Liu và cộng sự khảo sát cấu trúc của cluster silic pha tạp nguyên tố sắt, SinFe, ở kích thước nhỏ n = 1-8 với các trạng thái điện tích khác nhau đã chỉ ra rằng dạng trung hòa và anion tư
Trang 1Nghiên cứu cấu trúc và độ bền của cluster anion SinFe- (n = 8-12), so sánh với dạng trung hòa và cation
Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Duy Phi, Lê Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Tiến Trung, Vũ Thị Ngân *
Phòng Thí nghiệm Hóa học tính toán và mô phỏng (LCCM), Khoa Hóa học, Trường Đại học Quy Nhơn
Đến Tòa soạn 12-3-2018; Chấp nhận đăng 15-5-2018
Abstract
The geometries and stabilities of anionic Fe-doped silicon cluster SinFe- (n = 8-12) have been investigated by using
density functional theory at the B3P86/6-311+G(d) level of theory The most stable isomers of the SinFe- clusters are of the same structures as the neutrals, but different from the cation The anionic clusters are more stable than the neutral and cationic ones Especially, the Si10Fe- and Si12Fe- clusters are of the most stability in the series while the Si11Fe- is of the lowest stability The neutral SinFe clusters possess relatively high ionization energies and very high electron affinity (~4 eV), thus they can be good candidates for the anions in the ionic liquids
Keywords Density functional theory B3P86, Fe-doped silicon clusters, anionic cluster, cationic cluster, electron
affinity
1 GIỚI THIỆU
Trong các vật liệu nano, cluster được gọi là vật liệu
nano 0D và chiếm một vị trí rất quan trọng Sự tập
hợp các nguyên tử theo dạng hình học xác định dẫn
đến những thuộc tính lý hóa hoàn toàn khác nhau, và
khác với thuộc tính của nguyên tử thành phần hoặc
chất rắn dạng khối Hiện nay, cluster silic vẫn đang
là hướng nghiên cứu được quan tâm rộng rãi ở cả
trong lý thuyết và thực nghiệm bởi những ứng dụng
tiềm năng của chúng.[1-3] Việc nghiên cứu cấu trúc và
độ bền của cluster giúp phát hiện ra các tính chất
mới, độc đáo và có thể được duy trì khi đưa vào vật
liệu.[4]
Việc pha tạp kim loại chuyển tiếp với phân lớp d
chưa bão hòa vào cluster silic tinh khiết đã tạo ra
những cấu trúc có hình khối và tính chất khác hẳn
với cluster tinh khiết.[5] Vì thế đã có nhiều nghiên
cứu cấu trúc và tính chất của cluster silic pha tạp các
kim loại này với kì vọng phát hiện ra cluster có độ
bền và từ tính đặc biệt để tạo ra vật liệu mới Liu và
cộng sự khảo sát cấu trúc của cluster silic pha tạp
nguyên tố sắt, SinFe, ở kích thước nhỏ (n = 1-8) với
các trạng thái điện tích khác nhau đã chỉ ra rằng
dạng trung hòa và anion tương đồng về cấu trúc,
dạng cation biến dạng nhiều hơn và khả năng phản
ứng ở dạng anion lớn hơn hai dạng kia.[6] Một số
công trình khác cũng đã công bố cấu trúc của cluster
SinFe kích thước từ nhỏ tới trung bình ở dạng trung
hòa.[7,8] Nghiên cứu độ bền của cluster SinFe với n =
6-16 dạng trung hòa, Khanna và cộng sự cho rằng
cluster Si14Fe bền nhất trong dãy.[8]
Một nghiên cứu gần đây của chúng tôi cho cluster SinFe0/+ (n = 8-12)
