1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf

95 646 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị Rủi ro Tài chính
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.] 0 0 1 2 tài sản có tài sản nợ hoá tài sản bao gồm việc mua các chứng khoán sơ cấp, tức là

Trang 1

Đề tài tham dự cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008

Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các

ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Trang 2

http://svnckh.com.vn 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thị trường tài chính Việt Nam trong thời gian vừa qua chứng kiến một loạt những biến động có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các tổ chức tài chính Riêng đối với các Ngân hàng thương mại (NHTM), những biến động chứa đựng các yếu tố rủi ro, đặc biệt là rủi ro về lãi suất luôn tiềm ẩn những nguy cơ lớn, có thể dẫn tới sự sụp đổ của cả một hệ thống Ngân hàng

Minh chứng cho những biến động đó là cuộc chạy đua gia tăng lãi suất của các NHTM Đứng trước áp lực lạm phát ngày càng tăng cao, lượng tiền gửi trong dân cư không được dùng để gửi tiết kiệm mà được đem đầu tư vào các lĩnh vực được cho là sinh lời nhanh hơn như chứng khoán, vàng, bất động sản các NHTM đua nhau tăng lãi suất huy động tiền gửi

Có thể nói rằng, lãi suất huy động tiền gửi tại Việt Nam hiện nay đã tăng lên đến mức kịch trần Cùng với những động thái gần đây của Ngân hàng Nhà nước, thì xét về dài hạn, mức lãi suất này không thể được đẩy lên nữa và sẽ giảm dần trong tương lai Điều này tạo ra nguy cơ rủi ro rất lớn đối với các NHTM khi họ sử dụng các khoản huy động trong ngắn hạn để cho vay dài hạn Sự chênh lệch kì hạn và thời lượng giữa tài sản có và tài sản nợ của các NH tạo ra nguy cơ làm suy giảm và mất dần khả năng thanh toán cuối cùng của các NHTM Vì vậy, một yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với các NHTM là đẩy mạnh công tác quản trị rủi ro lãi suất, bởi chỉ có thế các NHTM mới có thể hạn chế đến mức tối đa những thiệt hại gây ra bởi những biến động thị trường liên quan đến lãi suất

Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro

về lãi suất trong hoạt động của các NHTM Việc không đủ năng lực quản trị về rủi ro lãi suất có thể phá hủy hệ thống Ngân hàng, gây ra những tổn thất không thể ước tính

được Với những lý do trên, nhóm sinh viên chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay”

để nghiên cứu

Đối tượng của đề tài nghiên cứu là những rủi ro về lãi suất mà các NHTM gặp

phải trong quá trình hoạt động, điều hành; Và công tác quản trị rủi ro lãi suất của các NHTM Việt Nam trong thời điểm hiện nay

Trang 3

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Ba mục tiêu chính mà đề tài nghiên cứu của chúng tôi hướng tới là:

- Phân tích, trình bày khái niệm và những lý luận chung về quản trị rủi ro lãi suất đối với các NHTM

- Mô tả, phân tích thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các NHTM Việt Nam Chỉ ra những hạn chế cần khắc phục trong hoạt động quản trị rủi

1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết

- Phương pháp nhận định và đưa ra giả thuyết

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra chọn mẫu

- Tổng hợp và phân tích thống kê trên đồ thị, bảng biểu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt không gian là các NHTM quốc doanh,

NHTM cổ phần Về mặt thời gian, đề tài được nghiên cứu trong giai đoạn từ 01/01/2001 – 30/08/2008 Trong đó đặc biệt chú trọng phân tích trong giai đoạn 1/01/2007 đến 30/08 năm 2008

Dự kiến sau khi hoàn thành, đề tài nghiên cứu sẽ trở thành tài liệu tham khảo

của các NHTM Việt Nam trong công tác quản trị rủi ro lãi suất; Và là nguồn tư liệu cho những bạn đọc muốn nghiên cứu sâu hơn về vấn đề quản trị rủi ro lãi suất

Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu của chúng tôi được kết cấu thành 3 chương lớn:

 CHƯƠNG I: Lý luận chung về quản trị rủi ro lãi suất đối với các

NHTM

Trang 4

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

 CHƯƠNG II: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM Việt

Nhóm nghiên cứu rất mong nhận được ý kiến phản hồi và nhận xét, đóng góp của Hội đồng Giám khảo và quý bạn đọc để chúng tôi có thể rút kinh nghiệm cho những lần sau!

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Nhóm nghiên cứu

Trang 5

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT ĐỐI VỚI CÁC NHTM 7

1 NHTM VÀ VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT 7

1.1 Ngân hàng thương mại 7

1.1.1 Chức năng chính của hệ thống ngân hàng thương mại 7

1.1.2 Những chức năng khác của hệ thống ngân hàng thương mại 10

1.2 Lãi suất 10

1.2.1 Khái niệm 10

1.2.2 Phân loại lãi suất 11

1.3 Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất 14

1.3.1 Khái niệm rủi ro lãi suất 14

1.3.2 Phân loại rủi ro lãi suất 16

1.3.3 Quản trị rủi ro lãi suất 18

2 CÁC MÔ HÌNH LƯỢNG HÓA RỦI RO LÃI SUẤT 18

2.1 Mô hình tái định giá (The Reprising Model) 18

2.2 Mô hình kì hạn đến hạn (The Maturity Model) 22

2.2.1 Lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một tài sản 22

2.2.2 Lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một danh mục tài sản 24

2.3 Mô hình thời lượng (The Duration Model) 26

2.3.1 Công thức tổng quát và ý nghĩa kinh tế của mô hình thời lượng 26

2.3.2 Mô hình thời lượng và vấn đề phòng ngừa rủi ro lãi suất 29

2.3.3 Hạn chế của mô hình thời lượng 32

Trang 6

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

3 CÁC PHƯƠNG THỨC PHÕNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI 33

3.1 Quản trị rủi ro lãi suất áp dụng các hợp đồng phái sinh 33

3.1.1 Hợp đồng kì hạn 33

3.1.2 Hợp đồng hoán đổi 35

3.2 Quản trị rủi ro lãi suất bằng phương pháp quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất 37 3.3 Quản trị rủi ro lãi suất bằng phương pháp quản lý khe hở kì hạn 41

3.4 Quản trị rủi ro lãi suất bằng hợp đồng lãi suất kì hạn (FRAs) 42

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 45

1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 45

2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 49

2.1 Diễn biến lãi suất trên thị trường tài chính Việt Nam trong thời gian qua 49

2.2 Tầm quan trọng của quản trị rủi ro lãi suất ở thời điểm hiện tại 51

2.3 Thực trạng sử dụng các biện pháp quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM Việt Nam 52

2.3.1 Áp dụng Mô hình kì hạn đến hạn để lượng hóa rủi ro lãi suất tại NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Bắc Giang 52

2.3.2 Áp dụng Mô hình thời lượng để lượng hóa rủi ro lãi suất tại NH Thương mại cổ phần Phương Nam 57

2.3.3 Thực trạng sử dụng quản trị khe hở kì hạn (GAP) 60

2.3.4 Thực trạng sử dụng các nghiệp vụ phái sinh 62

3 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 64

3.1 Những mặt đạt được 64

3.1.1 Các NH dần nhận thức rõ được tầm quan trọng của Quản trị rủi ro

Trang 7

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

lãi suất 64

3.1.2 Áp dụng cơ chế lãi suất linh hoạt 65

3.1.3 Dần áp dụng những chuẩn mực quốc tế về quản trị RRLS tại các NH 65

3.2 Những hạn chế còn tồn tại 67

3.3 Nguyên nhân 68

3.3.1 Nguyên nhân khách quan 68

3.3.2 Nguyên nhân chủ quan từ bản thân các ngân hàng 71

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 73

1 NHẬN ĐỊNH VỀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI LÃI SUẤT TRONG THỜI GIAN TỚI 73

2 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 75

3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 76

3.1 Nhóm các biện pháp vĩ mô 77

3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quản trị rủi ro lãi suất 78

3.1.2 Nâng cao năng lực của Ngân hàng Nhà nước 78

3.2 Nhóm các biện pháp vi mô 79

3.2.1 Cải thiện chất lượng nguồn nhân lực 79

3.2.2 Phát triển nền tảng công nghệ, thông tin 81

3.2.3 Tái cơ cấu bộ máy quản trị rủi ro lãi suất 82

3.2.4 Nâng cao sự hợp tác giữa các ngân hàng 82

KẾT LUẬN 84

Trang 8

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)

Luật tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997, định nghĩa: Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Luật tổ chức tín dụng không

có định nghĩa hoạt động ngân hàng vì khái niệm này đã được định nghĩa trong luật ngân hàng nhà nước, cũng do Quốc hội khoá X thông qua cùng ngày Luật ngân hàng nhà nước định nghĩa : Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán

1.1.1 CHỨC NĂNG CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Để hiểu rõ được chức năng đặc biệt của ngân hàng trong nền kinh tế, chúng ta hãy hình dung một thế giới giản đơn, trong đó không có sự tham gia của hoạt động ngân hàng Trong một thế giới như vậy, những khoản tiết kiệm như vậy, những khoản tiết kiệm của dân chúng chỉ có thể được sử dụng hoặc là dưới dạng tiền mặt; hoặc là dưới dạng đầu tư chứng khoán vào các công ty Còn các công ty thì phát hành chứng khoán

để đầu tư vào các tài sản như nhà xưởng,máy móc, nguyên vật liệu, Sơ đồ mô tả luồng vốn tiết kiệm từ dân chúng để các công ty; và ngược lại, các cổ phiếu và trái phiếu được luân chuyển từ các công ty đến dân chúng

