (1720) nhà sư Viên Lâm người thôn Đông xãCam Đường trụ trì chùa Linh Đài ở thôn Trụ xã Vĩnh Trụ huyệnChí Linh phủ Nam Sách, nhân thấy cây cầu Mạn ở giữa địa phậnhai xã Huề Trì và cổ Biện bị hư hỏng, trở ngại sự đi lại của dânchúng, bèn đứng ra quyên góp tiền của, mua gỗ gọi thợ bắc lạichiếc cầu mới có 3 gian 2 chái, bên trên lợp ngói Công việc hoànthành, dựng bia khắc họ và tên các vị hưng công, hội chủ nhữngngười có công đức đã tiến cúng tiền bạc để tu bổ cầu Có bài minh

Tu tạo Võ chức bi

Kí hiệu: 12020Thác bản bia xã cồ Biện huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #'J /TÍT, sưu

tầm tại văn chỉ tổng cổ Tân xà cổTân tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 100 X 135cm, gồm 34 dòng chữ Hán, toàn vănước khoảng 1100 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Dương Đức thứ 1 (1672)

Người soạn: Nguyễn Lộc quê quán: xã Bồ Bản; học vị: Nho sinh;chức vị: Trưởng tư vãn bản tổng

Trang 22

Người viết: Nguyễn Tiến Hiền IVõiíÈquê quán: xã Quế Lĩnh; học vị:Sinh đồ.

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

- Hành trạng, công tích nhân vật

- Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Quan viên sắc mục 9 xã (Cổ Biện, La Xá, Huề Trì, Kim Tuyền, QuếLĩnh, Bồ Bản, Vân Ỏ, Yên Lăng, Nghĩa Võ) thuộc tổng Cổ Biệndựng bia ghi họ và tên các vị Tiên hiền võ chức thờ ở võ miếu bảntổng Có bài minh

Hậu thần bi kí

Kí hiệu: 12021/12022Thác bản bia thôn Độ xã An Lưu Hạ huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn

#4 H Ế? sưu tầm tại nhà thờ họNguyễn xã An Lưu Trung tổng An Lưu phủ Kinh Môn tỉnh HảiDương

Thác bản 2 mặt, khổ 41 X 88cm, gồm 32 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 1150 chữ, có hoa văn, có chữ húy: Thành SI

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 31 (1770)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Thơ vãn

Tóm lược nội dung:

Ông Chánh đội trưởng, Trung úy Trịnh Sĩ Thùy người xã Cự Lãnghuyện Nông cống phủ Tĩnh Gia xứ Thanh Hoa cùng vợ là NguyễnThị Kiều người thôn Độ cúng cho xã An Lưu Hạ 100 quan tiền sử

và 3 mẫu ruộng, cho riêng thôn Độ 3 mẫu ruộng, cho xã Kinh Ưu

30 quan và 3 mẫu ruộng để gửi giỗ cho nhạc phụ mẫu Quan viên,

dân thôn Độ xã An Lưu Hạ tôn bầu bố mẹ bà ỉà ông họ Nguyễn tự

Trang 23

Phúc Nhân vù bà họ Nguyễn hiệu Diệu Thuần làm Hậu thần Dân

xã Kinh Ưu bầu ông bà của bà Nguyễn Thị Kiều làm Hậu thần Ghicác qui định thể thức cúng giỗ và vị trí, diện tích các thửa ruộng Cóbài minh

Tân tạo thạch bi

Kí hiệu: 12023Thác bản bia thôn Độ xã An Lưu Hạ huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn

đạo Hải Dương nước Đại Việt /ẬlMyìOÚ

J4 TÍL/Ẩ#, sưu tàm tại chùa Thắng Phúc xã An Lưu Hạ tổng AnLưu phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 1 mặt, khổ 46 X 75cm, gồm 14 dòng chữ Hán và Nôm, toànvăn ước khoảng 200 chữ, có hoa văn, có chữ húy: Tân

Niên đại: Dương Đức thứ 3 (1674)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Bà Nguyễn Thị Non người thôn Độ nhớ đến công đức của cha mẹkhông biết lấy gì báo đáp đã cúng vào chùa Phúc Thắng 3 mẫuruộng để xin gửi giỗ cho cha ông họ Nguyễn tự Hiền Hạnh vàochùa Quan viên, dân làng tôn bầu ông họ Nguyễn tự Hiền Hạnhlàm Hậu phật Bia có ghi vị trí, diện tích các thửa ruộng tiến cúng

