Thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh...29 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ...34 Chương 2:THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY P
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
XA ĐỨC THỌ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH –
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
XA ĐỨC THỌ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH –
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN NGỌC ĐƯỜNG
HÀ NỘI – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Ngọc Đường
Luận văn cao học này là sản phẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trình bày của tác giả về đề tài luận văn Mọi số liệu, quan điểm, quan niệm của các tài liệu và các nhà nghiên cứu khác được trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Học viên
Xa Đức Thọ
Trang 4Xin chân thành cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Đường đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu hoàn thành tốt luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Thường trực Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia chương trình đào tạo cao học và hỗ trợ thông tin, tài liệu giúp tôi hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện, luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ của quý thầy giáo, cô giáo và người đọc
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Xa Đức Thọ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1 Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 7
1.1 Khái niệm và vai trò của thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương 7
1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 7 1.1.2 Vai trò của thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh 10
1.2 Thực hiện pháp luật về nguyên tắc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của của chính quyền địa phương cấp tỉnh 17 1.3 Thực hiện pháp luật về qui trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh 22
1.3.1 Thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 22 1.3.2 Thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34 Chương 2:THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH TẠI TỈNH HÒA BÌNH 35
2.1 Khái quát về đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, và kết quả thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh tại tỉnh Hòa Bình 35
2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội ở tỉnh Hòa Bình 35 2.1.2 Kết quả thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại tỉnh Hòa Bình 36
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại tỉnh Hòa Bình 42
Trang 62.2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại tỉnh Hòa Bình 43
2.2.2 Những nguyên nhân của khó khăn, hạn chế rút ra từ thực tiễn thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Hòa Bình 49 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 61
Chương 3:PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH – TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÒA BÌNH 63
3.1 Phương hướng thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh 63
3.1.1 Nâng cao nhận thức về việc thực hiện pháp luật trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là đòi hỏi cấp thiết trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập và phát triển 63 3.1.2 Nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh 64
3.1.3 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật tạo điều kiên cho chính quyền địa phương nâng cao chất lượng văn bản trong quá trình thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật 66
3.2 Giải pháp thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh 70
3.2.1 Giải pháp chung 70
3.2.2 Đối với tỉnh Hòa Bình 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là một trong những phương thức quan trọng để đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Trên nhiều phương diện, các cấp chính quyền địa phương có mối quan
hệ gắn bó mật thiết với nhân dân; trực tiếp ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước và là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân Những năm gần đây, hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở địa phương đã đổi mới và có nhiều tiến bộ trong việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, cũng như động viên nhân dân tham gia thực hiện pháp luật, giữ vững kỷ cương xã hội, góp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Qua đó, thúc đẩy công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân với mục tiêu: “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Qua các giai đoạn phát triển của đất nước yêu cầu về quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh góp phần tích cực trong việc hoàn thiện
bộ máy nhà nước, vì thế tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật là một đòi hỏi khách quan Do vậy việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta Để đạt được mục đích này việc thực hiện pháp luật về Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp
Trang 8luật Ngày 24/5/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó đề ra mục tiêu: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi công khai, minh bạch, trọng tâm
là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế
Lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là tốt nhất, có hiệu quả nhất Ở nước ta, quan điểm trên được thể hiện ở
khoản 8, điều 1 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động
theo Hiếnpháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”;Trong những năm qua thực hiện pháp luật
vềbanhành văn bản quy phạm pháp luật, để từng bước nâng cao chất lượng trong tổ chức triển khai thực hiện, Quốc Hội đã ban hành Luật số 80/2013/QH13 ngày 22/6/2015 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Như vậy có thể thấy vai trò của pháp luật là hết sức quan trọng, trong đó chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật là một trong những vấn đề cốt lõi, góp phần quan trọng trong việc thực thi pháp luật.Nhận thức được tầm quan trọng này, chính quyền địa phương cấp tỉnh trong những năm gần đây luôn coi trọng việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở một số tỉnh, thành và trên địa bàn tỉnh Hòa Bìnhvẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần phải khắc phục như hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn; chất lượng văn bản quy phạm pháp luật còn chưa cao Hiệu lực, hiệu quả còn thấp, việc thực hiện pháp luật về ban
Trang 9hành văn bản quy phạm pháp luật chưa đúng trình tự thủ tục vẫn còn diễn ra do vậykhông phát huy tốt nhất hiệu quả trong quản lý, chỉ đạo, điều hành, ảnh hưởng đến việc bảo vệ hữu hiệu quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân,
tổ chức trong quản lý nhà nước Cho nên việc đòi hỏi cần phải nắm chắc và
có sựthống nhất về lý luận của việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy pháp luật như: nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm đánh giá thực trạng, đề cuất giải pháp góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiên pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đó học viên chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh - Từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình” Với mong muốn sẽ đóng góp một phần nghiên cứu toàn diện, thấu đáo có hệ thống cả về lý luận cũng như thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng pháp luật Chính vì lẽ đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến về vấn đề này như: Luận văn thạc sỹ của Trần Thanh Vân – Đại học Quốc gia Hà nội về “văn bản quy phạm pháp luật – lý luận và thực tiễn”; Luận văn của Phạm Thị Anh Đào (2009), “Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp bộ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” Luật văn thạc sĩ Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật;