Trong một thế giới không có các ngân hàng thì qui mô các luồng vốn từ người tiết kiệm chuyển sang các công ty nhìn chung là rất thấp Lý do có thể nêu như sau :

 Chi phí để giám sát trực tiếp hoạt động của công ty là rất tốn kém Khi dân

chúng mua chứng khoán của các công ty, họ phải giám sát được hoạt động kinh doanh của công ty và phải đảm bảo rằng tình trạng tài chính của công ty

Dân chúng (những người tiết kiệm)

Dân chúng (những người tiết kiệm) Vốn

Trang 9

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

là lành mạnh và công ty không che dấu và lãng phí tiền vốn vào bất kì dự án nào Để có thể giám sát được hoạt động của công ty, những người đầu tư chứng khoán phải dành thời gian vào thu thập, phân tích và xử lý các thông tin

về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty.Với những yêu cầu phải giám sát hoạt động của công ty như vậy quả rất tốn kém với các nhà đầu

tư đơn lẻ.Vì vậy, họ uỷ quyền việc giám sát cho người khác và như vậy đã một phần hay hoàn toàn từ bỏ việc giám sát trực tiếp hoạt động của công ty

mà họ đầu tư vào Do không trực tiếp nắm rõ hoạt động của công ty được đầu

tư nên các cổ phiếu, trái phiếu của công ty sẽ trở nên kém hấp dẫn do tính rủi

ro cao, điều này làm giảm động lực mua chứng khoán của các công ty

 Với đặc tính dài hạn của cố phiếu và trái phiếu là nguyên nhân thứ hai làm

nản lòng người tiết kiệm mua chứng khoán của công ty Điều này có thể khiến người dân thích giữ tiền mặt cho những nhu cầu chi tiêu trong thời gian ngắn hơn là đầu tư vào các chứng khoán dài hạn

 Lý do cuối cùng, đó là các nhà đầu tư thường phải chịu rủi ro về biến động giá cả trên thị trường thứ cấp và phải chịu chi phí chuyển nhượng có liên quan Điều này dẫn đến thu nhập thực tế từ việc chuyển nhượng chứng khoán

trên thị trường thứ cấp giảm và một số trường hợp thu nhập còn thấp hơn giá mua ban đầu

Tóm lại, những nguyên nhân chính làm cho qui mô các luồng vốn từ những người tiết kiệm đầu tư trực tiếp vào chứng khoán các công ty thấp là do : (i) chi phí đề giám sát hoạt động của công ty rất tốn kém; (ii) tính thanh khoản trong thời gian ngắn kém; (iii) rủi ro biến động về giá cả chứng khoán trên thị trường

Trong một thế giới mà hệ thống ngân hàng không tồn tại, thì những nguyên nhân nêu trên khiến dân chúng giảm động lực tiết kiệm, tăng tiêu dùng hoặc tiết kiệm ở dạng tiền mặt Tuy nhiên, chúng ta đang sống trong thời đại mà ở đó hệ thống ngân hàng là phát triển mạnh mẽ và được coi như xương sống của nền kinh tế Hệ thống ngân hàng cung cấp một kênh dẫn vốn gián tiếp từ những người có nhu cầu đầu tư đến các công ty

Do tồn tại các nguyên nhân như nêu ở trên nên người dân thường có xu hướng gửi tiền vào các ngân hàng thay vì trực tiếp đầu tư Sơ đồ biểu diễn sự luân chuyển luồng vốn trong nền kinh tế có sự tham gia hoạt động của hệ thống ngân hàng, với vị trí trung gian giữa người đầu tư và các công ty

Trang 10

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Sơ đồ: Các luồng luân chuyển vốn trong một thế giới với hệ thống ngân hàng phát

triển Ngân hàng thực hiện 2 chức năng cơ bản, đó là : (i) chức năng cung cấp các dịch vụ thanh toán, môi giới và tư vấn; (ii) chức năng luân chuyển tài sản

 Về các dịch vụ thanh toán, môi giới và tư vấn : Ngân hàng cung cấp các dịch

vụ môi giới, thanh toán và cung cấp thông tin cho khách hàng Đứng vai trò giống như một đại lý của khách hàng, thông qua chức năng tư vấn và cung cấp dịch vụ thanh toán làm cho chi phí của nhà đầu tư giảm xuống và người đầu

tư có thể nắm bắt được thông tin cũng như hoạt động của công ty một cách toàn diện Qua đó, ngân hàng đã khuyến khích được tỷ lệ tiết kiệm đầu tư trong dân chúng

 Chức năng luân chuyển tài sản : Ngân hàng tiến hành đồng thời hai hoạt

động Thứ nhất, ngân hàng huy động vốn bằng cách phát hành những chứng chỉ tiền gửi Các nhà đầu tư thường thích mua chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng phát hành hơn là đầu tư vào chứng khoán vì vừa giảm đáng kể được chi phí giám sát, chi phí thanh toán, lại vừa giảm thiểu được rủi ro Thứ hai, ngân hàng tiến hành đầu tư bằng cách cấp tín dụng , mua cổ phiểu trái phiếu của các công ty phát hành, những chứng khoán này là chứng khoán sơ cấp Và chứng chỉ tiền gửi do các ngân hàng phát hành là những chứng khoán thứ cấp

Phần chênh lệch từ việc giảm thiểu được 3 loại chi phí chính : chi phí giám sát, chi phí thanh khoản và chi phí rủi ro giá cả chính là phần lợi nhuận mà các ngân hàng

Công ty

Trang 11

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

1.1.2 NHỮNG CHỨC NĂNG KHÁC CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

 NHTM là đối tượng và đồng thời là các trung gian chuyển tải chính sách tiền tệ : Thông qua các hoạt động có tính đặc thù của mình, các NHTM đã thực hiện chức năng chuyển tải chính sách tiền tệ từ NHTW đến toàn bộ nền kinh tế Như vậy, các NHTM đã trở thành một kênh đặc biệt, thông qua đó mà ảnh hưởng của các chính sách tiền tệ lên toàn bộ nền kinh tế

 Phân bổ tín dụng : NHTM là nguồn chính để tài trợ, cung cấp tín dụng cho một số lĩnh vực nhất định được xác định là có nhu cầu đặc biệt về vốn

Như vậy, việc duy trì và sử dụng công cụ lãi suất trong nền kinh tế hàng hoá là một tất yếu khách quan, song tác dụng của lãi suất đến mức nào lại là do sự vận dụng chính sách lãi suất Mức lãi suất sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế và chế độ quản lý kinh

tế hiện tại, phù hợp với quy luật vận động khách quan của tín dụng trong mối quan hệ với các quy luật kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá thì lúc đó lãi suất sẽ là chiếc chìa khoá để thúc đẩy nền kinh tế

Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, nếu một ngân hàng huy động vốn (hoặc cho vay) tại thời điểm ngày hôm nay, thì sau một thời gian, khi đến hạn ngân hàng phải trả (hoặc nhận được) một khoản tiền lớn hơn số tiền huy động (hoặc cho vay) ban đầu

Sự thay đổi lượng tiền theo thời gian biểu hiện giá trị thời gian của tiền tệ Nói cách

Trang 12

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

khác, giá trị của tiền tệ phải được xác định theo hai tiêu chí: mức lãi suất và thời gian Mỗi ngân hàng xây dựng mức khung lãi suất của riêng mình phù hợp với hoạt động huy động vốn và đầu tư của mình; mặt khác, phải phù hợp với khung lãi suất chung do Ngân hàng Nhà nước qui định

1.2.2 PHÂN LOẠI LÃI SUẤT

a/ Căn cứ vào mục đích kinh doanh của Ngân hàng

 Lãi suất huy động : Loại lãi suất qui định tỉ lệ lãi phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng Để đảm bảo sự công bằng trong nền kinh tế thị trường, việc định các mức lãi suất huy động khác nhau chỉ căn cứ vào đối tượng huy động (tiền hoặc vật có giá trị) và thời hạn huy động

 Lãi suất cho vay : Loại lãi suất qui định tỉ lệ lãi mà người đi vay phải trả cho người cho vay (NHTM) Về mặt lý thuyết, các mức lãi suất cho vay khác nhau được căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân của đối tượng đầu tư và thời hạn cho vay Tuy nhiên, với ý nghĩa là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, điều đó không phải bao giờ cũng đúng , vì nó còn phụ thuộc vào mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kì

Mối quan hệ giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động :

[Lãi suất cho vay] = [lãi suất huy động] + [chi phí] + [rủi ro tối thiểu] + [lợi nhuận]

b/ Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất

 Lãi suất danh nghĩa là lãi suất đã bao gồm cả những tổn thất do lạm phát gây ra

do sự gia tăng của mức giá chung

 Lãi suất thực tế là lãi suất sau khi đã loại trừ những ảnh hưởng của lạm phát

Quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế được biểu thị bằng các công

thức sau:

(1 + r)(1 + i) = (1 + R) Trong đó: r là lãi suất thực tế, i là tỷ lệ lạm phát và R là lãi suất danh nghĩa

Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát dự kiến

Trang 13

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Trên thực tế, tỷ lệ lạm phát sau đó có thể khác với tỷ lệ lạm phát dự kiến nên không thể biết trước một cách chắc chắn được lãi suất thực tế còn lãi suất danh nghĩa thì

có thể biết trước được một cách chắc chắn khi công bố

c/ Căn cứ vào độ dài thời gian :

Cơ sở của cơ chế lãi suất này là ở chỗ thời gian thuê vốn (cả huy động và cho vay) càng dài thì lợi nhuận làm ra càng nhiều, đồng thời tính rủi ro mất vốn cũng càng cao

 Lãi suất ngắn hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản vay ngắn hạn, có thời hạn dưới 1 năm