Ghi chứ Niên hiệu Dương Đức chỉ đến năm 1673 (Dương Đức thứ

2), niên đại thác bản ghi Dương Đức thứ 3, tức niên hiệu ĐứcNguyên thứ 1 (1674) đời vua Lê Gia Tông

Hậu thần bi kí

Kí hiệu: 12024/12025Thác bản bia thôn Độ xã An Lưu Hạ huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn

Trang 24

#«J ỉì /ft ill }?Ặ -í- è? T Í-L #, sưu tầm tại đình xã An Lưu Hạ tổng

An Lưu phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 50 X 90cm, gồm 18 dòng chữ Hán và Nôm, toànvăn ước khoảng 500 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 12 (1751)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Bà Hoàng Thị Bài người bản ấp đã cúng cho bản xã 100 quan sử tiền

và 1 mẫu ruộng, bà họ Phạm hiệu Từ Đức cúng cho bản xã 80 quan

sử tiền và 8 sào ruộng, bà Hoàng Thị Pháp cúng cho xã 100 quan sửtiền 1 mẫu ruộng, bà Mạc Thị Chiêm cúng cho xã 100 quan sử tiền

4 sào ruộng, bà Mạc Thị Yêm cúng cho xã 100 quan sử tiền và 4sào ruộng Quan viên, hương lão, dân làng đã thuận bầu các bà làmHậu thần Sau này các Hậu thần 100 tuổi bản xã sẽ cúng mỗi người

1 mâm cỗ Ghi vị trí các thửa ruộng cúng tiến và ngày giỗ của từngngười, nghi lễ cúng giỗ các Hậu thần hàng năm Có bài minh

Trúc Lâm son Thắng Phúc tự/Sáng tạo bi kí

Bề-ìễ Ỷ / £'J

Kí hiệu: 12026/12027Thác bản bia xã An Lưu Hạ huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #'J TÍL,sưu tầm tại chùa Thắng Phúc xã An Lưu Hạ tổng An Lưu phủ KinhMôn tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 47 X 77cm, gồm 60 dòng chữ Hán và Nôm, toànvãn ước khoảng 2800 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Bảo Thái thứ 6 (1725)

Người soạn và viết: Hoàng Long quê quán: xã An Lưu Hạ; học vị:

Trang 25

Tóm lược nội dung:

Chùa Thắng Phúc theo dòng thiền Trúc Lâm, do Thánh tổ triều Trần

là Điều Ngự Hoàng đế khai sáng Con trai ngài là Văn Huệ Vươngcùng Thái trưởng công chúa Thượng Trâm đã cúng ruộng vào chùa

Tổ sư tự Chân Chính đã tu tạo thượng điện, đài thiêu hương, 3 giantiền đường, tam quan và đúc chuông Hòa thượng Huệ Bình tựChân Phúc đã tu tạo hậu đường, gác chuông, tả hữu hành lang v.v Nay nhà sư trụ trì chùa là Tuệ Trúc thiền sư khắc bia ghi lại côngđức khai sáng của nhà vua cùng các vương đời Trần và các vị thiền

sư các đời trụ trĩ ở chùa và ghi các thửa ruộng thờ cúng của chùa

Có bài minh

Tư văn bi kí/Trùng tu bi kí

Kí hiệu: 12028/12029Thác bản bia xã Yên Lăng huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #|J M sưutầm tại văn chỉ xã Yên Lăng tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh HảiDương

Thác bản 2 mặt, khổ 45 X 75cm, gồm 26 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 700 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 47 (1786)

Người soạn: Trần Trọng Đảm íậ.í+Bi; quê quán: xã Dục Kì huyệnThanh Lâm; chức vị: Tri huyện

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Trang 26

- Sinh hoạt làng xã.

- Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Vãn chỉ cũ của xã nguyên đặt ở phía sau đình làng, tế lễ không đượcthuận tiện Nay các sắc mục và hội viên Hội Tư văn đứng ra quyêngóp dời vãn chỉ xây lại tại phía bên phải đình làng Bia ghi họ vàtên các vị hội chủ đóng góp vào việc xây dựng văn chỉ, họ và tênnhững người được tôn bầu làm Hậu hiền Ghi số tiền, số ruộng củacác vị Hậu hiền đã cúng tiến Có bài minh

Tư vũ bi kí/Trùng tu bi kí

Kí hiệu: 12030/12031Thác bản bia xã Yên Lăng huyện Giáp Sơn phủ Kinh Mồn #'J n Ãậ-ÍTẲÍL, sưu tầm tại văn chỉ xã Yên Lăng tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 44 X 80cm, gồm 21 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 400 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 47 (1786)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

- Lịch sử di tích

- Sinh hoạt làng xã

Tóm lược nội dung:

Bia gồm 2 mặt được khắc vào thời điểm khác nhau: Mặt I (nhan đề

Từ vũ bi kí): xã Yên Lãng chọn được thế đất đẹp bèn khởi công xây

dựng võ miếu để thờ phụng những quan võ người địa phương cócông đánh giặc Bia ghi họ và tên các vị Hậu hiền được phụ thờ do

Trang 27

đã đóng góp xây dựng võ miếu Mặt II (nhan đề Trùng tu bi kĩ):

Năm Canh Thìn (1760), các quan viên thấy đền cũ đặt ở phía sauđình, lâu ngày mưa gió hư hại, không tiện cho việc tế lễ, bèn chuyểnsang xây lại ở bên phải đình và tiến hành bàu lại Hậu hiền, khắc ghi

họ và tên các vị Hậu hiền, số tiền, số ruộng của từng người tiếncúng lên mặt tấm bia cũ

Tạo Quang Lâm tự/Kiến thạch t(i kí

Kí hiệu: 12032/12033/12034/12035Thác bản bia thôn Đông Hà xã cổ Biện huyện Giáp Sơn phủ KinhMôn đạo Hải Dương

#, sưu tầm tại chùa Quang Lâm xã Đông Hà tổng cổ Tân phủ KinhMôn tỉnh Hải Dương

Thác bản 4 mặt, khổ 41 X 75cm và 12 X 68cm, gồm 40 dòng chữ Hán

và Nôm, toàn văn ước khoảng 900 chữ, không có hoa văn, có chữhúy: Tân Cửu

Niên đại:Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714)

Người soạn: tự Chân Hồng ỳí chức vị: Hòa thượng

Người viết: Hoàng Thời Vượng quê quán: xã An LưuHạ; học vị: Sinh đồ

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

Tóm lược nội dung:

Bia ghi lại quá trình xây dựng chùa Quang Lâm ở thôn Đông Hà donhà sư trụ trì tự Tuệ Trúc người Lũng Bắc huyện An Dương phủKinh Môn đạo Hải Dương cùng dân thôn tiến hành Tháng 3 nămBính Tuất (1706) mở núi xây chùa, tháng 9 tạc 8 pho tượng Phật,tháng 12 năm Đinh Hợi (1707) xây thượng điện 1 gian 2 chái, nhàthiêu hương 1 gian Khi công việc hoàn tất lại gặp buổi thái bìnhthịnh trị bèn dựng bia ghi lại việc này lưu truyền cho hậu thế Ghi

họ và tên các vị hưng công, hội chủ và những người đã cúng tiếntiền của để xây dựng chùa, cúng ruộng làm ruộng Tam bảo Có ghi

Trang 28

rõ diện tích, vị trí các thửa ruộng Tam bảo.

Trà Son thiền tự/Công đức bi kí

Kí hiệu: 12036/12037Thác bản bia xã Huề Trì huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #>J

‘fc&ili SfcSlb'iMA, sưu tầm tại chùa Trà Sơn xã Huề Trì tổng cổTân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 58 X 88cm, gồm 31 dòng chữ Hán và Nôm, toànvăn ước khoảng 750 chữ, có hoa văn, có chữ húy: Tân

Niên đại: Bảo Thái thứ 2 (1721)