cho thấy cấu trúc của cluster trung hòa và cation khác nhau nhiều, tuy nhiên cấu trúc của cluster cation có đối xứng thấp hơn nhưng bền hơn cluster trung hòa.[9]
Trong công trình này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu cấu trúc, độ bền của cluster anion SinFe- (n = 8-12) bằng phương pháp hóa học tính toán và so sánh với các dạng trung hòa, cation đã được nghiên cứu trước đó[9] nhằm tìm ra tác động của việc thay đổi số electron lên cấu trúc và tính chất của cluster silic pha tạp một nguyên tử sắt
2 PHƯƠNG PHÁP TÍNH Các phương pháp phiếm hàm mật độ DFT thường được sử dụng để dự đoán cấu trúc và độ bền của cluster, do kết quả tính toán tương đối phù hợp với thực nghiệm.[10,11] Trong nghiên cứu này, chúng tôi
sử dụng phương pháp phiếm hàm hỗn hợp B3P86,
để tối ưu hóa hình học và tính tần số dao động cho tất cả các đồng phân của cluster Phương pháp này là
sự kết hợp của phiếm hàm trao đổi ba thông số của Becke (kí hiệu là B3) và phiếm hàm tương quan của Perdew năm 1986 (kí hiệu là P86) dựa trên sự gần đúng gradient tổng quát GGA Bộ hàm cơ sở 6-311+G(d) là một bộ cơ sở hóa trị tách ba kiểu Pople có kết hợp thêm 1 bộ hàm phân cực d và một
bộ hàm khuyếch tán Phép tính tối ưu hóa hình học
Trang 2giúp xác định được cấu trúc hình học, trạng thái
electron và năng lượng của các đồng phân của
cluster Phép tính tần số dao động điều hòa giúp
khẳng định chắc chắn đồng phân là cực tiểu trên bề
mặt thế năng và tính hiệu chỉnh năng lượng dao
động điểm không ZPE Tất cả các tính toán đều
được thực hiện ở mức lý thuyết B3P86/6-311+G(d)
trên phần mềm Gaussian 03 (phiên bản E.01).[12]
Để khảo sát độ bền tương đối của các cluster,
một số thông số năng lượng như năng lượng liên kết
trung bình Eb (Average Binding Energy), biến thiên
bậc hai của năng lượng 2
E (Second-Order Difference of Energy), năng lượng vùng cấm
HOMO-LUMO (E = ELUMO - EHOMO), năng lượng
ion hóa AIE (adiabatic ionization energy), ái lực
electron EA (electron affinity) đều được tính dựa
trên chênh lệch năng lượng của đồng phân bền nhất
của cluster SinFe
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đồng phân bền của cluster anion Si n Fe
-Để tìm kiếm tất cả các đồng phân có thể có của mỗi
cluster anion, chúng tôi xây dựng cấu trúc đồng phân
ban đầu của cluster pha tạp SinFe- bằng các cách: (i)
dùng cấu trúc các đồng phân của cluster trung hòa
và cation đã nghiên cứu trước đây[9] và tối ưu ở các
độ bội doublet, quartet và sextet; (ii) thay thế một
nguyên tử Si trong cluster Sin+1 hoặc cộng thêm
nguyên tử Fe vào cấu trúc của cluster Sin tinh khiết
Thực hiện tối ưu hóa hình học các đồng phân này,
chúng tôi thu được khá nhiều cấu trúc bền của các
cluster anion SinFe- (n = 8-12), tuy nhiên hình 1 chỉ
biểu diễn 3 cấu trúc có năng lượng thấp nhất cho
mỗi cluster anion Các cấu trúc của cluster SinFe
-được kí hiệu là na-, trong đó n là số nguyên tử Si
trong cluster, n = 8-12; = 1-3 là số thứ tự của các