 Lãi suất trung hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản vay

có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm

 Lãi suất dài hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm

Theo cách phân loại này, cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay, thời gian càng dài thì lãi suất càng cao Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt lãi suất ngắn hạn

có thể cao hơn lãi suất trung và dài hạn, ví dụ: khi nền kinh tế trong quá trình khôi phục lại sau chiến tranh, khủng hoảng kinh tế…nhà nước cần một số lượng vốn lớn trong thời gian ngắn, lúc này lãi suất huy động ngắn hạn sẽ được ưu tiên nâng cao hơn các loại lãi suất khác

d/ Phân loại theo phương pháp tính lãi :

 Lãi suất đơn : lãi suất đơn là lãi suất của một hợp đồng tài chính mà việc thanh toán tiền gốc và tiền lãi chỉ được tiến hành một lần tại thời điểm hợp đồng đến hạn, trong đó không có yếu tố lãi sinh ra lãi Lãi suất đơn được sử dụng chủ yếu đối với các hợp đồng có thời hạn ngắn và chỉ có một kì thanh toán

 Lãi suất kép : Những hợp đồng tài chính có nhiều kì tính lãi, mà lãi phát sinh của

kì trước được gộp chung vào với gốc để tính lãi cho kì tiếp theo, phương pháp

tính lãi như vậy gọi là lãi suất kép, hay lãi sinh ra lãi

Minh hoạ cho sự khác biệt giữa hai phương pháp tính lãi này, chúng ta cùng tham khảo VD sau đây :

Trang 14

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

4

VD1 : Một hợp đồng tín dụng có giá trị 1000 triệu VNĐ, kì hạn 1 năm, lãi suất

12%/năm Tính mức lãi suất thực trả trong cả hai trường hợp:

- Lãi tính một lần tại thời điểm đến hạn

- Lãi tính theo quí một

Giải : Lãi suất quí sẽ là : 12 : 4 = 3%

Kì tính lãi Lãi quí

I

Lãi quí

II

Lãi quí III

, 0 1

Như vậy, trong trường hợp tính lãi hàng quí thì lãi suất danh nghĩa được niêm yết trên hợp đồng là 12%/năm, nhưng lãi suất thực tế trả lại là 12,551%/năm

Số tiền : 125,51-120 = 5,51 triệu chính là số tiền lãi do lãi sinh ra

e/ Phân loại căn cứ vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng

 Lãi suất tiền gửi : Là lãi suất ngân hàng phải trả cho người gửi tiền vào ngân hàng

 Lãi suất tiền vay : Là lãi suất người đi vay tín dụng phải trả cho ngân hàng qua việc sử dụng vốn vay của ngân hàng Lãi suất tiền vay bình quân luôn phải lớn hơn lãi suất tiền gửi bình quân, nhờ đó mà ngân hàng thu đuợc lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất

 Lãi suất chiết khấu : Là lãi suất khách hành phải trả cho ngân hàng khi khách hàng yêu cầu được vay vốn từ ngân hàng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng

Trang 15

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

 Lãi suất tái chiết khấu : Là lãi suất của NHTW cho các NHTM vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá chưa đến hạnh thanh toán của NHTM

 Lãi suất liên ngân hàng : Được áp dụng trong hoạt động tín dụng giữa các ngân hàng với nhau Lãi suất liên ngân hàng được hình thành bởi quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các ngân hàng trung gian vay của NHTW

 Lãi suất cơ bản : Là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình

f/ Phân loại theo loại tiền :

 Lãi suất nội tệ: là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng nội tệ (kể cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay)

 Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất tính toán áp dụng cho đồng ngoại tệ

Lãi suất ngoại tệ có ảnh hưởng đến việc khuyến khích xuất khẩu hay nhâp khẩu:

để khuyến khích xuất khẩu, người ta thường áp dụng cơ chế lãi suất ngoại tệ cho vay thấp hơn, trong huy động thì cao hơn so với lãi suất nội tệ và ngược lại Với cơ chế này

sẽ khuyến khích các nhà xuất khẩu vay tiền để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của mình trong trường hợp lãi suất cho vay đối với đồng ngoại tệ thấp và ngược lại

1.3 RỦI RO LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT

Nghiên cứu về rủi ro lãi suất thực chất là nghiên cứu về lãi suất và những biến động của lãi suất Phần tiếp theo được đưa đến nhằm mục đích làm rõ thêm ý nghĩa của việc nghiên cứu rủi ro lãi suất trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng

1.3.1 KHÁI NIỆM RỦI RO LÃI SUẤT

Rủi ro lãi suất mà ngân hàng phải gánh chịu là sự biến động về lãi suất làm thay đổi nguồn thu nhập của ngân hàng Như vậy, rủi ro lãi suất có thể hiểu là “rủi ro đối với thu nhập lãi thuần do những thay đổi bất lợi của lãi suất ”

Trong phần thảo luận sơ qua về NHTM, chúng ta đã biết được rằng chức năng chuyển hoá tài sản là một chức năng đặc biệt cơ bản của ngân hàng Quá trình chuyển

Trang 16

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

0

0

1

2 tài sản có

tài sản nợ

hoá tài sản bao gồm việc mua các chứng khoán sơ cấp, tức là sử dụng vốn; và việc phát hành các chứng khoán thứ cấp, tức là huy động vốn Kì hạn và độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các chứng khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ Sự không tương xứng về kì hạn giữa tài sản

có và tài sản nợ chính là nguyên nhân sâu xa khiến ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất

Chúng ta xét hai trường hợp :

a Kì hạn huy động vốn ngắn hơn kì hạn đầu tư vốn

Bằng sơ đồ, chúng ta biểu diễn trường hợp một ngân hàng huy động vốn có kì hạn 1 năm và đầu tư có kì hạn 2 năm như sau :

Giả sử lãi suất huy động vốn là 9%/năm và lãi suất đầu tư là 10%/năm Sau năm thứ nhất, bằng cách vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn 2 năm, ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là : 10%-9%=1% Tuy nhiên, lợi nhuận của năm thứ 2 chưa biết trước là bao nhiêu nên sẽ là một số không chắc chắn Nếu lãi suất thị trường không thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai thì ngân hàng có thể huy động tài sản

nợ với mức lãi suất là 9%; và do đó, mức lợi nhuận thu được trong năm thứ hai vẫn là 1% Tuy nhiên, vì lãi suất thị trường có thể thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai,

vì vậy ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất Nếu như trong năm thứ hai, ngân hàng chỉ có thể huy động vốn với mức lãi suất là 11%, dẫn đến lợi nhuận trong năm thứ hai sẽ là một số âm : 10% - 11% = -1% Như vậy, lợi nhuận trong năm thứ nhất chỉ đủ

bù lỗ cho năm thứ hai

Tóm lại, trong mọi trường hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kì hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ Rủi ro sẽ thành hiện thực khi lãi suất huy động vốn trong

những năm tiếp theo cao hơn mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn

b Ngân hàng huy động vốn có kì hạn dài và đầu tư có kì hạn ngắn

tài sản có

Trang 17

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Ví dụ, ngân hàng huy động vốn với lãi suất là 9%/năm, kì hạn 2 năm, và đầu tư vào tài sản có mức lãi suất là 10%/năm, với kì hạn là 1 năm Cụ thể :

Tương tự như trường hợp trên, năm thứ nhất ngân hàng thu được lợi nhuận 1%

Vì tài sản có kì hạn 1 năm, nên hết năm thứ nhất ngân hàng lại tiếp tục tái đầu tư Giả sử lãi suất đầu tư trong năm thứ 2 giảm xuống chỉ còn 8%, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro về lãi suất, đó là lỗ : 8% - 9% = -1% Như vậy, lợi nhuận trong năm thứ nhất cũng chỉ đủ bù lỗ cho năm thứ hai

Kết quả là, ngân hàng gặp phải rủi ro về lãi suất tái đầu tư trong trường hợp tài sản có có kì hạn ngắn hơn so với tài sản nợ

Ngoài rủi ro tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có thì khi lãi suất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản Như chúng ta

đã biết, giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ đều là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên Nếu như kì hạn của tài sản có và tài sản nợ không tương xứng với nhau, ví dụ tài sản có có kì hạn dài hơn tài sản nợ, thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá của tài sản nợ Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng

1.3.2 PHÂN LOẠI RỦI RO LÃI SUẤT

a/ Rủi ro tái định giá (Repricing risk) : Mức độ nhạy cảm của tài sản và công nợ đối

với lãi suất phụ thuộc vào kì hạn cho tới ngày định giá gần nhất Khi đó, lãi suất được

thay đổi lại trong thời gian kì hạn của hợp đồng hay thỏa thuận tiền gửi Thời hạn tái định giá là khoảng thời gian còn lại tính đến ngày lãi suất được thay đổi lại Như vậy, thời hạn tái định giá là khái niệm hoàn toàn khác so với thời gian đáo hạn do thời gian đáo hạn là thời điểm hợp đồng hay thỏa thuận tiền gửi kết thúc Trong khoảng thời gian đáo hạn có thể có nhiều thời hạn tái định giá Bởi vậy, với những tài sản và công nợ có

tài sản có

Trang 18

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

lãi suất thả nổi, thời gian hợp lý nhất để đánh giá rủi ro lãi suất là thời hạn tái định giá, chứ không phải thời gian còn lại đến khi đáo hạn

b/ Rủi ro mất cân đối (Mismatch or Gap risk) : Sự mất cân đối giữa ngày đáo hạn

theo hợp đồng của tài sản với lãi suất cố định và công nợ dùng để tài trợ các tài sản đó

sẽ tạo ra rủi ro lãi suất Ví dụ, một tài sản với thời gian đáo hạn là 4 năm được tài trợ

bởi công nợ đáo hạn trong 3 năm sẽ tạo ra rủi ro lãi suất trong 1 năm còn lại khi cần phải thương thảo lại nguồn tài trợ thay thế

c/ Rủi ro cơ bản (Basic risk) : Rủi ro này phát sinh khi lãi suất của các tài sản và

công nợ khác nhau có biểu hiện khác nhau cho dù chúng có cùng thời hạn tái định giá