Người soạn và viết: Tuệ Trân chức vị: Nhà sư

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Xây dựng, trùng tu di tích

- Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Ghi việc, vào năm Ất Dậu (1705), ông Nguyễn Văn Trắc tự PhúcKính và vợ là Nguyễn Thị Triền cúng tiền dựng tòa thượng điệnchùa Trà Sơn Nay lập bia ghi lại công đức, ghi họ và tên các vịhưng công, những người cùng đóng góp tiền của sửa chùa Trà Sơn

Có bài minh

(Vô đề]

Kí hiệu: 12038/12039Thác bản bia xã Huề Trì huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #'J sưu tầm

tại chùa Trà Sơn xã Huề Trì tổng cổTân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 50 X 85cm, gồm 24 dòng chữ Hán và Nôm, toànvăn ước khoảng 650 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: không ghi

Người soạn: không ghi

Trang 29

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.

- Sinh hoạt làng xã

Tóm lược nội dung:

Bia ghi họ và tên những người đã có công đức mua ruộng cúng vàochùa Trà Sơn làm ruộng Tam bảo vào các năm Hồng Đức thứ 7(1476), Hoàng Định thứ 16 (1615), Chính Hòa thứ 11 (1690), ThịnhĐức thứ 4 (1656) và Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) Ghi cụ thể vị trí, diệntích các thửa ruộng của từng người

Tư vũ bi kí

Kí hiệu: 12040/12041Thác bản bia xã Huề Trì huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #'J sưu tầm tại Võ miếu xã Huề Trì tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương.Thác bản 2 mặt, khổ 38 X 88cm, gồm 18 dòng chữ Hán và Nôm, toàn

vãn ước khoảng 450 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 27 (1766)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

- Sinh hoạt làng xã

- Thơ vãn

Tóm lược nội dung:

Hội Tư võ xã Huề Trì mới được thành lập, nay quyên góp xây dựng

võ miếu ở xứ Đình Tương Bia ghi họ và tên các vị Hậu hiền, sốruộng của từng người tiến cúng vào võ miếu làm tự điền Có bàiminh

[Vô đề]

Kí hiệu: 12042/12043Thác bản bia xã Huề Trì huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #>J sưu tầm tại võ miếu xã Huề Trì tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Trang 30

Thác bàn 2 mặt, khổ 50 X 89cm, gồm 29 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 500 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy.

Tóm lược nội dung:

Võ miêu xã Huề Trì vốn đã có nhưng việc thờ cúng còn sơ sài Naynhân cuộc sống đã khá giả dần, bèn vời thợ về làm chiếc bàn thờbàng đá Công việc hoàn thành, dựng bia đá thuật lại sự việc, ghi họ

và tên các vị Hậu hiền, trong đó có phần danh sách các vị được ghi

bổ sung vào năm Ất Hợi Có ghi rõ lệ định của Hội Tư võ bản tổngnhư sau: người nào được bầu làm hội viên phải tiến cúng vào Hội 2quan tiền cổ, 1 mâm xôi, 1 con gà, 1 chai rượu và 1 tráp trầu cau

Có bài minh

[Vô đề]

Kí hiệu: 12044/12045/12046/12047' Thác bản bia xã Huề Trì huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #’J sưu tầm tại võ miếu xã Huề Trì tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương.Thác bản 4 mặt, khổ 45 X 82cm và 15 X 82cm, gồm 42 dòng chữ Hán

và Nôm, toàn văn ước khoảng 1500 chữ, không có hoa văn, không

Trang 31

Tóm lược nội dung:

Ghi việc Hội Tư võ xã Huề Trì đóng góp tiền của xây bàn thờ đá võmiếu chi phí hết 80 quan tiền cổ và dựng bia 24 quan tiền cổ Ghi

họ và tên các vị Hậu hiền, chia ra hai phần: Danh sách Hậu hiềnsoạn năm Đinh Mùi và danh sách Hậu hiền soạn lại năm Ất Hợi Cóghi rõ lệ định: người nào gia nhập Hội phải cúng 2 quan 3 mạch tiền

cổ và 1 tráp trầu cau Có bài minh

Tư văn bi kí

Kí hiệu: 12048/12049Thác bản bia xã Huề Trì huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #|J

Ạ& Sậ , sưu tầm tại văn chỉ xã Huề Trì tổng cổ Tân phủ Kinh Môntỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 38 X 75cm, gồm 28 dòng chữ Hán và Nôm, toànvãn ước khoảng 600 chữ, có hoa vãn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 13 (1752)

