1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI TOÁN

17 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính
Tác giả Trần Anh Vân
Trường học Trường Tiểu học Ngọc Trạo
Chuyên ngành Toán
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Bỉm Sơn
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN

TRƯỜNG TIỂU HỌC NGỌC TRẠO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH

Người thực hiện: Trần Anh Vân

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Tiểu học Ngọc Trạo SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

BỈM SƠN NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 MỞ ĐẦU 1

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Toán học là khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức rất cần thiết cho việc học môn khác Môn toán có khả năng giáo dục nhiều mặt: phát triển tư duy logic, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học Góp phần phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo, giáo dục

ý chí và những đức tính tốt như cần cù, nhẫn nại, ý thức tự giác Môn toán ở tiểu học là một môn học chiếm một vị trí quan trọng Từ thực tế cuộc sống, đòi hỏi đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho HS tiểu học để các em có được kĩ năng

và phẩm chất cơ bản hòa nhập kịp vào thực tế cuộc sống

Toán ở cấp tiểu học là cơ sở, là nền tảng để các em tiếp cận được môn toán ở các bậc học cao hơn, đồng thời nó sẽ theo các em suốt quãng đời học tập

và công tác về sau Đối với chương trình toán lớp 3 nó như mở ra một bước ngoặt mới là tiền đề, cơ sở vững chắc để học sinh học các lớp trên Với lứa tuổi

ở lớp 3, giải toán bằng hai phép tính rất khó khăn vì các em mới được tiếp cận, càng khó khăn hơn đối với học sinh học chậm Đây là một vấn đề rất nan giải, đòi hỏi mỗi giáo viên phải luôn trăn trở và quan tâm

Tâm lí của học sinh tiểu học lại ngại khó và dễ thành thói quen nên sự thụ động, thiếu tự tin trong học tập là vấn đề có thể xảy ra, làm ảnh hưởng đến con đường tương lai của các em

Việc thực hiện dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, hướng tới nội dung yêu cầu cần đạt là các yêu cầu cơ bản tối thiểu mà tất cả học sinh cần phải đạt được sau khi học, đòi hỏi mỗi giáo viên cần có cách tổ chức và dạy học phù hợp đối tượng học sinh

Trăn trở với suy nghĩ trên tôi đã cố gắng theo dõi, tìm hiểu nguyên nhân và những khó khăn của học sinh để tìm ra cách tổ chức và dạy học phù hợp đối tượng học sinh, nhằm tạo cho các em niềm tin vững chắc trong học toán cũng như trong cuộc sống và đã đem lại kết quả thật khả quan trong năm học 2019 - 2020 Năm học 2020-2021 tôi tiếp tục nghiên cứu đề tài này nhằm áp dụng cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Ngọc Trạo

Qua thực tế nhiều năm giảng dạy ở lớp 3, bản thân tôi đã rút ra những vấn

đề sau:

- Học sinh lớp 3 mới tiếp cận chương trình về giải bài toán bằng hai phép tính, kĩ năng đọc hiểu của các em chưa cao nên việc xác định đề gặp nhiều khó khăn

- Các em không biết cách làm lời giải, không biết thực hiện phép tính theo yêu cầu, không biết giải bài toán

- Kĩ năng vận dụng kiến thức vừa học để giải bài tập còn hạn chế

- Khả năng tư duy, suy nghĩ của các em còn yếu

- Các em chưa xác định được dạng toán

Qua nhiều năm tôi miệt mài nghiên cứu, và áp dụng thành công tại trường Tiểu học Ngọc Trạo Nhằm giúp học sinh lớp 3 có kĩ năng vận dụng kiến thức