cấu trúc được sắp xếp theo chiều tăng dần của năng
lượng tương đối của các đồng phân tương ứng Năng
lượng tương đối của các đồng phân được tính từ sự
chênh lệch của năng lượng tổng (đã được hiệu chỉnh
năng lượng điểm không ZPE) của đồng phân xem
xét so với đồng phân có năng lượng thấp nhất của
một cluster Các thông tin khác của đồng phân được
chỉ ra trong ngoặc vuông [] gồm: nhóm điểm đối
xứng, trạng thái electron và năng lượng tương đối
tính theo eV
Ba cấu trúc bền nhất của cluster anion Si8Fe
-(8a-1, 8a-2 và 8a-3) đều được hình thành dựa trên
motif cấu trúc lưỡng tháp ngũ giác với nguyên tử Fe
là một đỉnh tháp Đồng phân bền nhất
(8a-1-quartet) có cấu trúc lưỡng tháp ngũ giác kép với đối
xứng C 2v, trạng thái electron 4A2, trong đó nguyên tử
Fe là đỉnh chung của cả hai lưỡng tháp và tạo liên
kết với tất cả 8 nguyên tử Si trong clustesr nên có số phối trí cao nhất trong tất cả các đồng phân
8a-1
[C2v; 4A2; 0,00]
[C1; 2A; 0,51]
8a-2
[Cs; 4A”; 0,22]
[Cs; 2A”; 0,79]
8a-3
[C1; 4A; 0,42]
[C1; 2A; 0,84]
9a-1
[Cs; 2A’; 0,00]
[Cs; 4A’; 0,30]
9a-2
[C1; 4A; 0,36]
[Cs; 2A’; 0,93]
9a-3
[Cs; 4A’; 0,39]
[Cs; 2A’; 0,92]
10a-1
[C1; 2A; 0,00]
[C1; 4A; 0,58]
10a-2
[C1; 4A; 0,11]
10a-3
[Cs; 4A’; 1,68]
[Cs; 2A’; 1,72]
11a-1
[Cs; 2A’; 0,00]
[Cs; 4A’; 0,20]
11a-2
[Cs; 2A’; 0,06]
[Cs; 4A’; 0,39]
11a-3
[Cs; 2A’; 0,07]
[Cs; 4A’; 0,39]
12a-1
[D3d;4A1g; 0,00]
[Cs ; 2A’; 0,31]
12a-2
[C1; 2A; 0,41]
[C1; 2A; 0,81]
12a-3
[Cs; 4A’; 0,67]
[Cs; 2A’; 0,80]
Hình 1: Một số cấu trúc bền của cluster SinFe- (n = 8-12) Giá trị trong [] là năng lượng tương đối (eV) của đồng phân so với đồng phân bền nhất
Trạng thái doublet cùng cấu trúc (8a-1-doublet)
có năng lượng cao hơn 0,51 eV so với trạng thái
quartet và đối xứng giảm xuống tới C1 Đối với cả 3 cấu trúc có năng lượng thấp nhất, trạng thái quartet bền hơn trạng thái doublet Điều này tương tự với cluster trung hòa và cation, vì cũng đều có motif lưỡng chóp ngũ giác với nguyên tử Fe nằm ở đỉnh lưỡng chóp và ưu tiên trạng thái spin cao (triplet và
Trang 3quartet)
Đồng phân bền nhất của cluster anion Si9Fe
-(9a-1-doublet) có cấu trúc giống đồng phân bền
nhất của cluster trung hòa Si9Fe Đó là một cấu trúc
lồng chưa hoàn toàn kín, được hình thành trên cơ sở
một lưỡng tháp ngũ giác với nguyên tử Fe ở một
đỉnh tháp Cũng giống như đồng phân bền nhất của
Si8Fe-, Fe cũng có số phối trí cao nhất trong đồng
phân này Hai dạng đồng phân còn lại (9a-2 và 9a-3)
đều có cấu trúc hở và trạng thái quartet bền hơn
doublet, có năng lượng tương đối so với đồng phân
bền nhất (9a-1-doublet) tương ứng là 0,36 và 0,39
eV
Đồng phân bền nhất của cluster Si10Fe-
(10a-1-doublet) là cấu trúc lồng hoàn toàn kín, giống cấu
trúc đồng phân bền nhất của cluster trung hòa Si10Fe,
và có trạng thái doublet bền hơn trạng thái quartet
Đồng phân bền thứ hai (10a-2-quartet) có cấu trúc
lồng kiểu trụ ngũ giác, có năng lượng chỉ cao hơn
đồng phân bền nhất 0,11 eV Còn đồng phân thứ 3
(10a-3) là một cấu trúc hở và kém bền hơn rất nhiều