Trang 10Luận văn thạc sỹ của Hoàng Kim Liên - Đại học Quốc Gia Hà Nội về “Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật – qua thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa”; Luật án thạc sỹ Lê Thị Huyền – Đại học Quốc gia Hà Nội: “Thẩm định
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân”; Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Thanh Tú – Đại học luật Hà Nội: “Tìm hiểu
mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở một số nước trên thế giới;Luận văn Thạc sĩ Hoàng Thị Hồng Liên – Đại học Luật Hà Nội
về “hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Sơn La”; Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Thị Cẩm Giang – Học Viện Hành chính Quốc gia: “Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”.Các công trình trên đã nghiên cứu pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, nghiên cứu vấn đề thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh rất ít
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
về thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Hòa Bình, qua đó làm rõ những kết quả, những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh ở Việt Nam để đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật
về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp
Trang 11tỉnh, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Hòa Bình; luận văn tập trung làm
rõ những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của của chính quyền địa phương cấp tỉnh, đề ra một số giải pháp về thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình.Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Một là, Nghiên cứu một sốvấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp
luậtvề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về ban
hành văn bảnquy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tạitỉnh Hòa Bình và chỉ ra hạn chế, bất cập cũng như những nguyên nhân của hạn chế bất cập đó
Ba là, đề xuất một số giải pháp trong việcthực hiện pháp luật vềban
hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện pháp luật về ban hành văn bản
quyphạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh – Từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu thực hiện pháp luật
về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh– Từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình
+ Phạm vi về không gian, địa bàn nghiên cứu: tại tỉnh Hòa Bình
Trang 12+ Về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2020 (từ khi ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của
Chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những quan điểm của Đảng, các thành tựu của khoa học quản lý cũng như thực trạng việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp quan sát;
+ Phương pháp tổng hợp;
+ Phương pháp so sánh, phân tích;
+ Phương pháp thống kê
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo
- Một số giải pháp của đề tài có giá trị tham khảo cho các cơ quan có thẩm quyền nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại tỉnh Hòa Bình
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình
Trang 131.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định …”
Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là
cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành
Như vậy, khác với văn bản áp dụng pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật có tác động và ảnh hưởng lớn đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do vậy, thực hiện pháp luật về ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật cũng phải tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, bao gồm nhiều công đoạn khác nhau Về nguyên tắc, một văn bản được coi là văn bản quy phạm pháp luật, ngoài các yêu cầu về mặt nội dung thì yêu cầu về việc tuân thủ trình tự, thủ tục ban hành văn bản là điều kiện hết sức quan trọng để xác định đó có được coi là văn bản quy phạm pháp luật hay không Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật tương ứng với từng loại văn bản khác nhau Nếu phân chia theo loại văn bản thì quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm nhiều loại khác nhau như quy trình xây dựng
Trang 14luật, quy trình xây dựng pháp lệnh, quy trình xây dựng nghị quyết của Quốc hội, quy trình xây dựng nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy trình xây dựng nghị định, quy trình xây dựng quyết định của Thủ tướng Chính phủ, quy trình xây dựng Nghị quyết của HĐND, quy trình xây dựng quyết định của UBND cấp tỉnh
Chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đến sự vận động phát triển của xã hội Do có vai trò quan trọng như vậy nên cần làm sáng tỏ về mặt lý luận, khái niệm thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho việc xác định nội dung, hình thức, thủ tục ban hành, xử lý và những vấn
đề khác của hoạt động xây dựng văn bản pháp luật trong thực tiễn Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam do nhiều chủ thể ban hành với những nội dung khác nhau và hiệu lực áp dụng cũng khác nhau
Khoản 1 Điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 giải thích “Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện”
Theo quy định trên thì dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất để nhận biết một văn bản quy phạm pháp luật là văn bản đó có chứa đựng “quy phạm pháp luật” hay không? xác định yếu tố “chứa đựng quy phạm pháp luật” là công việc đầu tiên cần được thực hiện trong toàn bộ quá trình thực hiện pháp luật
về ban hành một văn bản quy phạm pháp luật Nếu văn bản cần ban hành có chứa “quy phạm pháp luật” thì việc soạn thảo, ban hành văn bản đó phải tuân theo trình tự, thủ tục của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật) Ngược lại, nếu không
Trang 15chứa quy phạm pháp luật thì việc soạn thảo và ban hành văn bản đó không phải tuân theo trình tự, thủ tục soạn thảo của văn bản quy phạm pháp luật Cần lưu ý “chứa đựng quy phạm pháp luật” được hiểu là ngay cả khi văn bản đó chỉ chứa duy nhất một quy phạm pháp luật.
Như vậy từ lý luận khái niệm của văn bản quy phạm pháp luật như trên, gắn với quy định về thực hiện pháp pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luậtcần tuân theo các quy định
cụ thể đó là: (1) việc tuân thủ pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (2) việc thi hành pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (3) việc sử dụng các yêu cầu về ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức triển khai thực hiện trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (4) việc áp dụng pháp luật trong thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Cho nên, để thực hiện có hiệu quả việc thực hiện hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thì các chủ thể phải chấp hành tốt các quy định về thực hiện pháp luật để làm sao các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh khi ban hành phải đảm bảo các yếu tố sau:
- Văn bản phải chứa quy phạm pháp luật, quy tắc xử sự chung và điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội;
- Do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dâncấp tỉnh ban hành;
- Được soạn thảo và ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình
tự, thủ tục do luật định;
- Có hiệu lực bắt buộc, được Nhà nước đảm bảo thực hiện
Từ khái niệm về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ta có thể thấy rằng việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là việc Hội đồng nhân dân, và Ủy ban nhân
Trang 16dân tỉnh thực hiện các quy trình về ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo đúng trình tự, thủ tục do luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi của tỉnh.