Trang 4

đã học để biết phân tích, xác định được yêu cầu đề bài và giải được các bài toán bằng hai phép tính một cách chính xác về lời giải cũng như phép tính theo yêu cầu đề ra để giúp học sinh lớp 3 có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học để biết phân tích, xác định được yêu cầu đề bài và giải được các bài toán bằng hai phép tính một cách chính xác về lời giải cũng như phép tính theo yêu cầu đề ra, nhằm làm nền tảng để các em giải toán nhiều phép tính ở lớp 4, 5, Từ đó tôi luôn tìm tòi, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp và đã áp dụng một số biện pháp vào giảng dạy giải bài toán bằng hai phép tính ở lớp 3 để giúp các em thực

hành được và tốt hơn Đó chính là lí do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp

học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính” tiếp tục trong năm học này.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng dạy học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính

nói riêng của giáo viên và học sinh lớp 3 trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy giải bài toán bằng hai phép tính cho học sinh lớp theo chương trình tiểu học nói chung

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu về phương pháp giải bài toán bằng hai phép tính cho học sinh lớp 3 Tổng kết những kinh nghiệm đạt được tại lớp 3B trường Tiểu học Ngọc Trạo – Bỉm Sơn – Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thường xuyên sưu tầm tra cứu sách báo tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài, qua đó phân tích tổng hợp hệ thống hóa theo mục đích nghiên cứu

- Phương pháp thực nghiệm: Áp dụng trong quá trình dạy học trên lớp

- Phương pháp điều tra phỏng vấn: Tiến hành một số câu hỏi dạng trắc nghiệm và tự luận cho các nhóm học sinh và điều tra qua phiếu liên qua đến việc phân tích đánh giá việc học của học sinh, hay thông qua phỏng vấn trực tiếp qua

đó nắm bắt được thực trạng

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Qua các hoạt động, giáo viên ghi chép từ đó đúc rút kinh nghiệm được và chưa được tổng hợp đi đến kết luận

- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm phân tích thực trạng vấn đề nghiên cứu

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận

Trong hoạt động dạy và học muốn có hiệu quả cao thì trước hết người giáo viên phải nắm vững được cấu trúc chương trình, sự liên đới trong toán học, nắm vững phương pháp đặc trưng của từng phân môn, phải có sự chuẩn bị đầy

đủ các phương tiện dạy học, phải biết chắc lọc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp Đặc biệt mỗi giáo viên trong quá trình dạy học phải biết chú ý đến việc tiếp thu kiến thức của học sinh và sự hình thành kĩ năng thực hành thì quá trình

Trang 5

dạy học mới đem lại hiệu quả.

2.2 Thực trạng của vấn đề

2.2.1 Thực trạng chung

2.2.1.1 Thuận lợi

- Trường Tiểu học Ngọc Trạo có thư viện được công nhận thư viện tiên tiến theo quyết định 01 nên tư liệu dạy học cũng như các loại sách tham khảo đầy đủ phục vụ cho giáo viên cũng như học sinh

- Học sinh được tiếp cận với phương pháp dạy học mới: dạy học theo

hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh

- Học sinh đã có nền tảng học các dạng toán đã học từ lớp dưới

- Nội dung chương trình có sự sắp xếp thuận lợi, phần ôn tập củng cố kiến thức xen lẫn và thường xuyên

- Đánh giá theo chuẩn kiến thức kĩ năng hiện nay đã tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin, bày tỏ ý kiến về bất kì vấn đề nào với thầy cô cũng như với bạn bè Từ đó tạo cơ hội cho nhiều em tự tin, mạnh dạn, tự học, tự tìm tòi và trao đổi để vươn lên

- Hằng năm, giáo viên được tập huấn nên luôn có sự hướng dẫn, chỉ đạo

từ các cấp trên để có sự thay đổi thường xuyên, điều chỉnh về cách đánh giá cũng như tài liệu hướng dẫn học ngày càng hợp lí, tròn trĩnh hơn để dần hoàn thiện về cách dạy- cách học - cách đánh giá

2.2.1.2 Khó khăn

- Các bài toán về giải bằng hai phép tính, học sinh lớp 3 mới được tiếp cận vào giữa học kì I nhưng có rất nhiều dạng, lại xen kẽ với giải toán 1 phép tính nên đa số học sinh làm không được vì chưa xác định được đề, còn quen với bài toán giải bằng 1 phép tính

- Học sinh không đọc kĩ đề, không phân tích kĩ đề, không xác định được

dữ liệu nào đã cho, dữ liệu nào cần tìm và không biết nên bắt đầu tìm cái gì để giải được bài toán

- Nhiều học sinh có tính không cẩn thận, thậm chí chưa có thói quen nháp bài trước khi làm mà chỉ nhẩm rồi ghi kết quả vào, không chu đáo kiểm tra lại bài toán khi tính toán và khi làm xong bài

- Học sinh học chậm môn Tiếng Việt thì thường đọc đề không trôi chảy, khó hiểu đề, viết lời giải lủng củng không sát với yêu cầu của đề

- Đáp số cũng quan trọng nhưng nhiều HS ít chú ý, chỉ ghi đáp số cuối cùng mà không quan tâm đến yêu cầu của đề hoặc không có tên đơn vị

- Các em chưa có phương pháp tự học, tự suy nghĩ độc lập và chưa biết trao đổi, thực sự giúp đỡ lẫn nhau trong học tập

- Khả năng tiếp thu học sinh không đồng đều, nhiều học sinh khả năng tiếp thu còn hạn chế

- Học sinh chưa thực sự chăm chỉ trong học tập, chưa có động cơ trong học tập

- Việc HS thực hành giải toán bằng hai phép tính còn có nhiều hạn chế về: nhận dạng toán, lập kế hoạch giải bài toán, các bước giải bài toán, hạn chế về lời

Trang 6

văn khi trình bày giải toán Do đó kết quả bài làm của HS chưa cao Đa số học sinh chưa có thói quen trong việc kiểm tra kết quả bài làm của mình

- Một số phụ huynh thiếu sự quan tâm đến việc học con em, phó thác hết tất cả cho giáo viên

2.2.2 Thực trạng riêng của lớp phụ trách

- Từ quá trình dạy học, qua theo dõi trong thời gian (Từ tuần 10 đến hết tuần 14), học sinh tiếp cận và làm quen với giải toán bằng hai phép tính của lớp 3B (sĩ số: 36 em) tôi phụ trách chỉ có:

+ 11 em = 30,5% số HS của lớp giải được các bài toán bằng hai phép tính

ở mức độ cần đạt

+ 14 em = 39% số HS của lớp chưa xác định được dạng toán, lời giải chưa chính xác, tính toán sai, nhầm lẫn hoặc chỉ tính có 1 phép tính

+ 11 em = 30,5% số HS của lớp HS chưa giải được bài toán bằng hai phép tính

Các em rất ngại suy nghĩ khi làm bài, đặc biệt là các em học sinh học chậm, học trung bình việc tính toán còn chậm thì giải toán bằng hai phép tính lại càng khó khăn hơn rất nhiều

Kết quả khảo sát như sau:

Thời gian

Số HS giải được toán bằng hai phép tính

Số HS thực hiện phép tính sai khi giải

Số HS chưa

có lời giải đúng theo yêu cầu của đề

Số HS chưa giải được toán bằng hai phép tính

Cuối tháng

Vào cuối tháng 11, khối 3 tổ chức khảo sát chất lượng, dựa vào kết quả làm bài của học sinh tôi phân ra các loại đối tượng:

+ Chưa giải được bài toán bằng hai phép tính

+ Giải bài toán bằng hai phép tính nhưng sai về lời giải

+ Giải bài toán bằng hai phép tính nhưng sai về phép tính

+ Giải được bài toán bằng hai phép tính

Từ đó, giáo viên bố trí chỗ ngồi đều trong các nhóm cho phù hợp để học sinh hoạt động thảo luận, trao đổi, học hỏi, giúp nhau giải toán Tăng cường đôi bạn cùng tiến và việc kiểm tra bài lẫn nhau

2.3 Các giải pháp thực hiện

2.3.1 Giúp học sinh nắm được trình tự của việc giải một bài toán bằng hai phép tính

Bước 1 : Đọc kĩ đề, tìm hiểu đề và xác định dạng toán.