Ví dụ, ngân hàng huy động được một khoản tiền gửi bằng USD từ một khách hàng Sau

đó, ngân hàng này gửi lại số tiền trên vào tài khoản của mình tại ngân hàng nước ngoài nhằm ăn chênh lệch lãi suất Tuy nhiên, ngân hàng có thể sẽ phải chịu rủi ro khi biên độ chênh lệch lãi suất của hai khoản tiền gửi đó thay đổi không đoán trước được do sự thay đổi lãi suất bới Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)

d/ Rủi ro quyền lựa chọn (Option Risk) : Là loại rủi ro khi khách hàng có thể sử

dụng quyền để tham gia hay chấm dứt hợp đồng với lãi suất cố định Điều này có thể do

việc thực hiện quyền lựa chọn trong hợp đồng hay do khách hành chấm dứt hợp đồng do lãi suất ưu đãi hơn trên thị trường Cụ thể :

 Khoản vay với lãi suất cố định cho phép ngân hàng thanh toán toàn bộ công nợ bất kỳ lúc nào khi thấy lãi suất giảm, không có lợi cho khách hàng Trong trường hợp này, các ngân hàng cần đưa điều khoản về phí phạt trong trường hợp khách hàng thanh toán trước kì hạn khi kí kết hợp đồng vay hay thỏa thuận tiền gửi Khoản phí phạt này sẽ giúp bù đắp một phần thu nhập lãi mất đi do sau đó ngân hàng phải tái đầu tư khoản vốn nhận được với lãi suất thấp hơn cho những khách hàng sau

 Khoản tiền gửi với lãi suất cố định cho phép khách hàng rút tiền mặt bất cứ lúc nào khi thấy lãi suất tăng, không có lợi cho khách hàng Ví dụ, khách hàng rút tiền tại Vietcombank với lãi suất cố định 15%/năm để gửi sang Seabank với lãi suất cao hơn 18%/năm, khi đó Vietcombank sẽ chịu rủi ro về lãi suất do khách hàng rút tiền trước hạn Để hạn chế, ngân hàng cần có điều khoản cho phép thanh toán một lượng lãi thấp hơn cho những khách hàng rút tiền sớm Điều này bù đắp một phần lãi ngân hàng bị mất đi do sau đó ngân hàng phải huy động nguồn vốn mới với lãi suất cao hơn Thực tế ở VD trên, khi đó để giữ chân khách hàng và

Trang 19

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

huy động nguồn vốn mới thì Vietcombank phải nâng mức lãi suất tiền gửi của mình lên tương đương hoặc cao hơn 18%/năm

1.3.3 QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT

Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro về lãi suất là một hiện tượng thường xuyên xảy ra, do đó các nhà quản trị ngân hàng phải thường xuyên phân tích để tìm ra các giải pháp điều tiết rủi ro lãi suất, đó gọi là những phương thức quản trị rủi ro lãi suất Cùng với quá trình phát triển trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng cũng đã áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro lãi suất thích hợp Những phương thức quản trị rủi ro lãi suất theo phương pháp hiện đại thường được các NHTM hiện nay áp dụng

sẽ được chúng tôi phân tích kĩ trong phần tiếp theo, bao gồm:

 Quản trị rủi ro lãi suất sử dụng các công cụ tài chính phái sinh

 Quản trị khe hở nhạy cảm lãi suất (GAP)

 Quản lý khe hở kì hạn

 Quản lý FRAs

2 CÁC MÔ HÌNH LƯỢNG HÓA RỦI RO LÃI SUẤT

2.1 MÔ HÌNH TÁI ĐỊNH GIÁ ( THE REPRISING MODEL )

Nội dung của mô hình tái định giá là việc phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ tài sản có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định Các ngân hàng tính số chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ đối với từng kì hạn và đặt chúng trong mối quan

hệ với độ nhạy cảm lãi suất thị trường – chính là khoảng thời gian mà tài sản cố và tài sản nợ được định giá lại ( theo mức lãi suất mới của thị trường ) Điều đó có nghĩa là, nhà quản trị ngân hàng còn phải chờ bao lâu nữa để áp dụng mức lãi suất mới vào từng

kì hạn khác nhau Ưu điểm của mô hình này là ở chỗ nó cung cấp thông tin về cơ cấu tài sản sẽ được tái định giá và dễ dàng chỉ ra được sự thay đổi của thu nhập ròng về lãi suất mỗi khi lãi suất thay đổi

Ví dụ 1: Xét bảng 1.1 về cơ cấu tài sản có và tài sản nợ của một ngân hàng, được

phân thành 6 nhóm theo khoảng thời gian mà chúng sẽ được tái định giá (Đơn vị: Triệu USD)

Trang 20

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Bảng 1.1: Cơ cấu tài sản có và tài sản nợ

STT (i) Thời gian tái định giá Tài sản Có

(RSAi)

Tài sản Nợ (RSLi)

Chênh lệch tích lũy ( GAPi)

Chúng ta thấy rằng, chênh lệch của nhóm tài sản có kì hạn 1 ngày, thường là

những khoản tiền gửi và vay trên thị trường liên ngân hàng, là -10 triệu USD nên nó

được định giá lại ngay trong ngày khi lãi suất thay đổi Nếu lãi suất qua đêm tăng thì thu nhập ròng từ lãi suất sẽ giảm bởi tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất lớn hơn tài sản có có cùng kì hạn 1 ngày

Ta có công thức tính mức độ thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất của nhóm i ( ) như sau:

= * = ( – )*

Trong đó: = Mức thay đổi lãi suất của nhóm i

Giả sử lãi suất qua đêm tăng 1%/năm, ta có mức thay đổi ròng thu nhập từ lãi

suất của nhóm 1 trong năm tới là:

= -10*0,01 = - 100 000 USD

Trang 21

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Các nhà quản trị ngân hàng có thể tính toán chênh lệch giữa tài sản có và tài sản

nợ theo các phương pháp tích lũy nhiều kì hạn khác nhau, phổ biến nhất là đến 12 tháng

Ví dụ từ bảng 1.1:

CGAP = (-10) + (-10) + (-15) + 20 = -15 Với = 1%, mô hình tái định giá sẽ cho ta biết mức thay đổi thu nhập lãi suất ròng trong năm tới là : = * = (-15)*(0,01) = - 150 000 USD

Trong đó CGAP là chênh lệch tích lũy – Cumulative Gaps

Ví dụ 2, xét bảng 1.2 với các kì hạn không phải kì hạn của hợp đồng gốc, mà là kì hạn

còn lại (kì hạn đến hạn) tại thời điểm định giá lại của các tài sản có và tài sản nợ

Bảng 1.2: Kì hạn đến hạn tại thời điểm định giá lại của các tài sản có và tài sản nợ

3 Tín phiếu kho bạc 3 tháng 30 3 Tài khoản cá nhân 30

4 Tín phiếu kho bạc 6 tháng 35 4 Tiền gửi kì hạn 3 tháng 40

5 Tín phiếu kho bạc 3 năm 70 5 Chấp phiếu ngân hàng 3 tháng 20

40 7 Tiền gửi kì hạn 1 năm 20

8 Tiền gửi kì hạn 2 năm 40

Trang 22

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

(Nguồn : Anthony Saunders & Marcia Million Cornet - Financial Institutions management: A risk Approach Management, 4 th edition.)

Những khoản in nghiêng là những tài sản nhạy cảm với sự thay đổi lãi suất trong một năm tới

Như vậy, tổng số tài sản có nhạy cảm với lãi suất theo kì hạn định giá lại 1 năm là:

50 + 30 + 35 + 40 = 155 triệu USD Tổng số tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất theo kì hạn định giá lại 1 năm là:

40 + 20 + 60 + 20 = 140 triệu USD Gọi CGAP là chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất có kì hạn định giá lại 1 năm Ta có:

CGAP = RSA – RSL = 155 – 140 = 15 triệu USD

Biểu diễn kết quả ở dạng %: CGAP/A = 15/270 = 0.0556 = 5,56%

Bằng cách biểu diễn ở dạng % ngày, ta thấy: Tính chất của rủi ro lãi suất (GAP là dương hay âm); và mức chênh lệch tài sản có và tài sản nợ trên qui mô tài sản của ngân hàng là như thế nào Trong ví dụ trên, tài sản có nhạy cảm với lãi suất nhiều hơn với tài sản nợ trong kì hạn 1 năm là 5,56% Nếu lãi suất tăng 1% thì thu nhập ròng từ lãi suất sẽ thay đổi trong năm là:

= CGAP * = 15 * 0,01 = 150 000USD

Ta thấy, nếu chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất của ngân hàng là số dương, thì khi lãi suất tăng ngân hàng sẽ tăng thêm thu nhập từ lãi suất, khi lãi suất giảm ngân hàng sẽ phải chịu rủi ro lãi suất; và ngược lại

Như vậy, có thể thấy rằng mô hình tái định giá là công cụ hữu ích đối với nhà quản trị ngân hàng và những nhà định chế trong việc phòng ngừa rủi ro lãi suất Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như sau:

Thứ nhất, mô hình tái định giá chỉ phản ảnh được một phần rủi ro lãi suất đối với ngân hàng bởi mô hình này không đề cập đến giá trị thị trường của tài sản có và tài sản

nợ

Trang 23

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Thứ hai, vấn đề phân nhóm tài sản theo một khung kì hạn nhất định đã phản ánh sai lệch thông tin về cơ cấu các tài sản có và tài sản nợ trong cùng một nhóm, bởi trong cùng một nhóm, tài sản nợ có thể được định giá tại thời điểm cuối và tài sản nợ có thể được định giá lại tại thời điểm đầu của kì tái định giá Hơn nữa, nếu trong cùng một nhóm, ví dụ kì hạn từ 3 tháng đến 6 tháng số lượng tài sản có và tài sản nợ là bằng nhau, nhưng nếu cơ cấu kì hạn của tài sản có là 3 đến 4 tháng còn của tài sản nợ là từ 5 đến 6 tháng, thì rõ ràng là đã xuất hiện hiện tượng không cân xứng giữa tài sản nợ và tài sản

Thứ ba là về vấn đề tài sản đến hạn Trong thực tế, những khoản tín dụng dài hạn

có thể thế chấp được thường được trả góp định kì hàng tháng hoặc hàng quý Do đó, ngân hàng có thể tái đầu tư những khoản tiền thu được này trong năm với lãi suất trên thị trường hiện hành, nghĩa là các khoản tiền thu được trong năm thuộc loại tài sản có nhạy cảm với lãi suất

2.2 MÔ HÌNH KÌ HẠN – ĐẾN HẠN ( THE MATURITY MODEL )

Mô hình kì hạn đến hạn là một phương pháp đơn giản, trực quan để lượng hóa rủi

ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Nội dung của mô hình này bao gồm lượng hóa rủi ra lãi suất đối với một tài sản và lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một danh mục tài sản

2.2.1 LƯỢNG HÓA RỦI RO LÃI SUẤT ĐỐI VỚI MỘT TÀI SẢN

Giả sử ngân hàng nắm giữ một trái phiếu có kì hạn đề hạn là 1năm, lãi suất coupon 10%/năm, mệnh giá thanh toán khi đến hạn (F) là 100VND Nếu mức lãi suất 1 năm hiện tại trên thị trường (R) là 10% thì trị giá trái phiếu (P1) sẽ là:

1

P = F(1+C)/(1+R) = 100(1+0,10)/(1+0,10) = 100VND Nếu Ngân hàng Nhà nước áp dụng thắt chặt tiền tệ làm lãi suất thị trường tăng từ 10% lên 11%, thì giá trị của trái phiếu sẽ còn:

M

P1 = 100(1+0,10)/(1+0,11) = 99,10VND

Trang 24

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Như vậy giá trị của trái phiếu chỉ còn 99,10VND trên 100VND mệnh giá, giá trị ghi sổ vẫn là 100VND Thực tế, ngân hàng đã phải chịu lỗ rủi ro lãi suất là 0,90VND trên 100VND mệnh giá trái phiếu

Thị giá trái phiếu sau khi lãi suất tăng thêm 1% (P i M)

Tỷ lệ tổn thất tài sản ( Pi)

Tốc độ giảm giá của trái phiếu

Qua ví dụ trên ta có thể rút ra kết luận: Khi lãi suất thị trường tăng thì tài sản có

kì hạn càng dài giảm giá trị càng nhiều, nhưng tốc độ giảm giá của các trái phiếu có các

kì hạn khác nhau là không bằng nhau, mà theo quy luật giảm chậm dần Như vậy, khi lãi suất thị trường tăng lên thì giá trị tuyệt đối của P nmà lớn hơn P n 1, nghĩa là kì hạn

Trang 25

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

càng dài thì thiệt hại tài sản càng lớn, nhưng tốc độ thiệt hại giảm dần khi kì hạn tăng

lên Kết luận này có thể được biểu diễn bằng đồ thị như sau:

Đồ thị: Tỷ lệ tổn thất tài sản khi lãi suất thị trường tăng 1%

2.2.2 LƯỢNG HÓA RỦI RO ĐỐI VỚI MỘT DANH MỤC TÀI SẢN

Để lượng hóa rủi ro lãi suất trước tiên cần tính kì hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản có ( ) và tài sản nợ ( ) Ta có:

Trong đó:

là tỷ trọng và là kì hạn đến hạn của tài sản có i

là tỷ trọng và là kì hạn đến hạn của tài sản nợ j

n, m là số loại tài sản có và tài sản nợ phân theo kì hạn

Những quy tắc chung trong việc quản lý rủi ro lãi suất đối với một tài sản cũng có giá trị đối với một danh mục tài sản, đó là:

1) Một sự tăng (giảm) lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự giảm (tăng) giá trị của danh mục tài sản

2) Lãi suất thị trường tăng (giảm) thì danh mục tài sản có kì hạn càng dài sẽ giảm (tăng) càng lớn

Đối với các NHTM ngày nay, cơ cấu kì hạn của bản cân đối tài sản thường ở trạng thái > , nghĩa là kì hạn trung bình của tài sản có thường lớn hơn của tài sản

Trang 26

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

nợ Do vậy, khi lãi suất thị trường tăng, thì giá trị tài sản có và tài sản nợ đều giảm, nhưng tài sản có (A) sẽ giảm nhiều hơn so với vốn huy động (L) trong tài sản nợ Mức thay đổi vốn tự có là chênh lệch giữa tài sản có và vốn huy động được xác định:

Kì hạn trung bình 3 năm Kì hạn trung bình 1 năm Mức sinh lời 10%/năm Lãi suất huy động 10%/năm

Nếu lãi suất thị trường tăng từ 10% lên 11%

Trang 27

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Như vậy, do không cân xứng về mặt kì hạn, chỉ cần lãi suất tăng 1% cũng đủ để các cổ đông chịu thiệt hại 1,63 VND trên 10VND vốn tự có, hay vốn tự có giảm 1,63% Tại mức lãi suất 17%, vốn tự có sẽ giảm hơn 10VND, nghĩa là ngân hàng đã thực sự không còn khả năng thanh toán cuối cùng

Qua các ví dụ trên cho thấy, nguyên nhân chính gây nên rủi ro lãi suất đối với các NHTM là sự không cân xứng về kì hạn giữa tài sản nợ và tài sản có Do đó, về

mặt lý thuyết, phương pháp tốt nhất để phòng ngừa rủi ro lãi suất đối với một ngân hàng

là làm cho tài sản có và tài sản nợ cân xứng với nhau, hay M A M1 0 Nhưng trên thực tế, các ngân hàng thường sử dụng một tỷ lệ nhất định vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn nên rủi ro lãi suất luôn là yếu tố thường trực, đòi hỏi các ngân hàng cần phải nắm vững kỹ thuật phòng chống bằng các nghiệp vụ phái sinh

Mô hình kì hạn - đến hạn còn có hạn chế là đã không đề cập đến yếu tố thời lượng của các luồng tài sản có và tài sản nợ Tuy nhiên, nó có ưu điểm là đơn giản và trực quan nên được các ngân hàng sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là các ngân hàng đang trong quá trình chuyển đổi tiến tới hiện đại hóa như ở Việt Nam hiện nay

2.3 MÔ HÌNH THỜI LƯỢNG ( THE DURATION MODEL )

2.3.1 CÔNG THỨC TỔNG QUÁT VÀ Ý NGHĨA KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH THỜI

LƯỢNG

So với mô hình tái định giá và mô hình kì hạn - đến hạn, thì mô hình thời lượng được đánh giá là hoàn hảo hơn nhiều trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản có và tài sản nợ đối với lãi suất, bởi nó đề cập đến yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kì hạn đến hạn của tài sản nợ và tài sản có Thời lượng của tài sản là thước đo thời gian tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của

Thời lượng của một tài sản được định nghĩa là thước đo tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó Thời lượng của bất cứ một chứng khoán nào có thu nhập cố định được tính bằng công thức sau:

N

t t

N

t t

PV n

t PV D

1 1

Trang 28

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Trong đó:

t

t t

n R

CF PV

1N: tổng số luồng tiền xảy ra

n: số lần luồng tiền xảy ra trong một năm

M: kì hạn của chứng khoán tính theo năm (M = N/n) t: thời điểm xảy ra luồng tiền ( t = 1,2,3, ,N)

Ví dụ: Tính thời lượng trái phiếu coupon, biết kì hạn trái phiếu là 6 năm, lãi suất

coupon 19%/năm, lãi trả hàng năm, mệnh giá trái phiếu 1000USD, lãi suất thị trường hiện hành 19%/năm? (N = 6; n = 1; M = N/n = 6; t = 1,2,3,4,5,6; R = 19% = 0,19)

Kết quả tính toán được biểu diễn trong bảng dưới đây:

Bảng 1.5: Thời lượng của trái phiếu coupon có kì hạn 6 năm

159,66 134,17 112,74 94,74 79,62 419,05

159,66 268,34 338,24 378,96 398,09 2514,29

1000 1

N

t t

t PV

N

t t

057 , 4 1000

58 , 4057

Trang 29

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Mô hình thời lượng có những đặc điểm quan trọng trong mối quan hệ với kì hạn của tài sản, lãi suất của thị trường và lãi suất coupon như sau:

1 Thời lượng tăng lên cùng với kì hạn của tài sản có hoặc tài sản nợ có thu nhập cố định, nhưng với một tỉ lệ giảm dần, nghĩa là:

2 Khi lãi suất thị trường tăng thì thời lượng giảm, nghĩa là:

0

R D

3 Lãi suất coupon càng cao thì thời lượng càng giảm, nghĩa là:

0

C D

Thời lượng là phép đo trực tiếp độ nhạy cảm của giá trị tài sản có và tài sản nợ đối với lãi suất – chính là sự thay đổi thị giá của tài sản khi lãi suất thay đổi Thời lượng