Người soạn và viết: Nguyễn Đỗ Thi học vị: Sinh đồ

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

- Sinh hoạt làng xã

- Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Xã Huề Trì vốn đã thành lập Hội Tư văn, nhưng nơi thờ phụng Tiênhiền chưa được trang nghiêm, trọng thể Đen nay, cuộc sống đã trởnên khá giả hơn, bèn hợp sức xây dựng tòa vãn chỉ ở xứ Vườn Táo.Ghi họ và tên các vị Hậu hiền và những người đóng góp ruộng thờcủa văn chỉ Có ghi rõ lệ định: số ruộng đã cúng vào Hội chỉ đượclấy tiền hoa lợi lo việc cúng tế, không được đem bán Người nàovào Hội phải nộp 1 quan tiền, 1 chai rượu, 1 mâm xôi và 1 con gà

Có bài minh

Trang 32

[Vô đề]

Kí hiệu: 12050/12051Thác bản bia xã Huề Trì huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #'J

!?£iF/iMA, sưu tầm tại văn chỉ xã Huề Trì tổng cổ Tân phủ Kinh Môntỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 75 X 115cm, gồm 38 dòng chữ Hán, toàn vănước khoảng 1800 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy.Niên đại: Quang Trung thứ 1 (1788)

Người soạn: Nguyễn Xuân Huy học vị: Sinh đồ

Người viết: Nguyễn Xuân Dục F/t^^; quê quán: xã Kính Chủ; học vị:Sinh đồ

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích

- Sinh hoạt làng xã

- Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Hội tư văn xã Huề Trì đóng góp xây dựng bàn thờ đá ở văn chỉ chi phíhết 80 quan, dựng bia hết 26 quan Ghi họ và tên các vị Hậu hiền(theo sổ biên chép năm Át Dậu), họ và tên những người cúng ruộngthờ của vãn chỉ Lại ghi rõ lệ định người nào vào Hội phải đóng 3quan tiền, 1 con lợn, 1 vò rượu, 1 mâm xôi và 1 tráp trầu cau Trước

đó phải đem 1 phong trầu cau 5 miếng đem đến trình với Văntrưởng dể cả Hội Tư văn đều biết Có bài minh

Hoàng triều vạn vạn tuế/ Hậu phật bi kí/ Hậu thần bi kí

Kí hiệu: 12052/12053/12054/12055Thác bản bia xã Bồ Bản huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #’J f Ạ& ill

sưu tầm tại chùa Linh Quang xã Bẳ Bản tổng

Cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Trang 33

Thác bản 4 mặt, khổ 30 X 75cm, gồm 49 dòng chữ Hán, toàn vãn ướckhoảng 1650 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.

Niên đại: Chính Hòa thứ 25 (1704)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Bà Đặng Thị Cãn người xã Bồ Bản vốn thuộc dòng lệnh tộc, lấy ôngĐông Lĩnh hầu họ Nguyễn tự Huyền Bảo, sinh ra hai con trai làNguyễn ích Khuê và Nguyễn ích Chửng, bẩm tính đều thông minh,giỏi về quân sự Nay bà Nguyễn Thị Tuyển con của ông Nguyễn íchKhuê cúng tiền ruộng cho xã để mua Hậu thần, Hậu phật cho ông

bà, cha mẹ và chú thím Quan viên, hương lão, dân xã đồng ý vàkhắc các văn bản bầu của xã Ghi rõ số tiền, số ruộng tiến cúng vàqui định thể lệ cúng giỗ cho từng Hậu thần, Hậu phật

Hậu thần bi kí

Kí hiệu: 12056/12057Thác bản bia xã Bồ Bản huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #'J

^|1| sưu tầm tại đình xã Bồ Bản tổng cổ Tân phủKinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 52 X 85cm, gồm 27 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 500 chữ, có hoa văn, có chữ húy: Cửu

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 20 (1759)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Tóm lược nội dung:

Bốn ông họ Nguyễn tự Phúc Toàn, tự Thiện Tính, tự Phúc Y, tự Phúc

Trang 34

Tào đã cúng cho xã tổng cộng 84 quan tiền cổ và 9 sào ruộng Thập

lý hầu họ Nguyễn tự ích Hậu hiệu Phúc Năng đã cúng cho xã 20quan tiền cổ và 2 sào ruộng Quan viên, hương lão và dân làng tônbầu các ông kể trên làm Hậu thần Ghi vị trí các thửa ruộng cúngtiến và nghi lễ cúng giỗ các Hậu thần hàng năm

Sáng tạo từ vũ/Tư văn bi kí

Kí hiệu: 12058/12059/12060/12061Thác bản bia xã Vân Ổ huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #'J sưu tầm tạivăn chỉ xã Vân Ổ tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương.Thác bản 4 mặt, khổ 31 X 65cm và 11 X 63cm, gồm 31 dòng chữ

Hán, toàn vãn ước khoảng 750 chữ, không có hoa vãn, không cóchữ húy

Tóm tược nội dung:

Xã Vân Ó nằm ở nơi cát địa linh thiêng trước đây nhiều người đỗ đạikhoa, con cháu nối nhau đỗ đạt Nhưng do binh hỏa hoặc do chưakịp dựng bia ghi tên các vị Tiên hiền Nay các quan viên chức đãcùng các vị văn thân lập bia ghi họ và tên những người đỗ đạt từtrước đến nay để ca ngợi công đức của họ cùng lưu truyền mãi mãicho hậu thế Bia ghi họ và tên các vị Tiên hiền đỗ đạt qua các đời,

họ và tên các vị Hậu hiền được phối thờ tại văn chỉ Có bài minh

Trang 35

Tuông Vân thiền tự

Kí hiệu: 12062/12063

Thác bản bia xã Vân Ố huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn p^/ft ill $ ịểj

ịỉ, sưu tầm tại chùa Tường Vân xã Vân Ổ tổng

Cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 51 X 62cm và 20 X 66cm, gồm 18 dòng chữHán, toàn văn ước khoảng 400 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.Niên đại: Bảo Thái thứ 2 (1721)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Xây dựng, trùng tu di tích.

- Thơ văn

Tóm lược nội dung:

Nhà sư Tuệ Hưng trụ trì chùa Tường Vân là người xã Quỳnh Khêhuyện Kim Thành Từ ngày về đây trụ trì, nhà sư đã có nhiều cônglao xây dựng, tu bổ điện đài, đúc chuông, xây lầu gác chuông, trồngcác loại cây thông, cây cau khiến chùa trở nên khang trang Naydựng bia ghi lại việc này để ca tụng công lao của thiền sư và lưutruyền cho hậu thế Ngoài ra còn ghi công của hưng công, hội chủ

Vũ Thị Chúc hiệu Diệu sắc đã có công xây dựng tiền đường và tạctượng long thần, ngọc hoàng; công của hưng công, hội chủ Vũ Lễ

tự Phúc Quảng đã có công trùng tu tiền đường Có bài minh

Sáng lập Tư văn/Tiên hiền Hậu hiền/Bi/Kí

Kí hiệu: 12064/12065/12066/12067Thác bản bia thôn Thượng Xá xã La Xá huyện Giáp Sơn phủ Kinh

Thượng Xá tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 4 mặt, khổ 45 X 66cm và 20 X 66cm, gồm 34 dòng chữ

Trang 36

Hán, toàn vãn ước khoảng 1050 chữ, không có hoa văn, có chữ húy:Thành Z®.

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 35 (1774)

Người soạn: Nguyễn Khắc Khâm chức vị: Huyện thừa

Người viết: Nguyễn Trù ; chức vị: Quan viên tử

Chủ đề: - Sinh hoạt làng xã

Tóm lược nội (tung:

Các vị văn thân và quan viên chức dịch thôn Thượng Xá xã La Xá đãcúng tiến tiền và ruộng để hàng năm xuân thu nhị kì tổ chức cúng

tế Trên là để kính tế các vị tiên triết, thứ là để cúng tế các vị Hậuhiền để tỏ rõ lòng sùng kính đạo Nho Ghi họ và tên các vị Tiênhiền được thờ tại văn chỉ, họ và tên các vị Hậu hiền được phối thờ

Có ghi việc các vị Hậu hiền đã cúng vào Hội Tư vãn mỗi người 3quan tiền và 3 sào ruộng