Ngoài ra thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là việc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cụ thể hóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo trình tự, thủ thục về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1.1.2 Vai trò của thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh
Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bất kỳchính quyền địa phương nào cũng là hoạch định ra các chính sách cho địa phương mình Xét về bản chất, chính sách chính là sáng kiến đẻ ra pháp luật hoặc nếu không thì chí ít nó cũng là nguồn khơi dậy sức sống thực tế của các quy phạm pháp luật được Quốc hội và Chính phủ và các bộ, ngành trung ương ban hành.Qua nghiên cứu cho thấy, vai trò của Chính quyền địa phương trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở các tỉnh, thành phố
có khác nhau Tuy nhiên, dù ở tỉnh nào, địa phương nào thì thực tế cũng cho thấy chính quyền luôn đóng một vai trò quan trọng trong công tác này Chính quyền địa phương không những tự xác định chương trình hoạt động của mình
mà còn có những hoạt động và ảnh hưởng tích cực trong thực hiện pháp luật
về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Chúng ta đều biết tầm quan trọng của mỗi văn bản quy phạm pháp luật Mỗi văn bản quy phạm pháp luật đều chứa đựng các quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung Thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật là việc tuân thủ, chấp hành các quy phạm pháp luật, áp dụng các quy phạn ban hành văn bản quy phạm pháp luật vào thực tiễn
Trang 17Từ sự nhận thức được tầm quan trọng của mỗi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, tầm quan trọng của văn bản quy phạm pháp luật, làm cho
ta hiểu được vai trò vô cùng quan trọng của việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương
1.3.2.1 Vai trò của việc thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh
Thứ nhất là,việc thực hiện pháp luật về quy trìnhsoạn thảo nghị
quyếtcủa Hội đồng nhân dân là khâu đầu tiên, có vai trò rất quan trọng để hình thành định hướng của nghị quyết Soạn thảo văn bản có vị trí quan trọng, được
ví như bốn bánh xe giúp cho xe có thể chuyển động được Một văn bản được soạn thảo kỹ lưỡng và đảm bảo các yêu cầu về nội dung cũng như hình thức
sẽ giúp cho việc triển khai các bước tiếp theo có nhiều thuận lợi, nhất là khi lấy ý kiến của người dân sẽ không gây bức xúc trong nhân dân về dự thảo, đồng thời giúp cho các cơ quan thẩm tra, thẩm định đánh giá sát thực hơn những vấn đề cần thẩm định, thẩm tra và không mất nhiều thời gian công sức cho việc giải quyết những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, hoặc những quy định không đảm bảo tính khả thi khi chưa được xem xét, đánh giá kỹ lưỡng khi đưa vào nội dung của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Thứ hai là, về tuân thủ pháp luật về quy trình lấy ý kiến về dự thảo
nghịquyết, đặc biệt là lấy ý kiến nhân dân góp ý vào dự thảo có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho nghị quyết thể hiện được ý nguyện của nhân dân, nâng cao chất lượng của nghị quyết Việc nhân dân tham gia đóng góp ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật không chỉ là sự thể hiện quyền làm chủ của nhân dân mà còn là nguyên tắc lập pháp, là điều kiện tiên quyết
để nâng cao chất lượng quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật Việc này không chỉ thể hiện tính dân chủ trực tiếp mà còn là cách thức
Trang 18đơn giản và hiệu quả nhất để các chủ thể (sẽ là đối tượng chịu sự tác động của văn bản quy phạm pháp luật) bày tỏ ý kiến của mình trước khi văn bản đó được ban hành và có hiệu lực trên thực tế.
Lấy ý kiến nhân dân về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là nhằm bảo đảm và phát huy bản chất dân chủ, góp phần nâng cao tính hiệu lực của pháp luật, để “xây dựng pháp luật ngày nay không còn là độc quyền của nhà nước mà phải là công việc của toàn thể nhân dân Chức năng của nhà nước là đảm bảo cho quy trình lập pháp và lập quy và thực hiện quy tắc đó diễn ra một cách tự do và bình đẳng” Đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, toàn diện và khả thi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; để khách quan, minh bạch trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật Có một đặc tính chung đã được thừa nhận trong nhà nước pháp quyền, là tính công khai, minh bạch trong việc thực thi quyền lực nhà nước Thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là hoạt động nhằm xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân đảm bảo chặt chẽ theo quy định và đảm bảo tính khả thi cao, vì vậy cũng phải thể hiện đặc tính này
Việc tổ chức lấy ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có thể được thể hiện dưới các hình thức và phương thức khác nhau, phụ thuộc vào chủ thể lấy ý kiến, nội dung và tính chất của văn bản cần lấy ý kiến Thực tiễn của việc lấy ý kiến trong những năm qua cho thấy, một số hình thức và phương thức chủ yếu Đó là: lấy ý kiến rộng rãi hoặc lấy ý kiến đối với một số đối tượng; lấykiến toàn bộ dự thảo hoặc lấy ý kiến một số nội dung chủ yếu, quan trọng của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; lấy ý kiến trong một đợt hoặc lấy ý kiến nhiều đợt
Thứ ba là, việc thực hiện pháp luật về quy trình thẩm định dự thảo
nghịquyết là một giai đoạn quan trọng, không thể thiếu trong quy trình xây
Trang 19dựng, banhành văn bản quy phạm pháp luật có vai trò góp phần nâng cao chất lượng của dự thảo nghị quyết Đây là khâu cuối cùng trước khi cơ quan, người
có thẩm quyền xem xét, ban hành các văn bản, chất lượng thẩm định, thẩm tra dự thảo Nghị quyết có tác động mạnh đến quá trình xây dựng nghị quyết, đến quy mô của việc thực hiện pháp luật Ngược lại, nếu thẩm định, thẩm tra không chuẩn xác có thể làm nản lòng chủ thể soạn thảo, ban hành và kết quả
dự thảo đó sẽ gây thiệt hại cho xã hội Mặt khác nếu thẩm tra hời hợt, sẽ thiếu