D (Duration) của tài sản càng lớn thì giá trị của tài sản càng nhạy cảm với lãi suất Mối quan hệ giữa sự thay đổi thị giá dP và lãi suất thị trường dR được biểu diễn theo biểu thức sau:

R

dR D P

dP

1Trong đó:

P: thị giá (giá trị hiện tại của trái phiếu)

R: lãi suất hiện hành của thị trường (%/năm)

D: thời lượng của trái phiếu

dP: sự thay đổi thị giá trái phiếu

dR: sự thay đổi lãi suất thị trường

Như vậy, khi lãi suất thay đổi thì thị giá trái phiếu biến động ngược chiều theo

tỷ lệ thuận với độ lớn của thời lượng D

Trang 30

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Ví dụ: Trái phiếu coupon có kì hạn 6 năm, lãi suất coupon 19%/năm, lãi suất thị trường

19%/năm, thời lượng của trái phiếu (theo ví dụ trên) là D = 4,05 năm Giả sử lãi suất thị trường tăng lên 19,01%, ta có:

%034,000034,019

,1

0001,005,4

P dP

tức là thị giá trái phiếu giảm 0,034%

2.3.2 MÔ HÌNH THỜI LƯỢNG VÀ VẤN ĐỀ PHÕNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT

Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, thì việc sử dụng mô hình thời lượng để quản trị rủi ro lãi suất là một giải pháp thích hợp bởi nó cho phép các ngân hàng phòng ngừa được rủi ro lãi suất đối với toàn bộ hay một bộ phận riêng lẻ của bảng cân đối tài sản Để hiểu rõ hơn về điều này, chúng ta sẽ nghiên cứu hai ví dụ cụ thể sau

MÔ HÌNH THỜI LƯỢNG VÀ VẤN ĐỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN

Các nhà quản trị ngân hàng luôn phải đối mặt với vấn đền cơ cấu của danh mục tài sản để họ có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản tiền gửi khi đến hạn Nhà quản trị ngân hàng phải đối mặt với rủi ro trong trường hợp danh mục đầu tư có kì hạn ngắn và khi lãi suất thị trường giảm, dẫn đến thu nhập từ danh mục đầu tư không đủ để trang trải chi phí vốn huy động Do đó, ngân hàng phải dùng đến quỹ dự trữ và vốn tự có để bù đắp khoản lỗ này

Giả sử, vào thời điểm năm 2008, ngân hàng huy động trái phiếu triết khấu, kì hạn

4 năm, thanh toán một lần cả gốc và lãi vào năm 2012 Giả sử mệnh giá trái phiếu chiết khấu là $2.005 Để phòng ngừa rủi ro lãi suất, ngân hàng phải xác định được một cơ cấu danh mục đầu tư đảm bảo chắc chắn rằng sau 4 năm sẽ thu được một khoản tiền cả gốc lẫn lãi là $2.005, không phụ thuộc sự thay đổi của lãi suất Để làm được điều này, ngân hàng có thế thực hiện theo 1 trong 2 cách sau:

Cách 1: Mua trái phiếu chiết khấu kì hạn 4 năm

Giả sử mệnh giá trái phiếu là $2.005, lãi suất hiện hành của thị trường là 19%/năm và được tính theo phương thức lãi kép, thì thị giá của trái phiếu triết khấu kì hạn 4 năm là:

USD 1000 19

, 0 1

2005 4

P

Trang 31

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Như vậy, nếu ngân hàng đầu tư $1000 vào trái phiếu chiết khấu, thì sau 4 năm sẽ thu được một khoản tiền chắc chắn là $2.005 Điều này có được là do thời lượng của trái phiếu trùng với kì hạn thanh toán cho người gửi tiền (4năm) Ta thấy là đối với trái phiếu chiết khấu, không có bất cứ khoản thanh toán nào trong suốt kì hạn của trái phiếu

Do đó, mệnh giá của trái phiếu sẽ được thanh toán đấy đủ 100% vào thời điểm đến hạn cho dù lãi suất thị trường có thể thay đổi tại bất cứ thời điểm nào trong suốt kì hạn hiệu lực của trái phiếu

Cách 2: Mua trái phiếu chiết khấu thời lượng 4 năm

Bên cạnh trái phiếu triết khấu kì hạn 4 năm, nhà quản trị ngân hàng có thể đầu tư vào trái phiếu coupon có thời lượng 4 năm để phòng ngừa rủi ro lãi suất Như đã được tính trong bảng 1.5, trái phiếu coupon có kì hạn 6 năm, lãi suất coupon 19%/năm, lãi suất hiện hành 19%/năm thì có thời lượng là 4,05 năm (xấp xỉ 4 năm) Bằng cách, mua loại trái phiếu coupon này vào năm 2008 và chuyển nhượng chúng vào cuối năm 2012 (trùng với thời điểm thanh toán vốn huy động), thì khoảng tiền thu được từ chuyển nhượng trái phiếu tại thời điểm cuối năm thứ 4 chắc chắn là 2.005USD , dù lãi suất thị trường thay đổi như thế nào, vào bất cứ thời điểm nào Điều này được chứng minh qua bảng 1.6 dưới đây:

Bảng 1.6: Thu nhập của trái phiếu coupon thời lượng 4 năm khi lãi suất thị

trường thay đổi

Thu nhập từ chuyển nhượng trái phiếu 1000 1015 985

190190

1190190

1

Trang 32

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Chuyển nhượng trái phiếu tại thời điểm cuối năm thứ 4, mức lãi suất coupon 19%/năm nên đến cuối năm thứ 6 thu nhập gốc và lãi của trái phiếu sẽ là 1416,1 Do đó, thị giá trái phiếu tại thời điểm chuyển nhượng được tính: 2

4 1416 , 1 1 r

Như vậy, bằng cách làm cho thời lượng của khoản đầu tư (như trái phiếu coupon, hay bất kì công cụ tài chính nào có thu nhập cố định) cân xứng với kì hạn thanh toán vốn huy động, thì ngân hàng sẽ phòng ngừa được rủi ro khi lãi suất thay đổi Khoản lãi hay

lỗ từ tái đầu tư do lãi suất thay đổi là vừa đủ để bù đắp cho sự giảm giá hay tăng giá của trái phiếu do sự thay đổi của lãi suất

MÔ HÌNH THƠI LƯỢNG VÀ VẤN ĐỀ PHÕNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT ĐỐI VỚI BẢNG

CÂN ĐỐI TÀI SẢN

Mô hình thời lượng có thế được dùng để đánh giá rủi ro lãi suất một cách tổng thể, nghĩa là đo mức chênh lệch về thời lượng của tài sản có và tài sản nợ của bảng cân đối tài sản và từ đó xác định sự thay đổi tài sản của ngân hàng là như thế nào Sự thay đổi đó được tính theo công thức sau:

R1

D : Thời lượng của toàn bộ tài sản nợ

E: Mức thay đổi vốn tự có khi lãi suất thị trường thay đổi

A L

k : Tỷ lệ vốn huy động trên tổng tài sản có của ngân hàng - tỷ lệ đòn bẩy

Kết luận:

i Chênh lệch thời lượng giữa tài sản có và tài sản nợ đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ đòn bẩy D A D L k Chênh lệch thời lượng được tính bằng năm, phản ánh sự không cân xứng về thời lượng của hai vế bảng cân đối tài sản Đặc biệt, nếu chênh lệch này lớn thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất với ngân hàng càng cao

ii Quy mô của ngân hàng, tức tổng tài sản có A càng lớn thì tiềm ẩn rủi rõ lãi suất đối với ngân hàng càng cao

Trang 33

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

iii Mức thay đổi lãi suất R/( 1 R) càng nhiều thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao

Như vậy, chúng ta có thể biểu diễn rủi ro lãi suất đối với vốn tự có của ngân hàng như sau:

E - Chênh lệch thời lượng đã điều chỉnh Quy mô tài sản Mức thay đổi lãi suất

Trong đó, ảnh hưởng của yếu tố lãi suất mang tính chất ngoại sinh đối với ngân hàng do chịu ảnh hưởng từ ngân hàng trung ương, còn mức độ chênh lệch thời lượng và quy mô tài sản được đặt dưới sự kiểm soát của ngân hàng

2.3.3 HẠN CHẾ CỦA MÔ HÌNH THỜI LƯỢNG

Mô hình thời lượng được xem là rất khó để áp dụng vào thực tiễn hoạt động kinh doanh ngân hàng, dù việc áp dụng mô hình này vào việc phòng ngừa rủi ro lãi suất là rất hiệu quả trong hầu hết các trường hợp của thực tiễn hoạt động ngân hàng Trên thực tế,

mô hình thời lượng mới chỉ được bắt đầu sử dụng tại một số nước như Mỹ, Öc Dù được xem là hoàn hảo hơn nhiều so mới mô hình tái định giá và mô hình kì hạn - đến hạn, nhưng mô hình thời lượng vẫn có một số hạn chế như sau:

Thứ nhất, mô hình thời lượng sử dụng giả thuyết lãi suất thị trường thay đổi

ngay lập tức sau khi mua trái phiếu Trong thực tế thì không phải lúc nào cũng như vậy,

lãi suất thị trường có thể thay đổi vào bất cứ lúc nào trong suốt thời hạn của trái phiếu

Thứ hai, thời lượng của trái phiếu thay đổi theo thời gian, nghĩa là càng gần đến

ngày đến hạn thì thời hạn của trái phiếu càng giảm Điều này làm xuất hiện sự không

cân xứng về thời lượng giữa khoản tiền sẽ phải thanh toán và khoản tiền sẽ nhận được Điều đó đòi hỏi việc phòng ngừa rủi ro lãi suất dựa trên mô hình thời lượng phải là một chiến lược linh hoạt