[Vô đề]

Kí hiệu: 12068/12069/12070Thác bản bia sưu tầm tại đền núi Yên Phụ xã Kim Xuyên tổng Cổ Tân

phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 3 mặt, khổ 40 X 80cm và 11 X 80cm, gồm 22 dòng chữHán, toàn văn ước khoảng 600 chữ, không có hoa văn, không cóchữ húy

Niên đại: Gia Long thứ 16 (1817)

Người soạn và viết: Vũ Nghiêu Văn hiệu La Sơn Chuyết Án BuMiklíê; quê quán: Đường Hào Thượng Hồng Hải Dương

Người khắc: Nguyễn Ngọc Thời và Nguyễn Đình Nghênh ; quê quán:

xã Kính Chủ

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Xây dựng, trùng tu di tích

Trang 37

- Thơ văn.

Tóm lược nội dung:

Bài kí nói về việc quan Khâm sai quản phủ phủ Kinh Môn Tài Đứchầu Nguyễn Vãn Tài xây dựng giải vũ ở Sơn Miếu trên núi YênPhụ Bài ký viết: núi Yên Phụ nằm ở mé đông Kinh kì, trên đó cóđền thờ vị thân vương nhà Trần rất linh thiêng Năm Mậu Thìn(1808) tôi vâng mệnh ra trấn giữ đất này Vào mùa thu năm Bính Tí(1816) gặp phải thời tiết nóng nực, trời đại hạn không mưa, ruộngđồng nứt nẻ Tôi liền cùng quan đồng nhậm họ Lương sửa soạn traigiới lên núi, vào đền cầu khân Sau đó quả nhiên được mưa liềnsuốt mấy ngày Nay tôi càng thêm tin ở sức thần linh Vì thế tôi bènquyên góp tiền của, lương bổng, vào năm Đinh Sửu (1817) tiếnhành xây thêm tòa giải vũ của đền gồm 1 gian 2 chái bằng gỗ lim,tường xây gạch, mái lợp ngói Ghi họ và tên những người có côngđức trong việc tham gia xây dựng giải vũ tại Sơn Miếu Có bài tụng

Sáng lập Kim Tuyền xã Hậu thần bi kí

Kí hiệu: 12071/12072/12073Thác bản bia xã Kim Tuyền huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn zMl, sưu

tầm tại miếu xã Kim Xuyên tổng

Cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 3 mặt, khổ 28 X 66cm, gồm 32 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 550 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy

Trang 38

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.

- Sinh hoạt làng xã

- Thơ vãn

Tóm lược nội dung:

Bản thôn hiện phải chi tiêu rất nhiều khoản: tiền sắc mục, tiền theokiện tụng, tiền suất canh điền vì thế phải tổ chức bầu Hậu thần để

có được số tiền 700 quan trang trải các việc May có các vị trongdòng họ Nguyễn bằng lòng ứng cấp số tiền trên cho thôn Quanviên, dân thôn liên danh lập tờ cam kết và tôn bầu gia tiên họNguyễn gồm các ông Nguyễn công tự Phúc Huyền, Nguyễn công tựPhúc Vi, Nguyễn công tự Phúc Sinh, Nguyễn công tự Phúc Đức,Nguyễn công tự Phúc Đại, Nguyễn công tự Phúc Trợ v.v làm Hậuthần Ghi qui định hàng năm đến ngày giỗ các Hậu thần, quan viênsắc mục bản thôn phải đến làm lễ cúng tế Có bài minh

Sáng lập Hậu thần/Huệ điền bi kí

Kí hiệu: 12074/12075/12076/12077Thác bản bia xã Kim Tuyền huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #’J H£

£sưu tầm tại đình xã Kim Xuyên tổng Cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnhHải Dương

Thác bản 4 mặt, khổ 37 X 62cm, gồm 40 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 650 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Trị thứ 5 (1667)

Người soạn: họ Nguyễn F>t (chưa rõ ai); quê quán: Nam Sách HảiDương; học vị: Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ khoa Đinh Mùi (1667);chức vị: Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Công bộ Thượng thư,Thiếu bào, cẩm Quận công, trí sĩ

Người viết và khắc: Nguyễn Tích Đức Nguyễn Tích Thiện và Nguyễn

Tích Lương íL; quê quán: xã Kính Chủ

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

Trang 39

- Thơ văn.

Tóm lược nội dung:

Ông Nguyễn Gia Chư hiệu Chính Giác tiên sinh xuất thân từ gia đìnhdanh gia vọng tộc từng làm thần chúc (chủ tế) Ông cùng vợ bàNguyễn Thị Thiết nuôi 3 người con nuôi là Nguyễn Gia Hòa,Nguyễn Gia Phúc, Nguyễn Thị Nhiêu Nay các con nuôi cúng cho

xã 300 quan tiền sử và 5 mẫu ruộng để xã thờ cúng cho cha mẹ.Quan viên, dân xã ưng thuận, tôn bầu ông Nguyễn Gia Chư và bàNguyễn Thị Thiết làm Hậu thần, ghi nhận số tiền, số ruộng và quiđịnh thể thức cúng giỗ Có bài minh

Ghi chủ: về tác giả bài văn bia, tra cứu các khoa thi Đinh Mùi, như

Đinh Mùi Hoàng Định thứ 5 (1607) và Đinh Mùi Cảnh Trị thứ 5(1667), thấy không có ai họ Nguyễn đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ

[Vô đề]

Kí hiệu: 12078/12079/12080/12081Thác bản bia xã Kim Tuyền huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn #’J sưu

tầm tại đình xã Kim Xuyên tổng

Cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 4 mặt, khổ 23 X 60cm, gồm 19 dòng chữ Hán và Nôm, toànvăn ước khoảng 450 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Niên đại: Cảnh Hưng thứ 34 (1773)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Sinh hoạt làng xã

Tỏm lược nội dung:

Bản xã vì có nhiều việc làng phải chi tiêu tốn kém Nay có bà NguyễnThị Yen hiệu Từ Phúc tiến cúng 80 quan tiền cổ và 1 mẫu ruộng.Hương lão, dân xã tôn bầu bà và người chồng quá cố của bà là ông

họ Nguyễn tự Chính Trực làm Hậu thần Ghi ngày giỗ của các Hậuthần, lệ cúng giỗ, nghi lễ cúng giỗ và kinh biếu Hậu thần hàng nămvào các ngày kị

Trang 40

|VÔ đề]

Kí hiệu: 12082/12083/12084/12085Thác bản bia xã Kim Tuyền huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn 4f'J H

Sậ sưu tầm tại đình xã Kim Xuyên tổng

Cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 4 mặt, khổ 25 X 50cm và 7 X 50cm, gồm 21 dòng chữ Hán,toàn văn ước khoảng 450 chữ, không có hoa văn, có chữ húy: CửuNiên đại: Cảnh Hưng thứ 34 (1773)

Người soạn: không ghi

Chủ đề: - Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện

- Sinh hoạt làng xã

Tóm lược nội dung:

Xã Kim Truyền vì cần tiền chi tiêu việc quan dịch nên tổ chức bầuHậu thần cho 3 vị trong xã, trong đó ông cựu Xã trưởng họ Nguyễn

tự Hải Hữu hiệu Huyền Thăng cúng 60 quan tiền cổ và 5 sào ruộng,

bà Nguyễn Thị Mở hiệu Từ Nghiêm cúng 45 quan tiền cổ và 1 mẫuruộng, bà Nguyễn Thị Mạn hiệu Diệu Phương cúng 45 quan tiền cổ

và 5 sào ruộng, số tiền này xã chi dùng vào việc công và lập bia.Ghi ngày giỗ của các Hậu thần, vị trí các thửa ruộng cúng tiến, lệkính biếu Hậu thần vào các ngày cầu phúc, xướng ca và nghi lễcúng giỗ vào các ngày kị Hậu thần hàng năm

Hậu thần bi kí

Kí hiệu: 12086/12087Thác bản bia thôn Thượng xã Kim Tuyền huyện Giáp Sơn phủ KinhMôn #'J H ££ £ Ằ # , sưu tầm tại đình xãKim Xuyên tổng cổ Tân phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Thác bản 2 mặt, khổ 40 X 88cm, gồm 17 dòng chữ Hán, toàn văn ướckhoảng 350 chữ, có hoa văn, không có chữ húy

Ngày đăng: 04/12/2022, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w