đi tính chuẩn xác của văn bản, và sẽ không được các cơ quan tham mưu soạn thảo không coi trọng kết quả thẩm tra, có thể dẫn tới việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật có tính khả thi không cao, không sát với thực tiễn của tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh, quốc phòng tại thời điểm ban hành và tầm nhìn cho thời gian tới của địa phương, đơn vị
Thứ tư là, việc thực hiện các quy định pháp luật về quy trình Ủy ban
nhândân cấp tỉnh xem xét, thảo luận và biểu quyết về việc trình dự thảo nghị quyết ra Hội đồng nhân dân cùng cấp; có vai trò phản biện, sẽ giúp cho người đứng đầu Ủy ban nhân dân có cái nhìn thấu đáo để đưa ra những quyết định phù hợp, đồng thời giúp cho các thành viên có biểu quyết việc trình dự thảo nghị quyết với Hội đồng nhân dân hay không trình
Thứ năm là, việc tuân theo pháp luật về quy trình thẩm tra dự thảo
nghịquyết có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của nghị quyết, đảm bảo cho nghị quyết hợp hiến, hợp pháp
Thẩm tra dự thảo nghị quyết có vai trò phòng chống sự hời hợt không nắm bắt, không tuân thủ các quy định của pháp luật và nếu không có trình độ, thẩm tra sẽ làm mất lòng tin và tốn kém nhiều sức lực, thời gian để giải quyết mâu thuẫn, không thống nhất trong hệ thống pháp luật hiện hành
Chỉ có thông qua hoạt động thẩm định, thẩm tra của cơ quan, người có thẩm quyền mới đánh giá mặt được, chưa được của dự thảo nghị quyết và từ
Trang 20đó đề xuất những biện pháp thích hợp để nâng cao chất lượng dự thảo nghị quyết.
Hoạt động thẩm tra còn là căn cứ, cơ sở, chuẩn mực đánh giá dự thảo Nghị quyết có chứa đựng các quy phạm pháp luật, góp phần đảm bảo tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật Với tư cách là “cơ quan tham mưu” các chủ thể có thể tiến hành hoạt động thẩm tra có trách nhiệm đưa ra những đánh giá, xem xét rất cơ bản và trung thực giúp cơ quan hữu quan tiếp cận được với
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật một cách nhanh nhất, sâu nhất, có trọng tâm Điều đó thực sự giúp trả lời nhanh chóng, chính xác và thỏa đáng câu hỏi
“đồng ý hay không” đối với mỗi vấn đề của dự thảo, giúp dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được thông qua thuận lợi Mặt khác cũng với việc thông tin về dự thảo dưới góc độ vừa toàn diện mang tính chuyên môn thẩm tra, thẩm định còn là cơ sở để giải thích, thuyết phục về những ý đồ xây dựng nghị quyết quy phạm phạm pháp luật, đồng thời là cơ sở để giải thích nghị quyết quy phạm pháp luật sau này Chỉ có thông qua công tác thẩm định, thẩm tra
cơ quan có thẩm quyền mới đánh giá được những mặt được, cũng như chưa được của văn bản quy phạm pháp luật và từ đó đảm bảo tính khả thi cũng như
đề xuất những biện pháp thích hợp để nâng cao chất lượng dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân
Hoạt động thẩm tra còn có ý nghĩa vô cùng đặc biệt với cơ quan soạn thảo Đóng vai trò kiểm định lại kết quả làm việc của cơ quan chủ trì soạn thảo, thẩm tra góp phần không nhỏ nâng cao trách nhiệm của cơ quan này Những tham vấn trong các báo cáo thẩm tra được cơ quan chủ trì quan soạn thảo tiếp thu, sửa đổi mang lại chất lượng cao hơn cho dự thảo cũng như hiệu quả làm việc của cơ quan này Từ đó, cơ quan chủ trì soạn thảo dần hoàn thiện
cả về kỹ năng lẫn trách nhiệm soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật
Trang 21Hoạt động thẩm tra làm giảm bớt sự căng thẳng giữa các ý kiến khác nhau của các cơ quan khi giải quyết những vấn đề có tính chất liên ngành bằng cách cung cấp những thông tin cần thiết và thiết kế lại một hoặc nhiều vấn đề
có ý kiến khác nhau, đồng thời có thể giảm bớt chi phí về thời gian, vật chất cho việc soạn thảo và hướng dẫn thi hành các văn bản khi được thông qua và
có hiệu lực Kinh nghiệm trong thời gian qua cho thấy, các cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật có thể cải thiện được kết quả xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhờ một quy trình thẩm định, thẩm tra tương đối khoa học, góp phần chỉnh lý, hoàn thiện các dự thảo văn bản
Thẩm tra còn là cơ chế đảm bảo, nâng cao sự phối hợp và giám sát lẫn nhau của các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Thẩm quyền thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật được giao cho những chủ thể nhất định nhưng hoạt động này đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng và ăn khớp của hầu hết các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Các bước lập dự thảo đến trình dự thảo đều ảnh hưởng đến khâu thẩm tra và ngược lại kết quả của thẩm tra cũng có tác động không nhỏ đến giai đoạn trên Nếu thẩm tra không chuẩn hoặc được tiến hành không đảm bảo về mặt chuyên môn sẽ mang lại cho các chủ thể có thẩm quyền khác trong hoạt động soạn thảo bức xúc, mâu thuẫn, ảnh hưởng đến chất lượng văn bản được ban hành Ở một góc độ khác, khi có sự tham gia của hoạt động thẩm định, thẩm tra các chủ thể có thẩm quyền trong hoạt động soạn thảo văn bản còn nâng cao ý thức trách nhiệm của mình, từ đó hoàn thành tốt và ngày càng hoàn thiện hơn nữa công việc mình được giao
Thứ sáu là, việc thực hiện pháp luật về các quy định Hội đồng nhân
dâncấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết có vai trò quyết định cuối cùng để một văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân có hiệu lực;
Trang 22Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ký chứng thực nghị quyết Đây là khâu quan trọng của việc xem xét dự thảo nghị quyết, thông qua thảo luận tại tổ, thảo luận tại hội trường và xem xét một lần nữa kỹ lưỡng các báo cáo thẩm tra của các ban của Hội đồng nhân dân, và báo cáo giải trình tiếp thu của Ủy ban nhân dân về các nội dung đã được thẩm tra, có thể xem xét để thống nhất
cụ thể những nội dung còn nhiều ý kiến trái ngược nhau, chưa đồng thuận, để Hội đông nhân dân thông qua nghị quyết; sau đó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thay mặt Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết
Thứ bảy là, việc tuân thủ quy định của quy trình ban hành nghị quyết
vềđăng công báo văn bản là khâu cuối cùng của quy trình nhằm kịp thời giúp cho nghị quyết sớm được thông tin đến các cơ quan, tổ chức và cá nhân; để các cơ quan, tổ chức, cá nhân triển khai thực hiện nghị quyết theo quy định của pháp luật Ngoài ra nghị quyết được đăng công báo, thì có giá trị pháp lý tương tự như văn bản chính thức của cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, từ đó nghị quyết sẽ sớm được truyền tải và đảm bảo nghị quyết sớm đi vào cuộc sống
1.3.2.2 Vai trò của thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Các nội dung vai trò của việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh cũng tương tự với các quy định ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, nhưng không có các khâu sau: (1) việc thẩm tra của các ban Hội đồng nhân dân tỉnh; (2) việc xem xét, thông qua dự thảo quyết định do Ủy ban nhân dân thực hiện tại phiên họp Ủy ban nhân dân còn Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua nghị quyết tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân, chủ tịch Ủy ban nhân dân ký chứng thực Quyết định
Trang 23Việc xây dựng, ban hành Quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa, cụ thể các quy định của Luật, bộ luật và các nghị định, thông tư của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc ban hành mới các chủ trương nhằm đảm bảo tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương Do vậy việc thực hiện đúng các quy trình trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật giúp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có được những văn bản có chất lượng và hiệu quả, hiệu lực trong việc tổ chức, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước Tránh được tình trạng lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các vấn nạn về lợi ích nhóm, dẫn đến việc lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật gây phương hại đến lợi ích của tập thể và cá nhân.
1.2 Thực hiện pháp luật về nguyên tắc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của của chính quyền địa phương cấp tỉnh
Nguyên tắc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 như sau:
Thứ nhất là, bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.
Theo đó, tính hợp hiến được hiểu là mọi văn bản quy phạm pháp luật
do các cơ quan có thẩm quyền ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, các nội dung quy định trong văn bản quy phạm pháp luật không được trái với các quy định cụ thể của Hiến pháp Đối với địa phương, mặc dù các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp chủ yếu là thể chế hóa quy định của Luật, Nghị định, Thông tư để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinhtrên địa bàn, trong khi đó Hiến pháp là đạo luật quy định những
Trang 24vấn đề chung, cơ bản, quan trọng của đất nước, do đó phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật do các cấp ban hành thường không có nội dung liên quan trực tiếp đến Hiến pháp Tuy nhiên, một số nội dung Chương II của Hiến pháp
có liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân, vì vậy quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cần chú ý vấn đề này, tránh trường hợp nội dung của Nghị quyết, Quyết định có những quy định như về các hành
vi bị cấm, không được phép thực hiện là hạn chế các quyền con người, quyền
cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp
Về nguyên tắc đảm bảo tính hợp pháp, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật có nghĩa là tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật cần phải bảo đảm tuân thủ thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật Ở địa phương văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
và người có thẩm quyền ở Trung ương như luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, các nghị quyết liên tịch, thông tư liên tịch, và các văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp trên, nếu là văn bản của Ủy ban nhân dân còn phải phù hợp với văn bản của Hội đồng nhân dân cùng cấp Ngoài ra, còn phải đối chiếu với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo cho các văn bản quy phạm pháp luật không trái với các cam kết quốc tế đó, đồng thời nội dung của văn bản phải thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo nhau
Thứ hai là, tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Về thẩm quyền ban hành văn bản, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Điều 27 thì Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành văn băn bản quy
Trang 25phạm pháp luật để quy định về các nội dung: (1) Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;(2) Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; (3) Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; (4) Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Điều 28 thì Ủy ban nhân dân tỉnh được ban hành văn bản để quy định về các nội dung: (1) Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; (2) Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng,
an ninh ở địa phương; (3) Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương Do đó, cơ quan soạn thảo cần căn cứ quy định này nhằm tránh trường hợp tham mưu ban hành văn bản trái thẩm quyền
Về hình thức, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hình thức Nghị quyết, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức Quyết định (đây là điểm mới của Luật 2015 so với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, theo đó đã bỏ hình thức Chỉ thị quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh) Đồng thời, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể
về trình tự thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ trung ương đến địa phương Theo đó, đối với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân,Ủy ban nhân dân tỉnh thì Luật cũng quy định quy trình này tại Chương VIII và Chương IX
Thứ ba là, bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.