so với các đồng phân kiểu lồng Như vậy, tại n = 10,
đã xảy ra sự chuyển cấu trúc bền từ dạng hở sang
dạng lồng, ở đây nguyên tử Fe nằm gọn trong lồng
được tạo bởi các nguyên tử Si của cluster chủ
Ba đồng phân bền nhất của cluster Si11Fe-
(11a-1, 11a-2 và 11a-3) đều có cấu trúc lồng và năng
lượng xấp xỉ nhau (năng lượng tương đối < 0,1 eV)
nên chúng có thể cùng tồn tại; cả ba cấu trúc đều có
trạng thái doublet đều bền hơn trạng thái quartet
Đồng phân bền nhất (11a-1-doublet) là một hình trụ
ngũ giác cộng thêm một nguyên tử Si vào một cạnh
của một ngũ giác, đồng phân này có thể được tạo
thành từ đồng phân trụ ngũ giác 10a-2 của Si10Fe-
Đồng phân bền thứ hai (11a-2-doublet), chỉ kém
bền hơn 11a-1-doublet 0,06 eV, có cấu trúc tương
tự đồng phân bền nhất của cluster trung hòa Si11Fe
Điều đó có nghĩa là có sự tương tự trong cấu trúc
của cluster trung hòa và anion Như vậy, tại n = 11,
cấu trúc lồng hoàn toàn chiếm ưu thế và tồn tại một
số dạng cấu trúc lồng có độ bền tương đương nhau,
các cấu trúc hở đều có năng lượng rất cao
Các đồng phân bền nhất của cluster anion Si12Fe
-cũng đều có cấu trúc lồng Nhưng khác với sự tồn tại
đồng thời một số cấu trúc lồng bền xấp xỉ nhau của
Si11Fe-, ở kích thước này, cấu trúc trụ lục giác
(12a-1) chiếm ưu thế với năng lượng thấp hơn hẳn các
cấu trúc khác Cấu trúc này được tìm thấy đối với
nhiều cluster pha tạp kim loại Si12M trung hòa cũng
như mang điện.[5,9,13]
Đối với anion Si12Fe-, cấu trúc trụ ngũ giác bền ở trạng thái spin quartet 4A1g ở đối
xứng cao D3d Trạng thái spin doublet kém bền hơn
trạng thái 4A1g 0,31 eV và có đối xứng Cs thấp hơn
Tóm lại, trong dãy cluster anion SinFe- (n =
8-12), với n = 8 thì cluster có cấu trúc hở, n = 9 cluster
bắt đầu tạo thành cấu trúc lồng, và n 10 cấu trúc lồng hoàn chỉnh được hình thành Đáng chú ý, nguyên tử Fe có xu hướng ở vị trí có số phối trí cao trong các đồng phân bền nhất
3.2 So sánh cấu trúc hình học của cluster Si n Fe ở dạng cation, trung hòa và anion
Cấu trúc các đồng phân bền dạng cation, trung hòa
và anion được biểu diễn trên hình 2 Trong đó cấu trúc bền nhất của cluster cation và trung hòa được lấy từ tài liệu.[9]
8c (C1; 4A) 8n (C2v; 3B1) 8a(C2v; 4A2)
9c (C1; 4A) 9n (Cs; 1A’) 9a(Cs; 2A’)
10c (Cs; 4A”) 10n (C3v;1A1) 10a(C1; 2A)
11c (C1; 2A) 11n (Cs; 1A’) 11a(Cs; 2A’)
12c (C1; 2A) 12n (D3d;1A1g) 12a(D3d;4A1g)
Hình 2: Đồng phân bền nhất của cluster SinFe+/0/- (n = 8-12) Đồng phân bền nhất của cluster cation và
trung hòa được trích từ tài liệu[9]
Hình 2 cho thấy cấu trúc hình học của cluster trung hòa SinFe và cluster anion SinFe- giống nhau, trừ trường hợp n = 11 Tuy nhiên phân tích ở mục 3.1 cho thấy, Si11Fe- có 3 đồng phân với năng lượng
Trang 4thấp nhất và xấp xỉ nhau, trong đó có 1 đồng phân có
cấu trúc hình học giống cluster trung hòa Si11Fe
Như vậy có thể kết luận, trong dãy cluster nghiên
cứu, cluster anion có cấu trúc hình học giống cluster
trung hòa
Đặc biệt, cluster cation với n = 8-10 có cấu trúc