Thứ ba, mô hình thời lượng có thể đo chính xác sự thay đổi thị giá của chứng

khoán có thu nhập cố định khi lãi suất thị trường thay đổi ở mức nhỏ (1 điểm phần trăm) Nếu lãi suất thay đổi ở mức lớn hơn (từ 2 đến 200 điểm) thì mô hình thời lượng

trở nên kém tin cậy, không thể dự đoán được sự thay đổi thị giá của chứng khoán một cách chính xác

Trang 34

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Thứ tư, nếu chỉ nghiên cứu mô hình thời lượng đơn với tuyến lãi suất (hay cấu

trúc kỳ hạn của lãi suất) là nằm ngang, không thay đổi theo kì hạn của lãi suất, thì sẽ tiềm ẩn một sai số đáng kể trong việc đo độ nhạy cảm của giá trị tài sản đối với sự thay đổi của lãi suất

Thứ năm, trên thực tế, khách hàng có thể chậm thanh toán khoản tiền lãi tín

dụng cho ngân hàng hoặc ngân hàng phải cơ cấu lại khoản nợ cho khách hàng Điều

này dẫn đến các luồng tiền mà ngân hàng nhận hoặc chi trả trong tương lai sẽ thay đổi (được cơ cấu lại), đây cũng là nguyên nhân buộc ngân hàng phải tính toán và điều chỉnh lại thời lượng tài sản có và tài sản nợ

3 CÁC PHƯƠNG THỨC PHÕNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

3.1 QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT ÁP DỤNG CÁC HỢP ĐỒNG PHÁI SINH

Về lý thuyết, các NHTM có thể sử dụng cả bốn loại hợp đồng phái sinh là: hợp đồng kì hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi để phục vụ cho công tác quản trị rủi ro lãi suất Nhưng trong thực tế hoạt động, các hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn thường ít được các NHTM sử dụng vì nhiều lý do khác nhau Trái lại, các hợp đồng kì hạn và hợp đồng hoán đổi tỏ ra hữu dụng, được các NHTM quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhiều nhất trong công tác quản trị rủi ro lãi suất Chính vì vậy, trong khuôn khổ giới hạn của đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ đi sâu nghiên cứu về hai loại hợp đồng phái sinh này, nhằm lý giải cách thức các NHTM có thể phòng chống rủi ro lãi suất khi sử dụng hợp đồng kì hạn và hợp đồng hoán đổi

3.1.1 HỢP ĐỒNG KÌ HẠN

Hợp đồng kì hạn là công cụ tài chính phái sinh đơn giản Đó là một thỏa thuận mua hoặc bán một tài sản tại một thời điểm trong tương lai với một giá đã xác định trước Nếu lãi suất thị trường được dự báo là sẽ tăng lên thì nhà quản trị ngân hàng có thể bán kì hạn các trái phiếu theo giá hiện tại Khi hợp đồng kì hạn đến hạn nếu lãi suất tăng lên đúng như dự báo, nhà quản trị ngân hàng sẽ thực hiện việc bán trái phiếu cho người mua theo giá thỏa thuận cố định trong hợp đồng, do đó tránh được thiệt hại do giá trái phiếu giảm Ngược lại, nếu như ngân hàng dự báo lãi suất thị trường sẽ giảm, thì nhà quản trị ngân hàng có thể kí các hợp đồng mua kì hạn các trái phiếu để phòng ngừa rủi

ro lãi suất

Trang 35

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Giả sử nhà quản trị ngân hàng đang nắm giữ 1 triệu USD các trái phiếu kì hạn 10 năm Tại t = 0, các trái phiếu này có thị giá 97USD trên 100USD mệnh giá, tức tổng trị giá trái phiếu là 970.000USD Tại t = 0, nhà quản trị ngân hàng dự báo lãi suất sẽ tăng 2% từ mức 12,5428% lên 14,5428% trong thời hạn 3 tháng tới, đồng thời nhà quản trị tính toán thời lượng của trái phiếu có kì hạn 10 năm chính xác là 6 năm Theo mô hình thời lượng, có thể dự tính khoản lỗ (dP) như sau:

R

dR D P

dP

1

Trong đó:

dP: Khoản lỗ của trái phiếu

P: Thị giá của trái phiếu, P = 970.000

D: Thời lượng của trái phiếu, D = 6 năm

dR: mức thay đổi lãi suất dự tính, dR = 0,02

1 + R = 1 + 0,125428 = 1,125428

Thay số vào ta tính được: dP = - 103.427,32 USD

Như vậy, dP/P = -10,66%, tức là giá trái phiếu giảm từ 97USD xuống còn 86,657USD trên 100USD mệnh giá Để giảm giảm rủi ro lỗ xuống 0, nhà quản trị có thế

tiến hành bán kì hạn 1 triệu USD mệnh giá của các trái phiếu này với kì hạn 3 tháng Giả

sử, tại t = 0, nhà quản trị tìm được đối tác sẵn sàng mua với giá 97USD trên 100USD mệnh giá bằng kì hạn 3 tháng Như vậy, nếu lãi suất thực sự tăng sau 3 tháng thì giá trái

phiếu sẽ giảm 10,66%, tương đương khoản lỗ 103.427,32 USD Mặt khác, nhà quản trị

có thể mua 1 triệu USD mệnh giá trái phiếu có kì hạn 10 năm trên thị trường giao ngay với giá 866.573 USD và giao cho đối tác theo hợp đồng kì hạn Khi đó thì lợi nhuận thu được từ hợp đồng kì hạn này là:

970.000 – 866.573 = 103.427 (USD)

Do đó sự thua lỗ trên bảng cân đối tài sản sẽ được bù đắp đầy đủ từ hợp đồng bán

kì hạn Như vậy, rủi ro lãi suất đối với ngân hàng được phòng ngừa, tức bằng 0

Trong hợp đồng kì hạn chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, và mỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh

Trang 36

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng Ngoài ra, vì mức giá

cả đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác

3.1.2 HỢP ĐỒNG HOÁN ĐỔI

Hợp đồng hoán đổi là một hợp đồng trong đó hai bên thỏa thuận trao đổi nghĩa vụ thanh toán Thông thường, giao dịch này bao gồm các thanh toán lãi, và trong một số trường hợp là thanh toán nợ gốc Giao dịch hoán đổi lãi suất là sản phẩm của thị trường phi tập trung được kết hợp trực tiếp giữa hai ngân khàng hoặc giữa ngân hàng với khách hàng Theo đó không có mẫu chuẩn của hợp đồng giao dịch hoán đổi, và các hợp đồng kiểu này sẽ khác nhau về một số nội dung Thông qua giao dịch hoán đổi, một ngân hàng có thể tiến hành phòng ngừa rủi ro lãi suất một cách dài hạn, có khi tới 15 năm, do

đó sẽ giảm được sự cần thiết phải tiến hành các giao dịch kì hạn và giao dịch tương lai

Ví dụ, giả sử có hai ngân hàng:

 Ngân hàng quốc gia Có đặc trưng tài sản nợ là vốn có kì hạn dài với lãi suất cố định và đặc trưng tài sản có là các khoản tín dụng thương mại và công nghiệp có mức lãi suất thay đổi 6tháng/lần theo sự thay đổi của chỉ số lãi suất kỳ phiếu ngân hàng (BBSW) Ngân hàng phải đối mặt với sự không cân xứng âm về thời lượng:

0

L

A kD

 Ngân hàng tiết kiệm Có đặc trưng tài sản có là các khoản cho vay bất động sản

có lãi suất cố định, thời lượng tương đối dài và đặc trưng tài sản nợ là các khoản huy động tiết kiệm và phát hành chứng chỉ tiền gửi với kì hạn ngắn, được huy động tuần hoàn với mức lãi suất hiện hành Ngân hàng phải đối mặt với rủi ro lãi suất ngược chiều với ngân hàng quốc gia: DA kDL 0

Để tránh được rủi ro, cả hai ngân hàng có thể tham gia một hợp đồng Swaps lãi suất thả nổi/cố định, trong đó có sự tham gia của một ngân hàng thứ ba như là người môi giới thuần túy Hợp đồng có giá trị $100 triệu tương đương giá trị phát hành trái phiếu

có kì hạn 2 năm với lãi suất coupon là 16% năm của ngân hàng quốc gia Giao dịch Swaps lãi suất trong trường hợp này đóng vai trò như là một chỉ dẫn đối với ngân hàng tiết kiệm tiến hành thanh toán lãi suất cố định ở mức 16%/năm trên mệnh giá $100 triệu

để trả lãi suất trái phiếu của ngân hàng quốc gia Ngược lại, ngân hàng quốc gia thanh toán cho ngân hàng tiết kiệm mỗi năm 2 lần trên mệnh giá $100 triệu với mức lãi thả nổi theo BBSW có kì hạn 6 tháng, giả sử BBSW = 14%/năm và các ngân hàng thỏa thuận mức lãi suất thanh toán cho ngân hàng tiết kiệm cộng thêm 2%

Trang 37

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Ngân hàng quốc gia thanh toán cho ngân hàng tiết kiệm theo lãi suất thả nổi như sau:

ngay

thang trong

ngay so BBSW

.365

.6 000.000.100

%2

Ngân hàng tiết kiệm thanh toán cho ngân hàng quốc gia theo lãi suất cố định như sau:

ngay

thang trong

ngay so

365

6 000 000 100

% 16

Các luồng tiền thanh toán giữa hai ngân hàng được tóm lược như sau:

Bảng 1.7: Các luồng tiền thanh toán giữa hai ngân hàng trong hợp đồng hoán đổi

BBSW thực

tế 6 tháng

BBSW

6 tháng +2%

Luồng tiền thanh toán bởi NH quốc gia

Luồng tiền thanh toán bởi NH tiết kiệm

Luồng tiền thanh toán ròng bởi NH quốc gia

7.978.082,19 8.021.917,81 7.978.082,19 8.021.917,81

+498.631,137 +501.369,863 -498.630,137 -1.002.739,73

Tổng - - - 31.498.630,1 20.000.000 -501.369,863

Ta thấy, ngân hàng tiết kiệm thu được lợi nhuận từ hợp đồn Swaps lãi suất trong hai kì thanh toán đầu của năm thứ nhất là $1triệu Số lợi nhuận này được dùng để bù đắp cho sự tăng lên của chi phí huy động tiền gửi tiết kiệm và các chứng chỉ tiền gửi do lãi suất thị trường tăng, nghĩa là thông qua giao dịch Swaps, ngân hàng tiết kiệm đã phòng tránh được rủi ro khi lãi suất thị trường tăng Ngược lại, ngân hàng quốc gia thu được lợi nhuận là $1.501.370 trong hai kì thanh toán cuối năm thứ hai khi lãi suất thị trường giảm Số lợi nhuận này được dùng để bù đắp cho sự giảm thu nhập từ các khoản tín

Trang 38

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

dụng thương mại và công nghiệp có lãi suất thả nổi khi lãi suất thị trường giảm Nghĩa là ngân hàng quốc gia đã phòng ngừa được rủi ro khi lãi suất thị trường giảm

Kết quả cuối cùng là ngân hàng quốc gia đã thu được một khoản lợi nhuận ròng

từ hợp đồng Swaps lãi suất là $501.370

3.2 QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ KHE

HỞ NHẠY CẢM LÃI SUẤT

Quản trị rủi ro theo mô hình GAP được sử dụng từ năm 1980 nhằm quản lý tỉ lệ thu nhập lãi cận biên trong thời gian ngắn hạn

Kỹ thuật quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất là kỹ thuật phổ biến mà các ngân hàng

sử dụng để ngăn ngừa và kiềm chế rủi ro lãi suất Kĩ thuật này được thực hiện bằng cách tính toán sự chênh lệch trong độ nhạy cảm lãi suất của tất cả các loại nguồn vốn huy động với độ nhạy cảm lãi suất của các tài sản có được tài trợ bằng nguồn vốn này trong ngắn hạn Sau đó phiên bản GAP này sẽ được sử dụng để tìm ra sự thay đổi trong lợi nhuận khi lãi suất thay đổi

 Sử dụng các phân tích biến thiên về độ nhạy cảm để dự đoán sự thay đổi trong thu nhập từ lãi

Ví dụ minh họa : Nhà quản trị một NHTM thực hiện quản lý rủi ro lãi suất theo mô

hình GAP trong khoảng thời gian 3 tháng và phân nhóm bảng tổng kết tài sản như sau :

(LS : lãi suất; LSCĐ :lãi suất cố định; NCLS: nhạy cảm lãi suất)

(Đơn vị :tỷ đồng)

Trang 39

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Bảng 1.8.1: Bảng tổng kết tài sản phân nhóm theo khoản mục nhạy cảm lãi suất

Tài sản

Lãi suất cho vay trung bình

Nguồn vốn

Lãi suất huy động trung bình

Nếu lãi suất trên thị trường giảm và lãi suất cho vay, lãi suất huy động tăng cùng mức độ thì thu nhập thuần từ lãi sẽ tăng do chi phí tiền lãi huy động nguồn vốn cao hơn doanh thu từ lãi

Xét các trường hợp biến động của lãi suất:

 Trường hợp lãi suất tăng 1% cho khoản mục tài sản và nguồn vốn huy động :

Đơn vị : tỷ đồng

Trang 40

[ Nghiên cứu Quản trị Rủi ro Lãi suất đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay.]

Bảng 1.8.2: Bảng tổng kết tài sản phân nhóm theo khoản mục NCLS khi lãi suất tăng

1%

Tài sản

Lãi suất cho vay trung bình

Nguồn vốn

Lãi suất huy động trung bình

Lãi suất trung bình trên tài sản có sinh lời = 30/850 = 3,53%

Chênh lệch âm, lãi suất tăng cùng mức độ trên tài sản và nguồn vốn thì lãi thuần từ tiền lãi giảm (3,53<3,65)

 Trường hợp lãi suất tăng nhưng không cùng mức độ dẫn đến chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn giảm 1%

Bảng 1.8.3: Bảng tổng kết tài sản phân nhóm theo khoản mục NCLS khi chênh lệch

lãi suất giảm 1%

Đơn vị : tỷ đồng

Tài sản

Lãi suất cho vay trung bình

Nguồn vốn

Lãi suất huy động trung bình

Ngày đăng: 22/03/2014, 11:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anthony Saunders &amp; Marcia Million Cornet – “Financial Institutions management: A risk Approach Management”, 4 th edition, McGraw Hill, Boston 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Institutions management: A risk Approach Management
3. ThS. Dương Thị Bích Thủy, Trung tâm Thông tin Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – “Hoạt động Ngân hàng Thương mại Việt Nam sau 1 năm gia nhập WTO.” – Hội thảo khoa học: “Hệ thống Ngân hàng Việt Nam và các cam kết WTO: Đánh giá và triển vọng.”,5/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động Ngân hàng Thương mại Việt Nam sau 1 năm gia nhập WTO.” – Hội thảo khoa học: “Hệ thống Ngân hàng Việt Nam và các cam kết WTO: Đánh giá và triển vọng
4. Trần Minh Tuấn, phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước - “Tăng cường công tác thanh tra, giám sát Ngân hàng trong tình hình mới.”III/ BÀI BÁO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác thanh tra, giám sát Ngân hàng trong tình hình mới
Tác giả: Trần Minh Tuấn
1. Nguyễn Hoài, Minh Đức - “Ngân hàng : Làm sao chung sống với rủi ro?.” , Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 180, ngày 9/9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng : Làm sao chung sống với rủi ro
2. “Áp dụng phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất vào quản lý kinh doanh Ngân hàng” - Tạp chí Ngân hàng, số 4, 02/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất vào quản lý kinh doanh Ngân hàng
3. “Mô hình thời lƣợng và vấn đề quản trị rủi ro lãi suất” - Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 298, 03/2003.C/ WEBSITE Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình thời lƣợng và vấn đề quản trị rủi ro lãi suất
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Năm: 2003
2. John Holliwell: The Financial Risk Manual – A Systematic Guide to Identifying and Managing Financial Risk. Pitman Publishing, 1997 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Cơ cấu tài sản có và tài sản nợ - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 1.1 Cơ cấu tài sản có và tài sản nợ (Trang 20)
Bảng 1.4: Bảng cân đối tài sản của ngân hàng với các mức lãi suất 10%, 11% và 17%. - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 1.4 Bảng cân đối tài sản của ngân hàng với các mức lãi suất 10%, 11% và 17% (Trang 26)
Bảng 1.5: Thời lƣợng của trái phiếu coupon có kì hạn 6 năm. - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 1.5 Thời lƣợng của trái phiếu coupon có kì hạn 6 năm (Trang 28)
Bảng 1.8.3: Bảng tổng kết tài sản phân nhóm theo khoản mục NCLS khi chênh lệch - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 1.8.3 Bảng tổng kết tài sản phân nhóm theo khoản mục NCLS khi chênh lệch (Trang 40)
Bảng 1.8.2: Bảng tổng kết tài sản phân nhóm theo khoản mục NCLS khi lãi suất tăng - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 1.8.2 Bảng tổng kết tài sản phân nhóm theo khoản mục NCLS khi lãi suất tăng (Trang 40)
Bảng 2.1: Đầu tƣ chiến lƣợc tại các Ngân hàng Việt Nam (tính đến 31/12/2007). - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 2.1 Đầu tƣ chiến lƣợc tại các Ngân hàng Việt Nam (tính đến 31/12/2007) (Trang 48)
Bảng 2.4: Bảng tổng kết tài sản nợ của NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 2.4 Bảng tổng kết tài sản nợ của NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Trang 54)
Bảng 2.5.1: Bảng cân đối số 1 tài sản có – tài sản nợ của NH Nông nghiệp và Phát - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 2.5.1 Bảng cân đối số 1 tài sản có – tài sản nợ của NH Nông nghiệp và Phát (Trang 55)
Bảng 2.5.3: Bảng cân đối số 3 tài sản có – tài sản nợ của NH Nông nghiệp và Phát - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 2.5.3 Bảng cân đối số 3 tài sản có – tài sản nợ của NH Nông nghiệp và Phát (Trang 57)
Bảng 2.6: Bảng tổng kết tài sản có – tài sản nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 2.6 Bảng tổng kết tài sản có – tài sản nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần (Trang 58)
Bảng 2.7.1: Bảng cân đối tài sản có – tài sản nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
Bảng 2.7.1 Bảng cân đối tài sản có – tài sản nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần (Trang 59)
Sơ đồ  Các luồng luân chuyển vốn trong - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
c luồng luân chuyển vốn trong (Trang 87)
1.4  Bảng cân đối tài sản của ngân - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
1.4 Bảng cân đối tài sản của ngân (Trang 88)
2.3  Bảng tổng kết tài sản có của NH - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
2.3 Bảng tổng kết tài sản có của NH (Trang 89)
2.6  Bảng tổng kết tài sản có – tài sản nợ - Đề tài: Nghiên cứu quản trị rủi ro lãi suất đỗi với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay pdf
2.6 Bảng tổng kết tài sản có – tài sản nợ (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w