Trang 26Điều này cũng có nghĩa là các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật phải có sự rõ ràng ý đồ điều chỉnh pháp luật và những tác động mà văn bản pháp luật có thể mang lại cho xã hội Vì vậy, đảm bảo tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật không chỉ là vấn đề câu chữ mà còn phải được thể hiện ở nội dung quy định của văn bản để đảm bảo cho văn bản khi được ban hành thì cơ quan ban hành văn bản, tổ chức, cá nhân chịu sự tác động của văn bản hiểu được những hàm ý, ý nghĩa của quy định
để tổ chức thực hiện Do đó, để đảm bảo nguyên tắc này, trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là khâu tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản phải được thực hiện một cách thực chất Thông qua hoạt động này, đối tượng áp dụng đưa ra các ý kiến góp ý, phản biện về các nội dung của văn bản Ngoài ra, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có quy định mới về lập đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó có nội dung về đánh giá tác động chính sách Do đó, thực hiện nghiêm túc việc đánh giá tác động chính sách trên các lĩnh vực: về kinh tế, về xã hội,
về giới của chính sách (nếu có), thủ tục hành chính (nếu có) và đối với hệ thống pháp luật sẽ đảm bảo được nguyên tắc minh bạch trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Thứ tư là, bảo đảm tính khả thi trong văn bản quy phạm pháp luật
Tính khả thi thường được đánh giá ở sự phù hợp giữa nội dung văn bản với các điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại Khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, người soạn thảo cần nắm bắt tình hình kinh tế xã hội để dự liệu các nộidung cần đưa vào dự thảo, tránh trường hợp ban hành văn bản không thể
áp dụng vào trong cuộc sống Thực tế trong thời gian qua, nhiều chính sách của tỉnh ban hành nhưng thời gian áp dụng chỉ được 1 đến 2 năm, có những văn bản mới ban hành đã phải sửa đổi, hay một số nội dung mang tính chủ trương, “khẩu hiệu”, thậm chí không có đối tượng áp dụng trong thực tiễn gây
Trang 27khó khăn trong việc áp dụng một cách thống nhất Điều này cũng xuất phát từ việc không đánh giá được hết tình hình thực tiễn Do vậy, yêu cầu đặt ra là văn bản pháp luật phải vừa phản ánh được những quy định chung về sự phát triển của xã hội, vừa phản ánh được những quy luật mang tính đặc thù trong từng giai đoạn, lĩnh vực.
Thứ năm là, bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Đây là nội dung quan trọng trong việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bởi văn bản quy phạm pháp luật mà vi phạm và những nội dung này sẽ làm phương hại đến việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia dân tộc; do vậy việc đặt ra yêu cầu về quốc phòng an ninh là mang tính nguyên tắc nhất quán cao, có tính xuyên suốt từ trung ương đến các địa phương trong việc thực hiện nghiêm nội dung này để đảm bảo các quy định về an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường được thực hiện có hiệu quả
Thứ sáu là, bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi
ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Việc công khai dân chủ quá trình xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa thiết thực đối với việc thực hiện các quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời qua công khai dân chủ và tiếp nhậnkiến, kiến nghị của người dân giúp cho cơ quan soạn thảo văn bản, các các cơ quan tham mưu ban hành văn bản và đặc biệt là cơ quan ban hành văn bản sẽ có những góc nhìn tổng quan nhất để tiếp thu ý kiến của nhân dân trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tránh những thiếu sót trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật và là cơ sở để
Trang 28quan thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật có cái nhìn
và quyết định phù hợp nhất với tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội ở địa phương
1.3 Thực hiện pháp luật về qui trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh
1.3.1 Thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Thực hiện pháp luật về quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đòi hỏi phải tuân thủ, chấp hành và áp dụng trình tự thủ tục các bước do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định
Trình tự, thủ tục gồm các bước sau đây:
(1) Soạn thảo nghị quyết
(2) Lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết
(3) Thẩm định dự thảo nghị quyết
(4) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, thảo luận và biểu quyết về việc trình dự thảo nghị quyết
(5) Thẩm tra dự thảo nghị quyết
(6) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết;Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ký chứng thực nghị quyết
(7) Đăng công báo
Bước 1 Soạn thảo dự thảo nghị quyết
- Phân công và chỉ đạo việc soạn thảo Theo quy định tại Điều 118 Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Thường trực Hội đồng nhândân cấp tỉnh xem xét đề nghị xây dựng nghị quyết, nếu chấp thuận thì phân công cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết và quyết định thời hạn trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh dự thảo nghị quyết Cơ quan, tổ chức trình
Trang 29phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo dự thảo nghị quyết.
- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo: xây dựng dự thảo nghị quyết bảo đảm sự thống nhất với các chính sách đã được thông qua đối với nghị quyết quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 27, phù hợp với nội dung được giao quy định chi tiết tại khoản 1 Điều 27; xây dựng dự thảo tờ trình nghị quyết; tổ chức lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết
Bước 2 Lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết
Luật năm 2015 quy định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến;
- Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liênquan Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất là 30 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo văn bản
Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản
Bước 3 Thẩm định dự thảo nghị quyết
- Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm gửi dự thảo nghị quyết đến Sở Tư pháp để thẩm định chậm nhất là 20 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh họp
- Đối với dự thảo nghị quyết liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở
Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Giám đốc Sở Tư pháp thành lập hội đồng tư vấn thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên
Trang 30gia, nhà khoa học Tổng số thành viên Hội đồng tư vấn thẩm định do Giám đốc sở quyết định (nên là số lẻ) nhưng đại diện của Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng Hội đồng chấm dứt và giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
- Tài liệu họp Hội đồng phải được Sở Tư pháp gửi cho thành viên Hội đồng chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày tổ chức họp
Tài liệu khác (nếu có)
Tài liệu (1), (2) được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử
Trên cơ sở nghiên cứu và kết quả cuộc họp thẩm định về dự thảo, Sở
Tư pháp có trách nhiệm hoàn thành báo cáo thẩm định gửi cơ quan soạn thảo Trường hợp Sở Tư pháp kết luận dự thảo chưa đủ điều kiện trình thì phải nêu
rõ lý do trong báo cáo thẩm định
Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị quyết và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khitrình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dự thảo nghị quyết
Bước 4 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định trình Hội đồng nhân dân dự thảo nghị quyết
Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm chỉnh lý và gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để chuyển đến thành viên Ủy ban nhân dân chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp
Trang 31(5) Tài liệu khác (nếu có).
Tài liệu quy định (1), (2) và (3) được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, thảo luận và biểu quyết về việc trình dự thảo nghị quyết ra Hội đồng nhân dân cùng cấp
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản đối với dự thảo nghị quyết không do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Chậm nhất 25 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để cho ý kiến
Ủy ban nhân dân phải gửi ý kiến bằng văn bản cho cơ quan tổ chức trình chậm nhất là 20 trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân
Bước 5 Thẩm tra dự thảo nghị quyết
Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trước khi trình Hội đồng nhân dân
Cơ quan trình có trách nhiệm gửi dự thảo nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra chậm nhất là 15 ngày trước ngày khaimạc kỳ họp Hội đồng nhân dân
Báo cáo thẩm tra gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân để chuyển đến các đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp
Trang 32Bước 6 Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc chuẩn bị hồ sơ
dự thảo nghị quyết để gửi đại biểu Hội đồng nhân dân
Hồ sơ dự thảo nghị quyết trình ra Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gồm có:
(1) Tờ trình Hội đồng nhân dân về dự thảo nghị quyết;
(2) Dự thảo nghị quyết;
(3) Báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định đốivới dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân trình; ý kiến của Ủy ban nhân dân và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của Ủy ban nhân dân đối với dự thảo
do Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh trình;
(4) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức,
cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý;
(5) Báo cáo thẩm tra;
(6) Tài liệu khác (nếu có)
Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dâncấp tỉnh
Việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quy định tại Khoản 1 Điều 126, Luật năm 2015 như sau:
Đại diện Ủy ban nhân dân thuyết trình dự thảo nghị quyết;
Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;
Hội đồng nhân dân thảo luận;
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Ban của Hội đồngnhân dân được phân công thẩm tra chủ trì, phối hợp cơ quan, tổ chức trình, Sở Tư pháp giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết;
Trang 33Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết Dự thảo nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết
Bước 7 Đăng công báo
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được đăng Công báocấp tỉnh và phải được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo hoặc niêm yết công khai
Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đăng toàn văn nghị quyết của Hội đồng nhân dân trên Công báo chậm nhất là 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản
Văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo in và Công báo điện
tử là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc
Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm xuất bản Công báo in cấp tỉnh và quản lý Công báo điện tử cấp tỉnh trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo sơ đồ sau:
Trang 34Phân công cơ quan soạn thảo
(Cơ quan trình dự thảo)
Đăng tải, lấy ý kiến, tiếp thu ý kiến
(Cơ quan chủ trì soạn thảo)
Thẩm tra của ban Hội đồng nhân dân tỉnh
Thảo luận, quyết định thông qua
(Hội đồng nhân dân cấp tỉnh)
Đăng công báo
Ký chứng thực (Chủ tịch HĐND cấp tỉnh)
Phân công cơ quan, tổ chức trình
(Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Soạn thảo (Cơ quan chủ trì soạn thảo)
Thảo luận, quyết định trình
(Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)
Thành lập Hội đồng
tư vấn thẩm định
Thẩm định (Sở Tư pháp)
Trang 351.3.2 Thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Thực hiện pháp luật về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đòi hỏi phải tuân thủ, chấp hành và áp dụng đầy
đủ các bước sau:
(1) Soạn thảo quyết định
(2) Lấy ý kiến về dự thảo quyết định
(3) Thẩm định dự thảo quyết định
(4) Ủy ban nhân dân xem xét, thông qua dự thảo quyết định; Chủ tịch Ủyban nhân dân cấp tỉnh ký ban hành
(5) Đăng công báo
Bước 1 Soạn thảo dự thảo quyết định
Việc soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định tại Điều 127, 128 và 129 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp huyện có trách nhiệm đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp xem xét kiểm tra việc đề nghị ban hành quyết định, báo cáo Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp tỉnh, quyết định
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công cơ quan chủ trì soạn thảo
Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm: khảo sát, đánh giá thực trạng quan
hệ xã hội ở địa phương; nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; xây dựng dự thảo
và tờ trình dự thảo quyết định; đánh giá tác động văn bản trong trường hợp dự thảo quyếtđịnh có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đánh giá tác động của thủ tục hành chính
Trang 36trong trường hợp được luật giao, đánh giá tác động về giới (nếu có); tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu ý kiến, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo quyết định.