hở và có số phối trí thấp hơn cluster trung hòa và
anion Khi tăng số nguyên tử Si tới n = 11, 12 thì cả
3 dạng đều có cấu trúc lồng và tương tự nhau Do
vậy, có thể nói, đối với cấu trúc hở thì sự thay đổi số
electron ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc hình học
của cluster, còn đối với cấu trúc lồng thì sự thay đổi
số electron không làm thay đổi cấu trúc hình học của
cluster SinFe Điều này có thể giải thích do khi
nguyên tử Fe ở trên bề mặt (trong cấu trúc hở), sự
thay đổi số electron sẽ tập trung chủ yếu ở nguyên tử
Fe dẫn tới sự thay đổi lớn trong việc tạo liên kết của
nguyên tử Fe với các nguyên tử Si nên thay đổi cấu
trúc; còn khi nguyên tử Fe bị bao bọc bởi lồng Sin,
sự thay đổi số electron sẽ phân bố đều trên lồng Sin
nên sự thay đổi đối với mỗi nguyên tử là không đáng
kể, vì thế không gây ra sự thay đổi cấu trúc
3.3 So sánh độ bền của cluster Si n Fe ở dạng
cation, trung hòa và anion
Hình 3: Sự phụ thuộc năng lượng liên kết trung bình
của SinFe0/ +/– vào kích thước cluster
Năng lượng liên kết trung bình là đại lượng được
dùng để đánh giá độ bền trung bình của cluster, bao
gồm độ bền của cấu trúc hình học và độ bền của cấu
trúc electron Năng lượng liên kết trung bình (Eb)
của cluster SinFe- (n = 8-12) được tính theo công
thức:
Eb = [nE(Si) + E(Fe-) – E(SinFe-)]/(n+1)
Trong đó E(X) là năng lượng tổng ở trạng thái cơ
bản của nguyên tử Si, ion Fe- và cluster SinFe- Sự
phụ thuộc năng lượng liên kết trung bình và năng lượng vùng cấm HOMO-LUMO vào kích thước của cluster SinFe- (n = 8-12) được minh họa trong hình 3
và 4 và có so sánh với cluster SinFe và SinFe+ (n = 8-12).[9]
Hình 3 cho thấy, trong khoảng kích thước khảo sát (n = 8-12), độ bền của cluster silic pha tạp một nguyên tử Fe tăng theo thứ tự trung hòa < cation < anion Như vậy việc thêm hay bớt 1 electron đều làm tăng độ bền của cluster SinFe Kết luận này tương tự với cluster SinFe kích thước nhỏ (n = 1-8) được công
bố trong nghiên cứu của Liu và cộng sự.[6]
Hình 4: Sự phụ thuộc năng lượng vùng cấm
HOMO-LUMO của SinFe0/+/-vào kích thước cluster Năng lượng vùng cấm HOMO-LUMO là sự chênh lệch mức năng lượng của obitan bị chiếm cao nhất và obitan không bị chiếm thấp nhất, do vậy đại lượng này cho phép đánh giá độ bền của cấu trúc electron của cluster Hình 4 cho thấy, mặc dù cluster anion có độ bền tổng cao nhất nhưng độ bền của cấu trúc electron kém nhất Điều đó chứng tỏ độ bền của cấu trúc hình học của cluster anion khá lớn so với cluster trung hòa và cation
Trong dãy cluster anion, cluster Si8Fe- và Si9Fe
-có năng lượng vùng cấm ở mức trung bình, cluster
Si10Fe- và Si12Fe- có năng lượng vùng cấm cao hơn, còn Si11Fe- có năng lượng vùng cấm thấp nhất
Để đánh giá độ bền tương đối của các cluster trong cùng dãy, chúng tôi tính biến thiên năng lượng bậc hai 2
E của các cluster trong dãy anion theo công thức:
2
E = E(Sin+1Fe-) + E(Sin-1Fe-) - 2E(SinFe-) Kết quả của sự phụ thuộc biến thiên năng lượng bậc hai vào kích thước cluster được biểu diễn ở hình
5 Hình 5 chỉ ra rằng biến thiên năng lượng bậc hai đạt cực đại tại n = 8, 10, 12, đạt cực tiểu tại n = 9,
Trang 511 Kết hợp với phân tích năng lượng vùng cấm, có
thể thấy cluster Si10Fe- và Si12Fe- bền hơn các cluster
khác trong dãy, còn cluster Si11Fe- kém bền hơn
Hơn nữa, sự biến thiên theo kiểu chẵn lẻ của
biến thiên năng lượng bậc hai của dãy anion cũng
tương tự dãy cluster SinFe trung hòa và cation.[9]
Tuy nhiên có sự khác biệt rõ rệt giữa các cluster trong
dãy anion và trung hòa, còn dãy cation sự khác biệt
đó không rõ rệt lắm.[9] Điều này được giải thích bởi
sự tương tự về cấu trúc của cluster anion và trung
hòa, và khác hẳn với cấu trúc của cluster cation
Hình 5: Sự phụ thuộc biến thiên năng lượng bậc
hai của SinFe- vào kích thước cluster
3.4 Năng lượng ion hóa và ái lực electron của
Si n Fe
Độ bền của các cluster tiếp tục được khảo sát thông
quá 2 thông số: năng lượng ion hóa (AIE) và ái lực
electron (EA) của các đồng phân bền nhất của
cluster SinFe (n = 8-12)
Giá trị AIE và EA được tính theo công thức:
AIE = Ecation- Eneutral
EA = Eneutral - Eanion
Trong đó Ecation, Eanion, Eneutral là năng lượng tổng của
các đồng phân bền nhất của cluster cation, anion và
trung hòa đã được hiệu chỉnh ZPE Kết quả được
tổng hợp trong bảng 1
Kết quả trong bảng 1 cho thấy, cluster SinFe có
năng lượng ion hóa tương đối lớn và ái lực electron
của cluster SinFe là rất lớn (dao động trong khoảng
3,49-3,93 eV, giá trị lớn nhất là ái lực electron của
Si8Fe) Do vậy, chúng dễ dàng nhận electron để tạo
anion nhưng khó mất electron để tạo cation Ái lực
electron của dãy cluster đều mạnh hơn nguyên tử
fluor (F) (EA = 3,40 eV,[14] và còn mạnh hơn cluster
Al13 (EA = 3,62 eV),[15] một cluster được coi là siêu
halogen (superhalogen) Do vậy, các cluster SinFe trung hòa có tiềm năng tốt để làm anion trong các dung dịch ion (ionic liquid)
ng 1: Năng lượng ion hóa (AIE, eV) và ái lực
electron (EA, eV) của đồng phân bền nhất của
cluster SinFe (n = 8-12)
AIE 7,39 7,37 7,75 7,37 6,50
4 KẾT LUẬN Cấu trúc, độ bền của các cluster anion SinFe- (n = 8-12) đã được nghiên cứu tại mức lý thuyết B3P86/6-311+G(d) và so sánh với cluster trung hòa, cation đã công bố, từ đó thu được một số kết quả nổi bật như sau:
- Đồng phân bền của cluster anion SinFe- (n = 8-12) có cấu trúc giống cluster trung hòa với nguyên
tử pha tạp Fe ưu tiên vị trí có số phối trí cao, và khác với cluster cation khi n = 8-10 (do những cluster cation này ưu tiên cấu trúc hở) Từ n = 9, cluster anion đã hình thành cấu trúc lồng
- Cluster anion bền hơn cluster trung hòa và cluster cation, đặc biệt cluster Si10Fe- và Si12Fe- có
độ bền cao hơn các cluster khác trong dãy và Si11Fe
-có độ bền kém các cluster khác trong dãy
- Cluster trung hòa SinFe có năng lượng ion hóa tương đối lớn, ái lực electron rất cao và tạo thành anion bền nên rất có khả năng ứng dụng làm anion trong các dung dịch ion
L i c m n Nhóm tác gi c m ơn sự hỗ trợ không
ngừng của Trường Đại học Quy Nhơn, Dự án TEAM giữa Trường Đại học Quy Nhơn và KU Leuven
(Vương quốc Bỉ) do Quỹ VLIR tài trợ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 C Xu, T R Taylor, G R.Burton, D M Neumark Vibrationally Resolved PhotoelectronSpectroscopy of Silicon Cluster Anions Sin- (n = 3-7), J Chem Phys.,
1998, 108(4), 2134
2 J T Lyon, P Gruene, A Fielicke, G Meijer, E.Janssens, P Claes, P Lievens Structures of Silicon
Cluster Cations in the Gas Phase, J Am Chem Soc.,
2009, 131(3), 1115
3 N X Truong, B K A Jaeger, S Gewinner, W Schöllkopf, A Fielicke, O Dopfer Infrared Spectroscopy and Structures of Boron-Doped Silicon Clusters (SinBm, n = 3-8, m = 1-2), J Phys Chem C,
2017, 121, 9560
4 N M Tam, M T Nguyen Theoretical Study of the
Trang 6SinMgm Clusters and Their Cations: Toward Silicon
Nanowires with Magnesium Linkers, J Phys Chem
C, 2016, 120(28), 15514-15526
5 N D Phi, N T Trung, E Janssens, V T Ngan
Electron counting rules for transition metal-doped
Si12 clusters, Chem Phys Lett., 2016, 643, 103-108
6 Y Liu, G L Li, A M Gao, H Y Chen, The
Structures and Properties of FeSin/FeSin+/FeSin- (n =
1-8) Clusters, Eur Phys J D., 2011, 64, 27
7 L Ma and et al Growth Behavior and Magnetic
Properties of SinFe Clusters, Phys Rev B., 2006, 73,
125439 ()
8 V Chauhan, M B Abreu, A C Reber, S N Khanna,
Geometry controls the stability of FeSi14, Phys
Chem Chem Phys., 2015, 17(24), 15718-15724
9 N D Phi, N T Trung, N N Tri, P N Thach, N T
Lan, V T Ngan A comparative study on structures
and stabilities of iron-doped silicon cluster in neutral
and cationic forms, SinFe0/+ (n = 8-12), using density
functional method, Vietnam Journal of Chemistry,
2015, 53(6), 731-736
10 V T Ngan, P Gruene, P Claes, E Janssens, A
Fielicke, M T Nguyen, P Lievens, Disparate Effects
of Cu and V on Structures of Exohedral Transition Metal-Doped Silicon Clusters: A Combined
Far-Infrared Spectroscopic and Computational Study, J
Am Chem Soc 2010, 132, 15589-15602
11 V T Ngan, E Janssens, P Claes, J T Lyon, A Fielicke, M T Nguyen, P Lievens, High Magnetic Moments in Manganese-Doped Silicon Clusters,
Chem Eur J 2012, 18, 15788-15793
12 M J Frisch et al Gaussian 03 (Revision E.01), Gaussian, Inc., Wall, 2008
13 P Sen, L Mitas, Electronic Structure and Ground States of Transition Metals Encapsulated in a Si12
Hexagonal Prism Cage, Phys Rev B., 2003, 68,
155404
14 C Blondel, C Delsart, F Goldfarb Electron spectrometry at the eV level and the electron
affinities of Si and F, J Phys B: Atom Mol Opt
Phys., 2001, 34, 9
15 X Li, H Wu, X.-B Wang, L.-S Wang s-p Hybridization and Electron Shell Structures in Aluminum Clusters: A Photoelectron Spectroscopy
Study, Phys Rev Lett., 1998, 81(9), 1909-1912
Liên hệ: Vũ Thị Ngân
Phòng Thí nghiệm Hóa học tính toán và mô phỏng (LCCM),
Khoa Hóa học, Trường Đại học Quy Nhơn
Số 170, An Dương Vương, Quy Nhơn, Bình Định, Việt Nam
E-mail: vuthingan@qnu.edu.vn