Đây là bước quan trọng, giáo viên cần phải cho học sinh đọc thầm 2, 3 lần

và giáo viên đến từng nhóm hướng dẫn học sinh học chậm phân tích đề, nêu được đề bài yêu cầu gì? Tìm ra đâu là dữ kiện đã biết, đâu là dữ kiện chưa biết

và bài toán thuộc dạng nào?

Trang 7

Ví dụ 1: Bài 3a trang 59 SGK

Trong Hội khỏe Phù Đổng, đội tuyển của một tỉnh đã giành được 8 huy chương vàng, số huy chương bạc nhiều gấp 3 lần số huy chương vàng Hỏi đội tuyển đó đã giành được tất cả bao nhiêu huy chương vàng và bạc?

- HS phải hiểu được:

+ Bài toán cho biết: Huy chương vàng là 8 cái, huy chương bạc nhiều gấp

3 lần số huy chương vàng (Dạng toán gấp một số lên nhiều lần để tìm số huy chương bạc)

+ Bài toán yêu cầu tìm: Số huy chương vàng và bạc (dạng toán tìm tất cả)

Ví dụ 2: Bài 4b trang 43 SGK

Nhà Hoa có 1kg đường, mẹ đã dùng 3 lần, mỗi lần hết 150g Hỏi nhà Hoa còn lại bao nhiêu gam đường?

- HS phải hiểu:

+ Bài toán cho biết: Số đường nhà Hoa có là 1kg Vậy 1kg đường tương ứng với bao nhiêu gam đường? mẹ đã dùng 3 lần, mỗi lần hết 150g Vậy phải tìm số đường mẹ đã dùng 3 lần, thuộc dạng toán gấp một số lên nhiều lần

+ Bài toán yêu cầu tìm: số đường nhà Hoa còn lại thuộc dạng toán tìm số còn lại

Bước 2 : Tóm tắt bài toán

- Tập cho học sinh bước đầu có thói quen tóm tắt đề, xác định mối quan

hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm bằng nhiều hình thức

- Có nhiều cách tóm tắt đề: bằng hình vẽ, bằng ngôn ngữ ngắn gọn, bằng

sơ đồ …

- Thông thường các dạng toán nhiều hơn, ít hơn, gấp l số lên nhiều lần, giảm 1 số đi nhiều lần thì tóm tắt bài toán theo sơ đồ đoạn thẳng rất dễ giải và

dễ kiểm tra kết quả

Trang 8

Ví dụ 1:

Ta có sơ đồ

Huy chương vàng :

Huy chương bạc :

Ví dụ 2:

Tóm tắt :

Có : 1kg = 1000g

Dùng: 3 lần, 1 lần: 150g

Còn : …kg?

Bước 3 : Phân tích bài toán để tìm ra cách giải.

- Từ tóm tắt của bài toán, một lần nữa học sinh nắm chắc mối quan hệ giữa dữ liệu đã cho và dữ liệu cần tìm Từ đó học sinh có thể suy luận tìm cách giải

8

? huy chương

Trang 9

* Giáo viên đến các nhóm hướng dẫn các đối tượng cần lưu ý để giúp đỡ học sinh biết:

+ Xuất phát từ yêu cầu của đề (tức là dữ liệu cần tìm) rồi suy luận ngược lên cho đến những điều đã biết

Với ví dụ trên ta hướng dẫn học sinh suy luận như sau:

Ví dụ 1:

Nhìn vào sơ đồ ta có thể suy luận được ngay :

- Muốn tìm số huy chương vàng và bạc ta lấy số huy chương vàng cộng với số huy chương bạc

- Số huy chương bạc chưa biết nên tìm số huy chương bạc

- Số huy chương vàng gồm 1 phần tương ứng với 8 huy chương Như vậy

số huy chương bạc gồm 3 phần thì tương ứng với 8 x 3 = 24 (huy chương)

Ví dụ 2:

- Muốn tìm số đường nhà Hoa còn lại ta lấy số đường nhà Hoa có trừ cho

số đường nhà Hoa đã dùng

- Số đường đã dùng chưa biết nên phải đi tìm

- Dùng 1lần hết 150g như vậy dùng 3 lần (dạng toán gấp một số lên nhiều lần) nên ta lấy:

150 x 3 = 450 (g)

+ Xuất phát từ yêu cầu của đề dữ kiện nào đã biết rồi thì thôi, còn dữ kiện nào chưa biết ta phải đi tìm

Ví dụ 1:

Nhìn vào sơ đồ ta có thể thấy ngay :

- Số huy chương bạc chưa biết mà số huy chương bạc gấp 3 lần số huy chương vàng (dạng toán gấp 1số lần lên nhiều lần) lấy 8 x 3 = 24 (huy chương)

- Số huy chương vàng và bạc chưa biết (dạng toán tìm tất cả) lấy :

8 + 24 = 32 (huy chương)

Ví dụ 2:

Nhìn vào tóm tắt ta có thể thấy ngay:

- Số đường đã dùng chưa biết (dạng toán gấp 1số lần lên nhiều lần) lấy

150 x 3 = 450(g)

- Số đường còn lại chưa biết (dạng toán tìm số còn lại) lấy số đường có trừ đi số đường đã dùng, tức là lấy 1000 – 450 = 550 (g)

* Nếu gặp bài toán có mối quan hệ và số liệu tương đối phức tạp thì giáo viên phải nghĩ ra một hướng giải quyết dơn giản để hướng dẫn cho học sinh dễ hiểu Giáo viên sẽ đến từng em học chậm, có đưa thẻ “cứu trợ”để hướng dẫn cho học sinh Sau khi đã hiểu, các em sẽ vận dụng vào giải bài toán mà các em đang phải thực hiện

Ví dụ 2: Bài 4b trang 43 SGK

Nhà Hoa có 1kg đường, mẹ đã dùng 3 lần, mỗi lần hết 150g Hỏi nhà Hoa còn lại bao nhiêu gam đường?

Từ ví dụ 2:

- Ta đưa bài toán về tình huống đơn giản là: có 1 chục quả trứng gà, mẹ đã

Trang 10

luộc 3 lần, mỗi lần 2 quả Hỏi còn lại bao nhiêu quả trứng gà?

- HS dễ dàng nhận ra ăn 1 lần 2 cái như vậy ăn 3 lần sẽ hết 6 cái (lấy 2 x 3 = 6)

Sau đó tìm số trứng còn lại (lấy 1 chục = 10 quả - 6 cái = 4 quả)

Từ đó HS suy ra cách giải tương tự cho Ví dụ 2

Bước 4 : Trình bày bài giải

Từ quá trình suy luận trên, HS tự trình bày bài giải

Ví dụ 1 : Bài giải:

Số huy chương vàng là:

8 x 3 = 24 (huy chương)

Có tất cả số huy chương vàng và bạc là :

8 + 24 = 32 (huy chương)

Đáp số: 32 huy chương

Ví dụ 2 : Bài giải:

Đổi : 1kg = 1000g

Mẹ đã dùng số gam đường là:

150 x 3 = 450 (g)

Nhà Hoa còn lại số gam đường là:

1000 – 450 = 550 (g)

Đáp số: 550 g đường

Ngày đăng: 04/12/2022, 09:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Có nhiều cách tóm tắt đề: bằng hình vẽ, bằng ngơn ngữ ngắn gọn, bằng sơ đồ … - SKKN BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI TOÁN
nhi ều cách tóm tắt đề: bằng hình vẽ, bằng ngơn ngữ ngắn gọn, bằng sơ đồ … (Trang 7)
- Hình thành cho HS những thói quen cần thiết trong q trình học tập mơn Tốn góp phần giúp các em giải tốt các bài tốn có lời văn nói chung, giải bài toán bằng hai phép tính nói riêng - SKKN BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI TOÁN
Hình th ành cho HS những thói quen cần thiết trong q trình học tập mơn Tốn góp phần giúp các em giải tốt các bài tốn có lời văn nói chung, giải bài toán bằng hai phép tính nói riêng (Trang 11)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w