Bước 2 Lấy ý kiến vào dự thảo quyết định
Luật năm 2015 quy định dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến;
- Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn
đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất là 30 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến
để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo văn bản
- Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản
- Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm gửi dự thảo quyết định đến Sở Tư pháp để thẩm định chậm nhất là 20 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh họp
- Đối với dự thảo nghị quyết liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở
Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Giám đốc Sở Tư pháp thành lập hội đồng tư vấn thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học Tổng số thành viên Hội đồng tư vấn thẩm định do Giám đốc Sở Tư pháp quyết định (nên là số lẻ) nhưng đại diện của Sở Tư pháp không quá 1/3t ổng số thành viên Hội đồng Hội đồng chấm dứt và giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ
- Tài liệu họp Hội đồng phải được Sở Tư pháp gửi cho thành viên Hội đồng chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày tổ chức họp
Hồ sơ thẩm định gồm:
Trang 37(1) Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo quyết định;
(2) Dự thảo quyết định;
(3) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức,
cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý;
(4) Tài liệu khác (nếu có)
Trong đó, tài liệu (1), (2) quy định được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử
Trên cơ sở nghiên cứu và kết quả cuộc họp thẩm định về dự thảo, Sở
Tư pháp có trách nhiệm hoàn thành báo cáo thẩm định gửi cơ quan soạn thảo Trường hợp Sở Tư pháp kết luận dự thảo chưa đủ điều kiện trình thì phải nêu
rõ lý do trong báo cáo thẩm định
Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo quyết định và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khitrình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dự thảo quyết định
Bước 4 Ủy ban nhân dân xem xét, thông qua dự thảo quyết định
Luật năm 2015 quy định cụ thể tại Điều 131 như sau: “Cơ quan
soạnthảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến các thành viên Ủy ban nhân dân chậm nhất là 03 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họpđể chuyển đến các thành viên Ủy ban nhân dân…”.
Theo quy định của Luật năm 2015, tùy theo tính chất và nội dung của dựthảo quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phương thức xem xét, thông qua dự thảo quyết định Trong trường hợp dự thảo quyết định được xem xét, thông qua tại phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì theo trình tự sau đây:
- Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình dự thảo quyết định
Trang 38- Đại diện Sở Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩmđịnh.
- Đại diện Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình bày ý kiến trình bày dự thảo quyết định
- Ủy ban nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo quyết định (dự thảo quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy bannhân dân biểu quyết, tán thành);
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký ban hành quyết định
- Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải được đăng Công báo cấp tỉnh và phải được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương
- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo hoặc niêm yết công khai
- Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đăng toàn văn quyết định của Ủy ban nhân dân trên Công báo chậm nhất là 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản
- Văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo in và Công báo điện
tử là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc.Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm xuất bản Công báo
in cấp tỉnh và quản lý Công báo điện tử cấp tỉnh trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Thực hiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo sơ đồ sau:
Trang 39Đăng tải, lấy ý kiến, tiếp thu ý kiến
(Cơ quan chủ trì soạn thảo)
Thảo luận, thông qua (UBND cấp tỉnh)
Ký ban hành (Chủ tịch UBND cấp tỉnh
Đề nghị xây dựng quyết định (cơ quan chuyên
môn, chủ tịch UBND cấp huyện
Soạn thảo (Cơ quan chủ trì soạn thảo)
Đăng công báo
Chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ, trình UBND
(cơ quan chủ trì soạn thảo)
Thành lập Hội đồng
tư vấn thẩm định
Thẩm định (Sở Tư pháp)
Phân công cơ quan chủ trì soạn thảo
(Chủ tịch UBND cấp tỉnh phân công)
VP UBND tỉnh phối hợp với Sở
Tư pháp kiểm tra đề nghị ban hành quyết định
Trang 40số điều và biện pháp thi hành luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Theo đó việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải được thực hiện theo các bước quy trình chặt chẽ, thống nhất và đồng
bộ và tuân thủ các quy định, trong đó cần thực hiện nghiêm túc các quy định mang tính nguyên tắc đó là: (1) việc tuân thủ pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (2) việc thi hành pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (3) việc sử dụng các yêu cầu về ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức triển khai thực hiện trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (4) việc áp dụng pháp luật trong thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Đồng thời trong thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh cần bám sát và thực hiện tốt các nội dung, yêu cầu để đảm bảo khi thực hiện không trái với các nguyên tắc,
và văn bản sau khi hoàn thành bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật; do vậy yêu cầu về trình độ và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, công chức trong việc áp dụng văn bản pháp luật để tham mưu, triển khai và phối hợp thực hiện các nội dung này là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các quy định thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh