Trong CQHCNN, việc thực hiện hiệu quả pháp luật về DCCS có thể tạo môi trường làm việc dân chủ, phát huy sức mạnh của người lao động, đoàn kết mọi người trong cơ quan, đơn vị; chống lại
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH HƯỜNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9380102
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Thị Đào
TS Trần Kim Liễu
HÀ NỘI - 2020
Trang 2LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn theo quy định, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
LÊ MINH HƯỜNG
Trang 3DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 9
1.2 Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu để tài luận án 32
1.3 Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu 38 Chương 2: LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 40
2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước 40
2.2 Nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước 55
2.3 Bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước 65
Kết luận Chương 2 76
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN 78
3.1 Quan điểm của Đảng về thực hiện dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước và pháp luật hiện hành về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước 78
3.2 Khái quát thực trạng kinh tế - xã hội và hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên 83
3.3 Thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2015-2019 86
Kết luận chương 3 110
Trang 5Chương 4: NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN 111
4.1 Nhu cầu tăng cường thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước 1114.2 Giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước 114Kết luận chương 4 147
KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói, lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi có giai cấp là lịch sử không ngừng vươn lên để đạt tới nền dân chủ ngày càng cao hơn Và cũng có thể nói, dân chủ là mục tiêu nhưng cũng là một quá trình trong đó, nội dung, hình thức, cách thức thực hiện dân chủ phải được xây dựng và hoàn thiện dần theo thời gian Cùng với tự do, công bằng, dân chủ đang là một tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng đòi hỏi quá trình dân chủ được diễn ra liên tục, nội dung và phạm vi dân chủ phải toàn diện và rộng khắp, hình thức thực hiện dân chủ phải đa dạng, phong phú… Nền dân chủ ấy cũng cần được lan tỏa thành phong trào dân chủ, được diễn ra
ở mọi nơi, từ trong các CQHCNN đến các doanh nghiệp, tại các đơn vị hành chính thấp nhất trong cấp hành chính là xã, phường, thị trấn đến các trường học, bệnh viện, hợp tác xã ; được thực hiện bởi từng công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; tạo thành động lực và sức mạnh cho quá trình quản lý, sản xuất, lao động trong xã hội
Việt Nam đang trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; trong đó, đặc biệt đề cao dân chủ Nhân dân với vị thế chủ thể quyền lực có thể thực hiện quyền thông qua trao một phần quyền cho cá nhân hay tổ chức đại diện cho mình để thực hiện quyền lực nhân dân (dân chủ đại diện) hoặc tự mình thực hiện quyền lực nhân dân (dân chủ trực tiếp) Việc trao một phần quyền cho nhà nước và việc trực tiếp thực hiện quyền lực được tiến hành song song, trong đó, có những vấn
đề, nhân dân cần thực hiện quyền dân chủ của mình ở cơ sở, tại cơ sở Hoạt động này gọi là hoạt động thực hiện pháp luật DCCS, dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật về dân chủ, DCCS
Trang 7Pháp luật về DCCS tại Việt Nam hiện nay chia làm ba mảng nội dung lớn, tương ứng với các loại hình cơ sở khác nhau: DCCS trong CQHCNN và đơn vị sự nghiệp công lập, DCCS tại nơi làm việc (doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động; gọi chung là doanh nghiệp) và dân chủ ở xã, phường thị trấn Trên thực tế, cơ chế bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân vẫn còn nhiều bất cập; việc thực hiện pháp luật DCCS vẫn còn nhiều hạn chế Điều đó đặt ra yêu cầu cần phải đẩy mạnh thực hiện pháp luật DCCS nói chung và thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN nói riêng để đảm bảo quyền làm chủ của người dân.
CQHCNN là một cơ sở, nơi diễn ra các hoạt động dân chủ Trong CQHCNN, người thực hiện pháp luật về DCCS là mọi chủ thể, từ chủ thể quản lý đến CBCC, người lao động Mỗi chủ thể đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng với vị trí, vai trò của mình Các quyền và nghĩa vụ thực hiện DCCS ấy được thực hiện bằng nhiều cách thức cụ thể khác nhau, qua hành vi độc lập của từng cá nhân hoặc qua hình thức đại diện; tại các diễn đàn chính thức hoặc qua những hoạt động lao động, sản xuất thông thường nhất Qua thực hiện pháp luật về DCCS, mối quan hệ giữa người đứng đầu, người lãnh đạo, quản lý trong cơ quan với CBCC trong cơ quan sẽ được củng cố theo hướng ngày càng chặt chẽ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ; khắc phục những hạn chế mà quan hệ hành chính đơn thuần có thể gây ra khiến quan hệ thủ trưởng, nhân viên trở nên xa cách, cứng nhắc
Trong CQHCNN, việc thực hiện hiệu quả pháp luật về DCCS có thể tạo môi trường làm việc dân chủ, phát huy sức mạnh của người lao động, đoàn kết mọi người trong cơ quan, đơn vị; chống lại tình trạng “thiếu dân chủ”,
“phản dân chủ”, lộng quyền, áp đặt của một số cá nhân (đặc biệt là cá nhân nắm chức vụ quan trọng trong cơ quan); hạn chế tình trạng lợi ích nhóm, bè phái trong cơ quan; là cơ sở để xây dựng nền “hành chính phục vụ”, cung cấp
Trang 8những dịch vụ công tốt nhất cho người dân Một CQHCNN nếu thiếu tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động sẽ là môi trường để nuôi dưỡng những “ông quan cách mạng”, tham nhũng, quan liêu…
Trong những năm vừa qua, các CQHCNN nói chung và CQHCNN tỉnh Thái Nguyên nói riêng đã quan tâm, chú trọng thực hiện pháp luật về DCCS trong cơ quan; xem đây là một cách thức hiệu quả để tiến hành quản lý và phát huy vai trò, sự sáng tạo, trách nhiệm của CBCC đối với công việc CBCC trong các CQHCNN cũng ngày càng hiểu hơn về quyền và nghĩa vụ cũng như cách thức thực hiện quyền và nghĩa vụ làm chủ của mình tại cơ quan, ý thức được vai trò làm chủ của mình để từ đó nắm bắt các thông tin, tham gia ý kiến, tham gia quyết định, tham gia giám sát hiệu quả đối với hoạt động của cơ quan, việc thực hiện nhiệm vụ của người có thẩm quyền, CBCC khác trong cơ quan Nhiều công sở hành chính đã tạo dựng được môi trường cởi mở, dân chủ, tạo động lực để CBCC phát huy tối đa khả năng của mình và ngày càng gắn bó với cơ quan
Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều vướng mắc, hạn chế đối với việc thực hiện pháp luật DCCS nói chung và tại CQHCNN nói riêng Vẫn còn không ít những biểu hiện chưa dân chủ trong hệ thống các CQHCNN, làm ảnh hưởng đến việc xây dựng môi trường dân chủ trong các cơ quan.Cụ thể như: còn mang tính “hình thức”; việc phát huy vai trò làm chủ của CBCC còn chưa rõ nét trong nhiều hoạt động; có những nội dung còn thực hiện chưa hiệu quả… Và nếu xét cho đến cùng, nhiều quyết định quản lý sai lầm, nhiều
vi phạm pháp luật trong các CQHCNN đều hàm chứa nguyên nhân do vi phạm pháp luật về dân chủ tại cơ quan Khi các quy định pháp luật, quy chế dân chủ trong cơ quan bị vô hiệu hóa, việc thao túng quyền lực, lạm quyền, lộng quyền sẽ dễ dàng xảy ra; các vi phạm pháp luật sẽ xảy ra phổ biến hơn
Đẩy mạnh thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN trong giai đoạn hiện nay vừa là nhiệm vụ, vừa là nhu cầu của CQHCNN, CBCC trong
Trang 9cơ quan Việc mở rộng dân chủ không những sẽ góp phần xây dựng CQHCNN vững mạnh hơn mà còn giúp CBCC được phát huy khả năng, trí tuệ, sức lực đề cống hiến cho công việc Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài
“Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước tù thực tiễn tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận án tiến sỹ của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật DCCS trong CQHCNN và thực trạng thực hiện pháp luật trong CQHCNN tại tỉnh Thái Nguyên, luận án hướng tới việc đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhi m vụ nghiên cứu
- Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN, đánh giá tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên các mặt lý luận, thực trạng và giải pháp; từ đó rút ra những nội dung đã được nghiên cứu thấu đáo, có thể kế thừa, những nội dung còn phải tiếp tục nghiên cứu và làm rõ trong luận án
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài luận án, thống nhất khái niệm “thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN”; nghiên cứu nội dung, hình thức thực hiện và vấn đề bảo đảm thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN
- Nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN tại Thái Nguyên, phân tích kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đã được phân tích; Làm rõ việc bảo đảm thực hiện trên thực tế của chính quyền địa phương với việc thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN
Trang 10- Từ nhu cầu, phương hướng tăng cường thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN trong giai đoạn hiện nay, đề xuất các giải pháp tăng cường phù hợp với thực tế.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Ðối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN; hoạt động thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp lu¾n
Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng; chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về dân chủ, thực hiện DCCS trong CQHCNN
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cúu lịch sủ: được sử dụng để tìm hiểu việc
nghiên cứu từ trước đến nay về nội dung có liên quan đến đề tài luận án, phục
vụ công tác tổng thuật; quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước; quá trình phát triển của tư tưởng về dân
Trang 11chủ, quan điểm về dân chủ, dân chủ cơ sở và thực hiện pháp luật về dân chủ
cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước của Đảng Cộng sản Việt Nam; quá trình hoàn thiện pháp luật về dân chủ cơ sở của pháp luật Việt Nam
- Phương pháp tổng hợp: được sử dụng để hệ thống hoá các kết quả
nghiên cứu về nội dung có liên quan đến đề tài luận án, từ đó đưa ra những nội dung đã được nghiên cứu thấu đáo mà luận án có thể kế thừa, nội dung chưa được nghiên cứu, làm rõ để đặt ra nhiệm vụ cần giải quyết của luận án; tổng hợp các kết quả báo cáo thực hiện pháp luật để làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN tại tỉnh Thái Nguyên
- Phương pháp so sánh: được sử dụng để tìm ra sự tương đồng và khác
biệt giữa thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN với thực hiện pháp luật tại xã, phường, thị trấn và tại doanh nghiệp, hợp tác xã, ; đối chiếu các kết quả thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN tại tỉnh Thái Nguyên qua các năm để thấy được quá trình thực hiện pháp luật
- Phương pháp phân tích: được sử dụng xuyên suốt trong luận án để làm rõ
những quan điểm của các nhà nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến đề tài (trong phần tổng quan); triển khai các nội dung cụ thể của phần lý luận về thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN (như làm rõ thế nào là dân chủ cơ sở, thực hiện pháp luật về DCCS, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN, các bảo đảm thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN); làm rõ kết quả đạt được, hạn chế, tìm ra nguyên nhân của thực trạng thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN; triển khai các nội dung trong giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án góp phần làm rõ một số nội dung lý luận thực hiện pháp luật
về DCCS trong CQHCNN: xây dựng được khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong CQHCNN; chỉ ra nội dung, hình thức, đặc điểm, vai trò
và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN
Trang 12Luận án bước đầu đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật trong CQHCNN tại Thái Nguyên trong thời gian qua và những bảo đảm thực tế cho việc thực hiện pháp luật; chỉ ra và phân tích được các nguyên nhân, yếu tố tác động dẫn đến kết quả đạt được và hạn chế trong thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN.
Luận án nêu và phân tích được nhu cầu và đề xuất được các giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý lu¾n
Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật DCCS trong CQHCNN mà các công trình nghiên cứu trước vẫn chưa làm rõ; đưa ra những phân tích, lập luật trên cơ sở quan điểm cá nhân của tác giả (như xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm, chỉ ra nội dung, hình thức, các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN); từ đó, có thể làm phong phú thêm lí luận về thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong thời kỳ mới
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về nội dung lý luận thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN
6.2 Ý nghĩa thực tiến
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và đánh giá kết quả đạt được, hạn chế
và nguyên nhân của việc thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN, luận
án xác định các vấn đề đặt ra trong đẩy mạnh thực hiện pháp luật về dân chủ
cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước trong thời gian tới
Luận án có thể là tài liệu tham khảo đối với nhà quản lý trong quá trình
tổ chức thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN tại tỉnh Thái Nguyên;
có ý nghĩa tham khảo cho công tác xây dựng, tổ chức thi hành và thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Trang 137 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Lý luận thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành
chính nhà nước
Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành
chính nhà nước tại tỉnh thái nguyên
Chương 4: Nhu cầu và giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về dân chủ
cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước từ thực tiễn tỉnh thái nguyên
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Khó có thể liệt kê hết các công trình nghiên cứu về dân chủ, DCCS bởi đây là nội dung thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều các nhà khoa học trong và ngoài nước, thuộc các ngành khoa học xã hội khác nhau như: triết học, luật học, xã hội học, chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học… Các công trình nghiên cứu có quy mô khác nhau, thể hiện dưới hình thức khác nhau như: sách chuyên khảo; đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp bộ; luận án, luận văn; bài viết
1.1.1 Các kết quả nghiên cứu có liên quan đến lý lu¾n thực hi n pháp lu¾t
về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước
1.1.1.1 Nhóm các kết quả nghiên cúu lý lu¾n về dân chủ cơ sở
- DCCS trong mối quan hệ với dân chủ
Trong cuốn Democracy and its Critics (Dân chủ và sự phê phán của
nó), Robert Alan Dalh đã tiếp cận vấn đề từ góc độ chính trị học, từ vấn đề
nguồn gốc quyền lực nhà nước được xuất phát từ quyền lực của nhân dân Bởi quyền lực nhà nước xuất phát từ quyền lực nhân dân nên nhân dân có quyền làm chủ quyền lực nhà nước Quyền làm dân chủ được thể hiện qua các tiêu chí của một nền dân chủ lý tưởng (được đánh giá bằng: 1 Sự tham gia hiệu quả; 2 Công bằng trong bầu cử; 3 Sự hiểu biết sâu sắc; 4 Kiểm soát chương trình nghị sự; 5 Sự tham gia bình đẳng)
Từ cách tiếp cận vấn đề dân chủ như vậy, Robert Alan Dalh đi đến luận giải: để xây dựng nền dân chủ trong xã hội cần phải có sự chế ước lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật Trong đó, sự chế ước giữa các chủ thể trong xã hội ở đây bao gồm cả sự chế ước của nhân dân đối với nhà nước Và hệ thống các quy phạm pháp luật chính là yếu tố đảm
Trang 15bảo cho sự chế ước này được thực hiện trên thực tế, đảm bảo dân chủ được thực hiện từ trong các tổ chức, cộng đồng nhỏ đến trong phạm vi quốc gia.
Cũng khai thác vấn đề dân chủ song tiếp cận vấn đề ở một khía cạnh
khác, cách tiếp cận lịch sử, Sorensen Georg trong Democracy and
democractization processes and prospects in changing world” (Dân chủ và quá trình dân chủ hóa và triển vọng trong một thế giới chuyển đổi) đã cho
thấy xu hướng dân chủ hóa mạnh mẽ trong thế giới hiện đại Tác giả Hoàng
Chí Bảo trong cuốn Lý lu¾n về dân chủ và thực hiện dân chủ hóa ở Việt Nam
trong công cuộc đổi mới đã trình bày một cách có hệ thống các vấn đề về dân
chủ và đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của dân chủ hóa, coi đó là chìa khóa để thúc đẩy sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực
Cũng như Robert Alan Dalh, qua phân tích của mình, tác giả Sorensen Georg cho thấy sự phát triển dân chủ ở các nước có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau là khác nhau Sự phát triển của dân chủ và các mô hình dân chủ hình thành trong xã hội tại Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào khác đều sẽ nhiều nét tương đồng và cả nhiều nét khác biệt Không thể rập khuôn một mô hình về xây dựng và thực hiện dân chủ ở các quốc gia khác nhau
Aristotle trong The Politics (Chính trị lu¾n) đã xác định nguyên tắc cơ
bản của dân chủ là tự do Tự do, theo Aristotle gồm hai phần: thứ nhất là tự
do chính trị, trong đó mọi người dân đều có thể tham chính (qua bầu cử vào các chức vụ trong chính quyền); thứ hai là tự do dân sự, qua đó người dân sống theo ý mình thích, bao hàm ý nghĩa tự do là không bị chính quyền xâm phạm Ở một chừng mực nào đó, việc các cá nhân được tự mình bày tỏ những suy nghĩ, thực hiện các công việc và quyết định các vấn đề có liên quan đến
cá nhân mình, đến cộng đồng nơi mình sinh sống, làm việc (tham chính hay không tham chính, ủng hộ hay không ủng hộ…) chính là sự thể hiện cụ thể của dân chủ Như vậy, dân chủ không phải là cái gì quá cao xa Dân chủ là
Trang 16những gì rất gần gũi, rất thường nhật; giúp giải phóng con người trong chính môi trường sinh hoạt, môi trường chính trị của họ.
Dân chủ cơ sở có mối quan hệ chặt chẽ với dân chủ, trong đó, tác giả
Trương Hồ Hải (2015) trong bài Hoàn thiện pháp lu¾t về cơ chế dân chủ cơ
sở ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 đăng trên tạp chí
Nghiên cứu lập pháp [42] đã phân tích: Cơ sở (xã, phường, cơ quan, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp…) là nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, là địa bàn trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, công tác và học tập Cơ sở là nơi diễn ra các hoạt động dân chủ, là môi trường để các chủ thể thực hiện quyền làm chủ của mình, thể hiện vai trò, trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp địa phương nơi mình đang làm việc, cư trú
Cuốn Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý lu¾n của Đảng 1986 - 2005,
(2 tập) do Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt và Lê Ngọc Tòng
(đồng chủ biên), Nxb Lý luận chính trị năm 2005; bài Những nội dung mới về
nền dân chủ XHCN của Phan Xuân Sơn đăng trên Báo Đại đoàn kết tháng
5/2011; bài Những nh¾n thúc lý lu¾n mới về dân chủ qua 20 năm đổi mới và
trong văn kiện Đại hội X của Đảng của Hoàng Chí Bảo đăng trên Tạp chí
Triết học số Tháng 10 năm ; bài Dân chủ XHCN và thực hiện dân chủ XHCN
theo tinh thần đại hội XI của Đảng của Trương Minh Tuấn (2011) trong Kỷ
yếu hội thảo - Văn kiện Đại hội XI của Đảng: Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn; bài Vấn đề dân chủ trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng của Vũ Hoàng Công đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số tháng 5/2011; bài Phát
huy dân chủ XHCN ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng của Nguyễn Quốc Sửu đăng trên Tạp chí Cộng sản số 9 năm 2016…đã
phân tích quan điểm mới của Đảng về dân chủ XHCN như: mô hình dân chủ, dân chủ XHCN trong mô hình hệ thống chính trị XHCN với cơ chế Đảng lãnh
Trang 17đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ cho thấy sự phát triển về nhận thức về dân chủ, dân chủ XHCN, DCCS ngày càng sâu sắc và đúng đắn hơn Cùng với đó, mô hình DCCS, lý luận về DCCS, mục tiêu xây dựng và thực hiện DCCS ngày càng được hình thành rõ nét, được quan tâm và chú trọng.
- Hình thức DCCS
Dân chủ, DCCS ở nước ta hiện nay được thực hiện dưới hình thức dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp, đó chính là việc nhân dân thực hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của mình đối với các vấn đề có liên quan để tổ chức và hoạt động ở cơ sở Những nội dung này cũng đã được phản ánh trong
bài viết Những nh¾n thúc mới về dân chủ qua 20 năm đổi mới và trong Văn
kiện Đại hội X của Đảng của tác giả Hoàng Chí Bảo (2007) [9] Trong Kỷ
yếu hội thảo Một số vấn đề Lý lu¾n, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ
sở trên thế giới và ở Việt Nam (2014), các tác giả chỉ ra dân chủ gián tiếp là
hình thức tham gia quản lý nhà nước thông qua các đại diện được bầu cử, thay mặt cho cử tri trong việc thực hiện các chức năng hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và xã hội; dân chủ trực tiếp là hình thức nhân dân trực tiếp quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia mà không qua yếu tố trung gian nào [132]
Tất nhiên, việc thực hiện DCCS bằng mỗi hình thức khác nhau đều
có những ưu điểm và hạn chế nhất định Nhược điểm của dân chủ trực tiếp
là ở phản ứng tình cảm, nhất thời và phụ thuộc vào vấn đề thông tin Trình
độ dân trí thấp và việc thiếu thông tin có thể dẫn tới những “nguy hiểm” trong thực hiện dân chủ ở cơ sở Nhược điểm của dân chủ gián tiếp là khi không có sự thống nhất ý chí trong các cử tri ở khu vực bầu cử, người đại diện khó có thể thể hiện được nguyện vọng thực sự của nhân dân [132] Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là đối với việc thực hiện pháp luật về DCCS, hình thức dân chủ trực tiếp được chú trọng hơn, được thực hiện sâu rộng, thực chất và hiệu quả hơn
Trang 18- DCCS trong CQHCNN
Max Weber trong “Politik als beruf” (Chính trị là một nghề chuyên
môn) đã lý giải: vì nhà nước có “tính chính đáng” nên nó có thể tồn tại trong
nền dân chủ “Tính chính đáng” của nhà nước hiện đại được xây dựng trên
“thẩm quyền pháp lý” Và đồng thời, các hoạt động của nhà nước hiện đại bị hạn định bởi nguyên tắc pháp quyền Chính quyền có duy trì được tính chính đáng của mình hay không còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của người dân đối với chính quyền, thể hiện qua việc thực hiện chính sách, pháp luật; thực hiện trên thực tế các quyết định của chính quyền [156]… Từ những nội dung này, có thể thấy, nhà nước duy trì địa vị của mình bởi sự tồn tại của nhà nước là chính đáng, bởi pháp luật (cơ sở pháp lý cho hoạt động của nhà nước) đảm bảo quyền lợi, quyền làm chủ của người dân, do đó, được nhân dân ủng hộ
Tác giả Nguyễn Thành Lợi (2009) trong bài Trung Quốc thực hiện dân
chủ ở cơ sở sau 30 năm cải cách mở của đăng trên Tạp chí Cộng sản [67] đã
phân tích các chế độ dân chủ ở Trung Quốc bao gồm: chế độ nông dân tự quản; chế độ tự quản ở tổ dân phố; chế độ quản lý dân chủ ở cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp
Như vậy, cùng là chế độ dân chủ ở cơ sở nhưng nếu như chế độ nông dân tự quản bắt nguồn từ chế độ khoán đến từng hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc, gắn với nông thôn, do người nông dân thực hiện quyền dân chủ,
tự quản lý, phục vụ; nếu như chế độ tự quản ở tổ dân phố gắn liền với môi trường thành thị, thể hiện qua việc bầu cử dân chủ (trực tiếp), quản lý dân chủ
và giám sát dân chủ thì dân chủ trong cơ quan hành chính không được gọi là chế độ “tự quản” mà gọi là chế độ “quản lý dân chủ” Điều đó cho thấy có sự khác biệt rõ nét trong việc thực hiện dân chủ cơ sở tại tổ dân phố, trong nông dân (tại nông thôn Trung Quốc) và tại cơ quan hành chính Sự khác biệt ấy xuất phát từ đặc trưng của môi trường diễn ra hoạt động dân chủ, đặc trưng của hoạt động quản lý trong cơ quan nhà nước
Trang 19Chế độ quản lý dân chủ ở cơ quan hành chính sự nghiệp chủ yếu được thực hiện theo ba cơ chế: 1 Cơ chế tham gia của công nhân viên chức vào hoạt động quản lý, bao gồm bầu cử đại hội đại biểu công nhân viên chức, chế độ công nhân viên chức tham gia hội đồng quản trị, hội đồng giám sát;
2 Cơ chế giám sát dân chủ của công nhân viên chức bao gồm công khai các công việc của nhà máy, xí nghiệp, trường học và chế độ đánh giá dân chủ đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo; 3 Cơ chế bảo đảm quyền lợi cho người lao động và cán bộ Trong đó, công đoàn không chỉ là tổ chức chăm lo lợi ích của công nhân viên chức, mà còn là tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động
Tác giả bài viết cũng rút ra một số bài học kinh nghiệm từ công tác phát triển DCCS của Trung Quốc: Thứ nhất, mối tương quan trong lợi ích (dân sinh và dân chủ luôn song hành với nhau); thứ hai, tính trật tự trong tham gia (kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ và làm việc theo pháp luật, bảo đảm sự tham gia chính trị một cách có trật tự; thứ ba, tính thích ứng với môi trường (sự phát triển dân chủ thích ứng với sự phát triển kinh tế - xã hội); thứ tư, tính tuần tự trong phát triển (Một là, nhận thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc về hoạt động phát triển DCCS là tiến cùng thời đại, từng bước phát triển; hai là, cần phải triển khai từ thấp đến cao, từ đơn lĩnh vực đến đa lĩnh vực; ba là, các chế độ, quy định và khung pháp lý của hoạt động phát triển DCCS được kiện toàn từng bước; bốn là, năng lực làm chủ của quần chúng nhân dân được nâng cao từng bước trong quá trình phát triển)
b Nhóm kết quả nghiên cúu pháp lu¾t về dân chủ cơ sở và thực hiện pháp lu¾t về dân chủ cơ sở
- Nhóm kết quả nghiên cứu pháp luật về dân chủ cơ sở
Tác giả Đỗ Minh Khôi (2007) trong luận án tiến sĩ luật học Mối quan
hệ dân chủ và pháp lu¾t trong điều kiện Việt Nam hiện nay [63] nghiên cứu
dân chủ với tư cách là dân chủ chính trị trong một xã hội chính trị gắn liền với
Trang 20nhà nước và các thể chế của nó, đặc biệt là thể chế pháp luật Điều đó cho thấy dân chủ và pháp luật luôn đi liền với nhau; việc mở rộng dân chủ và xây dựng pháp luật, trong đó đặc biệt là pháp luật về dân chủ, cần được tiến hành cùng nhau Pháp luật sẽ là phương tiện phản ánh mức độ của nền dân chủ Dân chủ sẽ là thước đo giá trị của pháp luật.
Tác giả Ngô Huy Cương (2006) trong cuốn Dân chủ và pháp lu¾t dân
chủ, Nxb Tư pháp [24], đã trình bày nhận thức chung về dân chủ (tính tất yếu,
bản chất, mặt trái và bổ khuyết của dân chủ…), tiêu chuẩn đánh giá tính dân chủ trong pháp luật và vấn đề xây dựng dân chủ, pháp luật dân chủ ở Việt Nam như: Xây dựng Hiến pháp dân chủ, xây dựng chính quyền dân chủ Nói cách khác, dân chủ hiện diện ở khắp mọi nơi, trong các môi trường khác nhau, được thực hiện ở các mức độ khác nhau, bởi các chủ thể khác nhau; chính vì vậy, pháp luật vể dân chủ cần được thể hiện một cách toàn diện, linh hoạt, cụ thể hóa thành các quy định pháp luật khác nhau chứ không thể chỉ nằm riêng trong một loại vặn bản, một loại quy định nhất định
Luận án tiến sỹ Pháp lu¾t về thực hiện dân chủ trong cơ quan hành
chính nhà nước ở Việt Nam của Tô Văn Châu (2016) [12] là công trình
nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về DCCS trong CQHCNN, hướng tới mục tiêu hoàn thiện
hệ thống pháp luật này trong những năm tới Luận án đã xây dựng được khái niệm, xác định đặc điểm, nội dung của pháp luật về thực hiện DCCS trong CQHCNN ở Việt Nam; Cụ thể, theo tác giả, nội dung của pháp luật thực hiện DCCS trong CQHCNN có thể phân loại thành các nhóm cơ bản sau:
- Nhóm 1: Các quy định chung (Gồm: mục đích, nguyên tắc chung, cơ chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của CQHCNN…)
- Nhóm 2: Các quy định pháp luật bảo đảm CQHCNN thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong khuôn khổ pháp luật (Gồm: quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQHCNN; các quy định về giám sát,
Trang 21kiểm tra, thanh tra, kiểm toán…đối với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CQHCNN).
- Nhóm 3: Các quy định về việc nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong hoạt động của các CQHCNN (Gồm: 1 Quy định về quyền làm chủ của công dân, tổ chức trong quá trình hoạt động của CQHCNN; 2 Quy định về nghĩa vụ của công dân, tổ chức trong hoạt động của các CQHCNN; 3 Quy định về trình tự, thủ tục, các điều kiện khác mà các CQHCNN phải cung cấp nhằm đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ trong quá trình CQHCNN hoạt động; 4 Quy định về việc nhân dân tự thực hiện quyền làm chủ đối với bản thân, xã hội trong quá trình hoạt động của các CQHCNN)
- Nhóm 4: Các quy định pháp luật về việc cán bộ, công chức thực hiện quyền làm chủ của mình trong hoạt động của CQHCNN (Gồm: 1 Các quy định về quyền làm chủ cơ bản của CBCC, như: quyền được biết, được bàn, được làm việc, được thụ hưởng, được giám sát, được phản ánh, kiến nghị…;
2 Các quy định về nghĩa vụ của cán bộ, công chức; 3 Các quy định về trình
tự, thủ tục và các các điều kiện khác để bảo đảm cán bộ, công chức thực hiện quyền làm chủ trong hoạt động của CQHCNN)
- Nhóm 5: Các quy định về thực hiện dân chủ trong quan hệ của CQHCNN với cơ quan cấp trên và cơ quan cấp dưới
- Nhóm 6: Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của CQHCNN
Bởi khai thác vấn đề DCCS trong CQHCNN một cách toàn diện, đa chiều nên khi nói đến pháp luật về DCCS trong CQHCNN, tác giả đã không chỉ giới hạn trong phạm vi quy định cụ thể mà xem xét vấn đề từ chung đến riêng (từ quy định chung, khái quát đến quy định riêng biệt về DCCS trong CQHCNN) Cũng như vậy, khi nói về chủ thể thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN, tác giả xem xét với cả hai loại chủ thể: cá nhân và tổ chức Chủ thể là cá nhân được nhìn nhận trên cả hai khía cạnh: với tư cách công dân
Trang 22khi thực hiện quyền làm chủ của công dân (Nhóm 3) và với tư cách cán bộ, công chức khi thực hiện quyền làm chủ tại cơ quan, đơn vị (Nhóm 4) Chủ thể
là tổ chức (CQHCNN) cũng thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của mình về DCCS trong mối quan hệ với CQHCNN cấp trên và CQHCNN cấp dưới
Tác giả Tô Văn Châu cũng đã làm rõ các yếu tố tác động vào quá trình thực hiện pháp luật về DCCS trong hoạt động của CQHCNN; đánh giá, làm
rõ quá trình hình thành, phát triển, những thành tựu, hạn chế; chỉ ra, phân tích tương đối toàn diện về những bất cập, hạn chế trong pháp luật hiện hành
có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN và đề xuất các quan điểm và giải pháp phù hợp nhằm phát huy thành tựu, khắc phục những hạn chế của pháp luật về thực hiện dân chủ trong CQHCNN ở Việt Nam
Trong thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN, vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị là vô cùng quan trọng Tác giả Lương Thanh Cường
và nhóm nghiên cứu (2016) trong Đề tài khoa học cấp Bộ Hoàn thiện pháp
lu¾t về trách nhiệm của người đúng đầu cơ quan hành chính nhà nước [25]
đã trình bày lý luận pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu trong CQHCNN, xây dựng được khái niệm “người đứng đầu” và “trách nhiệm người đứng đầu” Một trong những trách nhiệm mà người đứng đầu phải chịu trách nhiệm đó chính là lãnh đạo, tổ chức thực hiện pháp luật về DCCS trong
cơ quan, đơn vị
Tác giả khai thác trách nhiệm của người đứng đầu CQHCNN theo ba loại hình: trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức và đưa ra nhận định: Để người đứng đầu CQHCN thực hiện tốt trách nhiệm, tác giả nhận định cần phải đảm bảo các yêu cầu: 1 Về pháp luật: Vị trí, vai trò của người đứng đầu CQHCNN phải được xác định rõ ràng; các yếu tố nghĩa vụ, quyền và việc chịu trách nhiệm của người đứng đầu CQHCNN phải rõ ràng; Đảm bảo sự thống nhất tương thích giữa các yếu tố nghĩa vụ, quyền, chịu trách nhiệm của người
Trang 23đứng đầu trong CQHCNN; 2 Đảm bảo yếu tố năng lực và đạo đức của người đứng đầu CQHCNN [25,tr50].
Việc có xây dựng được môi trường làm việc dân chủ, cởi mở; phát huy được quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức hay không phụ thuộc vào đường lối, mục tiêu người đứng đầu xác định cho tổ chức của họ; vào phong cách lãnh đạo, quản lý của người đứng đầu; vào cách thức xây dựng và duy trì các mối quan hệ trong cơ quan, đơn vị; vào cách tổ chức thực hiện trên thực tế của người đứng đầu đối với các quy định của pháp luật về vấn đề này Chính vì vậy, để đảm bảo cho pháp luật về DCCS trong CQHCNN được thực hiện trên thực tế, cần phải hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm người đứng đầu trong CQHCNN để vừa đảm bảo thông thoáng cho người đứng đầu cơ quan có đủ “đất diễn”, thực hiện hiệu quả, sáng tạo pháp luật; vừa đảm bảo chặt chẽ để ràng buộc trách nhiệm người đứng đầu trong thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN nói riêng
Giám sát của nhân dân đối với CQHCNN là một nội dung của thực hiện pháp luật DCCS trong CQHCNN Tác giả Hoàng Minh Hội (2014) trong luận
án tiến sĩ Hoàn thiện pháp lu¾t về giám sát của nhân dân đối với cơ quan
hành chính nhà nước ở Việt Nam [53] đã tập trung phân tích, đánh giá thực
trạng pháp luật về giám sát của nhân dân đối với hoạt động của CQHCNN ở Việt Nam (thông qua MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận là Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng; giám sát trực tiếp của cá nhân) Luận án đã phân tích các đặc điểm, nội dung của giám sát nhân dân với CQHCNN; khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của pháp luật về giám sát của nhân dân với CQHCNN; đưa ra tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về giám sát của nhân dân với CQHCNN; rút
ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam sau khi phân tích quy định pháp luật về
Trang 24nội dung này ở một số nước trên thế giới; đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân với CQHCNN ở Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu của tác giả, có thể thấy, thực tế là pháp luật về giám sát nhân dân đối với CQHCNN ở Việt Nam còn nhiều hạn chế cần khắc phục Và muốn CBCC trong CQHCNN có đủ căn cứ pháp lý để tiến hành quyền giám sát đối với hoạt động của người đứng đầu, người có thẩm quyền trong cơ quan; đối với hoạt động của cơ quan thì pháp luật về giám sát của nhân dân cần phải được hoàn thiện trong thời gian tới.
Ngoài ra, có thể kể đến một loạt bài viết có chất lượng đăng trên các báo, tạp chí nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện pháp luật về DCCS trong giai
đoạn ngày nay như: Hoàn thiện pháp lu¾t về thực hành dân chủ cơ sở theo
Hiến pháp năm 2013 của Trương Hồ Hải; Thực hiện dân chủ trực tiếp theo Hiến pháp năm 2013 của Vũ Công Giao và Nguyễn Minh Tuấn; Một số kiến nghị, đề xuất tiếp tục hoàn thiện pháp lu¾t về dân chủ cơ sở của Nguyễn
Thanh Huyền… đã tiến hành phân tích thực trạng, triển vọng, thách thức của dân chủ trực tiếp, DCCS ở Việt Nam và đưa ra những đề xuất, kiến nghị để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp, DCCS
- Nhóm kết quả nghiên cứu về thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở
Tác giả Adam Przeworski, Michael Alvarez, Jose antonio Cheibub and
Fernando Limongi trong bài viết “What makes Democracies Endure? (Điều gì
tạo nên các nền dân chủ bền vũng) đã chỉ ra mối quan hệ giữa kinh tế và dân
chủ, giải đáp băn khoăn kinh tế có ảnh hưởng thế nào đến dân chủ Các tác giả
đã tiến hành khảo sát ở 135 nước trên thế giới và chỉ ra được với mức độ thu nhập bình quân đầu người ở mức độ nào thì dân chủ xuất hiện, ở mức độ nào thì dân chủ bền vững; khủng hoảng kinh tế là một trong những đe dọa phổ biến nhất đối với sự ổn định, phát triển nền dân chủ và ngược lại, tăng trưởng kinh
tế luôn có lợi cho sự phát triển dân chủ; kinh tế phát triển góp phần giúp cho
Trang 25nền dân chủ có thể tồn tại; dân chủ tại quốc gia có nền kinh tế phát triển có thể bền vững hơn so với ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển [149].
Trong bài Vai trò của thực hiện pháp lu¾t về dân chủ cơ sở ở nước ta
hiện nay, tác giả Nguyễn Hồng Chuyên đăng trên tạp chí Luật học số 7 năm
2011 [22], đã trình bày về tầm quan trọng của việc thực hiện pháp luật về DCCS đối với việc mở rộng dân chủ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân và đối với bộ máy chính quyền cấp cơ sở
Tác giả Dương Thị Tươi trong bài Các yếu tố ảnh hưởng đến việc
thực hiện pháp lu¾t về dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay – Kỷ yếu hội thảo
Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, DCCS trên thế giới và
ở Việt Nam [134], đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở như: điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội; trình
độ dân trí (trình độ văn hóa của chủ thể); yếu tố chính trị; hệ thống pháp luật; bộ máy nhà nước; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp
cơ sở Việc xác định đúng các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về DCCS sẽ góp phần dự liệu được các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống một cách có hiệu quả nhất; đồng thời, cũng lý giải được nguyên nhân khi đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về DCCS
Cũng vẫn trong cuốn kỷ yếu hội thảo này, các tác giả cũng chỉ ra những thuận lợi và khó khăn khi triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở Một
số thuận lợi có thể kể đến là: Trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong thực hiện pháp luật về DCCS được tăng lên đáng kể; nhận thức của cấp ủy, chính quyền đã có chuyển biến tích cực về phương thức lãnh đạo
và quản lý theo hướng cụ thể, gần dân, sát thực tiễn hơn, đặc biệt là gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; việc đẩy mạnh cải cách hành chính, công khai, minh bạch các thông tin trong quản
lý kinh tế - xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong thực hiện dân
Trang 26chủ; ý thức làm chủ của người dân được thực hiện tốt hơn, nổi bật là hoạt động tự quản (như hiến đất làm đường, thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo…) Bên cạnh những thuận lợi đó, việc thực hiện pháp luật về DCCS vẫn gặp phải không ít khó khăn như: Việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ
sở ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, không đồng đều, máy móc và rập khuôn; việc giám sát của tổ chức công đoàn, ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng nhiều nơi còn hạn chế; nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà; việc triển khai pháp luật về DCCS còn chưa thường xuyên, kịp thời;
ý thức làm chủ của người dân còn chưa cao; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện pháp luật về DCCS còn nhiều hạn chế
Ngoài ra, có rất nhiều bài viết có giá trị đăng trên các tạp chí nghiên
cứu, khai thác những nội dung cụ thể của thực hiện pháp luật như: Về vấn đề
dân chủ trong cải cách chính quyền địa phương ở Việt Nam của Phan Thanh
Hà, Vai trò của chính quyền cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên trong việc thực
hiện pháp lu¾t về dân chủ cơ sở của Đỗ Văn Dương; Vai trò của M¾t tr¾n Tổ quốc trong thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay của Nguyễn Văn Phương, Công khai tạo sự đồng thu¾n và phát huy dân chủ cơ sở của Nguyễn Minh
Trí; Dân chủ cơ sở và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cúu của Đỗ Thị Thạch; Để góp phần nâng cao hệu quả hoạt động của Ban Thanh tra nhân
dân hiện nay của Trần Ngọc Tranh; Kiểm tra, giám sát của nhân dân trong xây dựng hệ thống chính trị ở cấp cơ sở của Hoàng Đình Trung…
Tác giả Trần Thị Hạnh (2016) trong đề tài khoa học cấp Bộ Nâng cao
hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ quan hành chính nhà nước
[44] trên cơ sở làm rõ một số khái niệm cơ bản, đã tập trung đi sâu phân tích nội dung, đặc điểm, tiêu chí đánh giá hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở; vai trò và sự cần thiết bảo đảm và nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy chế trong CQHCNN Trong số những công trình nghiên cứu về dân chủ cơ sở đã công bố, có thể nói đây là công
Trang 27trình duy nhất cho đến nay nghiên cứu trực diện về thực hiện pháp luật DCCS trong CQHCNN (cụ thể là việc thực hiện quy chế dân chủ trong CQHCNN).
Đề tài khoa học cấp Bộ Thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực thi
công vụ nhằm phòng ngùa tham nhũng ở Việt Nam hiện nay do Viện Khoa
học Thanh tra chủ trì (2014-2015), Viện trưởng Nguyễn Quốc Hiệp chủ nhiệm [47], đã nghiên cứu một cách có hệ thống về trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ, đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm giải trình nhằm phòng ngừa tham nhũng, phân tích nguyên nhân của thực trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm thực hiện có hiệu quả trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ Trong đó, trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ được hiểu là “việc CQHCNN chủ động hoặc theo yêu cầu thực hiện cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về quyền, nghĩa vụ, về quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và trách nhiệm của mình đối với kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ đó trước người dân, xã hội và các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ có liên quan mật thiết với việc thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN, đảm bảo quyền được biết, được kiểm tra, giám sát của cán bộ, công chức đối với hoạt động của cơ quan, lãnh đạo cơ quan; của nhân dân đối với hoạt động của CQHCNN Ở một khía cạnh nào đó, có thể coi đây là một tiêu chí đánh giá mức độ của nền dân chủ XHCN và đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở (Vì cán bộ, công chức, người dân cần được biết, muốn kiểm tra, giám sát nên nhà nước phải có trách nhiệm giải trình)
Cuốn Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ cơ sở hiện nay
do Phan Xuân Sơn (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia năm 2003 [102], là một công trình góp phần trình bày tương đối có hệ thống quá trình hình thành, phát triển, nội dung, phương thức hoạt động của đoàn thể nhân dân (chủ yếu tập trung vào các tổ chức chức chính trị - xã hội: Mặt trận tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh) trong việc thực hiện quyền dân chủ của
Trang 28nhân dân lao động ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) Các tác giả đã phân tích vai trò nòng cốt trong xây dựng và thực hiện Quy chế DCCS và xây dựng cuộc sống mới của khu dân cư của các đoàn thể nhân dân; phân tích các thành tựu, hạn chế trong hoạt động của đoàn thể nhân dân và chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế đó Các tác giả cũng đánh giá cao vị trí, vai trò của Quy chế DCCS trong đời sống chính trị - xã hội.
Tương tự như vậy, các tổ chức đoàn thể như Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Công đoàn,… cũng giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN Với vai trò đại diện và bảo vệ quyền lợi cho các hội viên của mình, các tổ chức đoàn thể góp phần tổ chức, thực hiện pháp luật về DCCS trong cơ quan; quan tâm đến đời sống vật chất – tinh thần, đảm bảo quyền lợi cho CBCC trong cơ quan Tuy nhiên, việc phát huy hết vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của các đoàn thể trong CQHCNN vẫn còn nhiều hạn chế và khó khăn
Tác giả Trần Ngọc Khuê (2011) trong Báo cáo Tổng quan Đề tài khoa
học cấp Bộ: “Mối quan hệ giũa các yếu tố tâm lý xã hội với quá trình thực
hiện quy chế dân chủ cơ sở ở nông thôn hiện nay” [64] đã phân tích làm rõ tác
động qua lại giữa một số yếu tố tâm lý xã hội cơ bản với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn trong
thời kỳ mới Cũng khai thác nội dung này, cuốn Tâm lý xã hội trong quá trình
thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của Lưu Minh Trị (2004), Nxb Chính trị
Quốc gia [127], đã chỉ ra những yếu tố tâm lý xã hội cần chú ý trong quá trình thực hiện quy chế DCCS
Trần Thị Thu Huyền (2015) trong luận án tiến sĩ chính trị học Xây
dựng hệ tiêu chí đánh giá trình độ phát triển dân chủ ở Việt Nam hiện nay
[59] đã góp phần phát triển một định hướng mới về dân chủ ở Việt Nam thông qua phương pháp định lượng, cụ thể: 1 Trình bày cách tiếp cận để xây
Trang 29dựng hệ tiêu chí đánh giá trình độ phát triển dân chủ và lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với điều kiện Việt Nam 2 Xây dựng khung lý thuyết và đề xuất các tiêu chí phù hợp với đặc điểm dân chủ Việt Nam 3 Tiến hành đo lường và đánh giá thí điểm một hệ tiêu chí trong 3 hệ tiêu chí đã đề xuất (hệ tiêu chí đánh giá về năng lực làm chủ của người dân); phân tích rõ các tiêu chí cơ bản của hệ tiêu chí này gồm: nhận thức về các quyền làm chủ, thực hiện hành vi làm chủ và khả năng điều chỉnh hành vi làm chủ Luận án đã cố gắng xây dựng cơ sở cho một công việc hiện nay ở Việt Nam đang gặp khó khăn và trong tương lai cần phải thực hiện: đánh giá mức độ dân chủ trong xã hội (trong đó có DCCS trong CQHCNN).
1.1.2 Các kết quả nghiên cứu có liên quan đến thực trạng thực hi n pháp lu¾t về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước
1.1.2.1 Các kết quả nghiên cúu thực trạng thực hiện pháp lu¾t về dân chủ
cơ sở
Có rất nhiều kết quả nghiên cứu về thực hiện pháp luật DCCS ở Việt Nam từ trước đến nay Các công trình nghiên cứu này tập trung vào việc tổng kết thực tiễn, đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật DCCS và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật DCCS trong giai đoạn tiếp theo Trong số đó, thực hiện pháp luật về DCCS tại xã, phường, thị trấn là nội dung được khai thác nhiều nhất Ngoài việc nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về dân chủ và DCCS, dân chủ trực tiếp, các tác giả cũng tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về DCCS tại một địa phương hoặc khu vực đặc thù nhất định (đồng bằng, miền núi, nông thôn), vẽ nên bức tranh nhiều màu sắc về việc thực hiện pháp luật DCCS tại Việt Nam; cho thấy, việc thực hiện pháp luật về DCCS tại Việt Nam đã có nhiều thành tựu, góp phần đem lại quyền làm chủ thực
sự cho người nhân, tuy nhiên, cũng còn rất nhiều hạn chế, vướng mắc, cần phải được giải quyết trong thời gian tới
Có thể kể ra đây một số kết quả nghiên cứu như sau:
Trang 30Việt Nam đang tiến hành xây dựng nền dân chủ XHCN Tác giả
Nguyễn Tiến Phồn (2001) trong cuốn Dân chủ và t¾p trung dân chủ - lý lu¾n
và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, đã phân tích rõ những thành tựu và hạn
chế, những sai lầm trong nhận thức và thực hiện công cuộc xây dựng nền dân chủ XHCN ở các nước XHCN và ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu đã in thành sách: “Thực hiện quy chế dân chủ
và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay” Nguyễn Văn Sáu – Hồ
Văn Thông (2005); “Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý
lu¾n và thực tiễn”, Dương Xuân Ngọc (chủ biên), (2000); “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội ở nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta”, Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên)
(2000); “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - một số
vấn đề lý lu¾n và thực tiễn”, Nguyễn Thu Cúc (2002), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội…
Các đề tài khoa học: “Quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở một số
tỉnh Đồng bằng sông Hồng hiện nay”, đề tài cấp Bộ năm 2002 do Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì; “Nghiên cúu hoàn thiện cơ chế dân
chủ cơ sở trong điều kiện mới” đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2003
của Ngô Thị Tám; “Vấn đề dân chủ trên lĩnh vực chính trị ở nông thôn Việt
Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay (qua khảo sát vùng nông thôn đồng bằng sông Củu Long”, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2006, Hoàng Văn Chức
(chủ nhiệm) ; Nghiên cúu phương thúc triển khai quy chế thực hiện dân chủ ở
cấp xã của tỉnh Yên Bái, đề tài khoa học cấp Bộ, Hoàng Văn Chức (chủ
nhiệm); Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các trường Đại học, Cao
đẳng ở Tp Hồ Chí Minh hiện nay, đề tài khoa học cấp Bộ năm 2011, Nguyễn
Quốc Vinh (chủ nhiệm);
Các luận văn, luận án: Đào Bá Phương, Luận án Tiến sĩ năm 1998,
Nghiên cúu phương thúc triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã của
Trang 31tỉnh Yên Bái; Nguyễn Thị Tâm, Luận án Tiến sĩ năm 2007, Dân chủ cơ sở và vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay; Trần Trung
Công, luận văn Thạc sĩ năm 2012, Thực hiện pháp lu¾t về dân chủ cơ sở, thực
tiễn tại tỉnh Quảng Bình, ; Quách Thị Bình, luận văn Thạc sỹ năm 2013, Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ; Nguyễn Cảnh
Quang, luận văn thạc sỹ năm 2014, Thực hiện pháp lu¾t dân chủ cơ sở tù thực
tiễn qu¾n Đống Đa, thành phố Hà Nội; Trần Văn Khuyên, Luận án Tiến sĩ
năm 2016, Thực hiện quy chế dân chủ ở thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay, …
1.1.2.2 Các công trình nghiên cúu thực trạng thực hiện pháp lu¾t về dân chủ
cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước
Tác giả Trần Thị Hạnh (2016) trong đề tài khoa học cấp Bộ Nâng cao
hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ quan hành chính nhà nước
[44] trên cơ sở tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện quy chế DCCS, gồm: tiêu chí đánh giá hiệu lực,hiệu quả quản lý của CQHCNN, tiêu chí về nhận thức của các CQHCNN và đội ngũ CBCC, viên chức về dân chủ, tiêu chí về nâng cao trình độ và phẩm chất của CBCC và viên chức, tiêu chí về góp phần phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội, đề tài đã tiến hành điều tra xã hội học về các nội dung liên quan đến việc thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN, mà cụ thể ở đây là quy chế dân chủ trong CQHCNN Qua đó, có thể thấy:
- Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về DCCS trong CQHCNN đã thực hiện tương đối tốt, thể hiện sự thay đổi về nhận thức và hành vi của CBCC Tuy nhiên, vẫn có cơ quan hành chính nhà nước còn tình trạng triển khai việc phổ biến, giáo dục pháp luật về DCCS một cách qua loa, hình thức Cá biệt còn có trường hợp người đứng đầu cấp ủy Đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị có sai lầm, khuyến điểm, mất đoàn kết nội bộ, nên e ngại triển khai, thậm chí không thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan
- Lãnh đạo cơ quan, đơn vị đã chú trọng lắng nghe tiếp thu ý kiến đóng góp của CBCC đã đưa ra bàn bạc dân chủ những vấn đề quan trọng của
Trang 32ngành, của cơ quan Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận có tư tưởng gia trưởng, cửa quyền, độc đoán chưa thể hiện dân chủ trong nội bộ lãnh đạo, nội bộ cơ quan; chưa thực hiện chế độ công khai; hoặc còn có hành vi trù dập người phê bình bằng cách thể hiện trong các việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, xét các chế độ ưu tiên, ưu đãi, thi đua khen thưởng…
- Đa phần CBCC đã thực hiện tốt nghĩa vụ của mình trong thực hiện dân chủ cơ sở, thực hiện phê và tự phê, trách nhiệm công vụ Tuy nhiên vẫn còn tình trạng e dè, nể nang, chưa thẳng thắn trong đấu tranh phê và tự phê; chưa thực hiện tốt các quyền về dân chủ
Các CQHCNN đã chấp hành khá tốt nghĩa vụ công khai Tuy nhiên, nội dung công khai về tài chính, đề bạt cán bộ, bổ nhiệm công chức hiệu quả chưa cao, còn hình thức
Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ đã được tất cả các CQHCNN tiến hành nhưng vẫn còn tình trạng thực hiện một cách hình thức, thiếu linh hoạt và cập nhật; việc phân phối tiết kiệm chi còn mang tính hình thức, chưa tạo được động lực phấn đấu trong CBCC
Về thực hiện những nội dung CBCC được tham gia ý kiến và người đứng đầu cơ quan quyết định, đã có nhiều nội dung được triển khai và đạt hiệu quả như: lấy ý kiến CBCC trong xây dựng kế hoạch công tác, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và quy hoạch cán bộ
Về việc thực hiện những nội dung CBCC được giám sát, kiểm tra, tác giả đánh giá cao việc thực hiện công khai thông tin của các CQHCNN, là cơ sở để CBCC thực hiện ngày càng tốt hơn quyền giám sát đối với hoạt động của cơ quan, lãnh đạo cơ quan
Về trách nhiệm của CBCC trong quan hệ và giải quyết công việc với công dân, cơ quan, việc thực hiện việc tiếp công dân để giải quyết công việc, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tiến hành ngày càng hiệu quả cùng với quá
Trang 33trình cải cách hành chính Tuy nhiên, cũng vẫn còn có tình trạng cán bộ tiếp công dân còn nóng nảy, ít kinh nghiệm trong việc tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết công việc.
Đề tài cũng vẫn còn có hạn chế như không đề cập được đến mối quan hệ giữa việc thực hiện dân chủ và DCCS trong CQHCNN hay chưa luận giải được về sự khác biệt trong nội dung quy định và tổ chức thực hiện quy chế DCCS trong CQHCNN so với các cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy nhà nước và trong cấu trúc hệ thống chính trị
Tác giả Vũ Văn Hiền (chủ biên) (2004) trong cuốn Dân chủ ở cơ sở
qua kinh nghiệm của Thụy Điển và Trung Quốc (Tài liệu dịch), Nxb Chính trị
Quốc gia [46], đã tập hợp một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vấn
đề bảo đảm quyền dân chủ của người dân qua kinh nghiệm ở Trung Quốc và Thụy Điển Nhiều nội dung trong đó cần phải được quan tâm, tham khảo để xây dựng, thực hiện DCCS ở Việt Nam (trong đó có thực hiện DCCS trong CQHCNN) như cẩn thận với ba nguy cơ: 1 Các tổ chức của xã hội công dân
có thể được thành lập chỉ đơn thuần là để hợp pháp hóa một chế độ thiếu dân chủ; 2 Quan hệ đối tác giữa chính phủ và các tổ chức dân sự trong cung cấp các dịch vụ có thể bị các nhà chính trị điều khiển để kiểm soát các hiệp hội; 3 Các tổ chức xã hội công dân tham gia cung cấp dịch vụ thường gặp khó khăn trong công tác tuyên truyền Để thực hiện DCCS cần tăng cường phân cấp, phân quyền Ngoài ra, việc thực hiện DCCS cũng cần tăng cường: đối thoại, phương tiện thông tin đại chúng và năng lực khuyến khích sự tham gia
1.1.3 Các kết quả nghiên cứu có liên quan đến giải pháp tăng cường thực
hi n pháp lu¾t về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước
Pháp luật về DCCS trong CQHCNN còn nhiều hạn chế, chính vì vậy cần hoàn thiện hơn cơ sở pháp lý cho việc thực hiện pháp luật Tác giả Tô Văn
Châu trong luận án tiến sĩ Pháp lu¾t về thực hiện dân chủ trong hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam [12] chỉ ra một trong những
Trang 34giải pháp quan trọng không thể thiếu để đẩy mạnh thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN là hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Tác giả đã đề xuất 3 nhóm giải pháp: Thứ nhất, nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của CQHCNN; Thứ hai, nhóm giải pháp hoàn thiện về hình thức pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của CQHCNN; Thứ ba, nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện quá trình hoàn thiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN
Trong số các giải pháp ấy, có một số giải pháp về nội dung có liên quan đến đề tài nghiên cứu như:
- Hoàn thiện quy định pháp luật về nhân dân thực hiện quyền làm chủ trong hoạt động của các CQHCNN: Tiếp tục mở rộng dân chủ trong CQHCNN, đặc biệt là dân chủ trực tiếp Hoàn thiện pháp luật về quyền được tiếp cận thông tin, giám sát, phản biện, hội họp, biểu tình… để đảm bảo cơ chế thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Làm rõ trong luật những việc nhân dân không được làm hoặc hoàn toàn tự quyết; đảm bảo nguyên tắc nhân dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm
- Hoàn thiện quy định pháp luật bảo đảm cán bộ, công chức làm chủ trong các hoạt động của các CQHCNN: Tác giả chú trọng đến việc hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền quyết định của CBCC trong CQHCNN Theo đó, đối với cơ quan UBND các cấp (cơ quan làm việc trên cơ sở kết hợp chế độ tập thể và chế độ thủ trưởng), cần quy định quyền của CBCC theo từng loại việc Đối với việc cần giải quyết theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số thì CBCC trong cơ quan có quyền quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân với những quyết định đó Những việc khác, tùy từng loại việc, người đứng đầu cơ quan quyết định phải trên cơ sở lấy ý kiến hoặc không lấy ý kiến của CBCC trong cơ quan
- Bổ sung quyền làm chủ mới và cụ thể hóa những quyền làm chủ đã có của cán bộ, công chức trong CQHCNN
Trang 35Thực tế chứng minh để thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN, việc CBCC trực tiếp thực hiện quyền của mình sẽ đem lại hiệu quả thiết thực, giúp bảo vệ quyền lợi của từng cá nhân một cách kịp thời hơn là đợi trải qua các quy trình khác nhau để các tổ chức, đoàn thể thực hiện chức năng đại diện bảo vệ quyền lợi cho cá nhân Nhưng để các cá nhân phát huy tối đa vai trò của mình trong thực hiện quyền DCCS, hệ thống pháp luật quy định về quyền, nghĩa vụ; quy trình, thủ tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ,… cần được quy định một cách cụ thể hơn; cơ chế bảo vệ cho các cá nhân khi thực hiện quyền làm chủ, xử lý vi phạm pháp luật về DCCS… cũng cần được quy định mạnh mẽ hơn.
Tác giả Trần Thị Hạnh (2016) trong đề tài khoa học cấp Bộ Nâng cao
hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ quan hành chính nhà nước
đã đề xuất 9 giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật DCCS trong CQHCNN Những giải pháp đưa ra trong đề tài mang tính toàn diện, có thể
là một kênh tham khảo cho tác giả trong quá trình triển khai nội dung nghiên cứu
về vấn đề này Cụ thể là:
- Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện pháp luật pháp luật về DCCS trong CQHCNN
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về DCCS
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dân chủ, DCCS trong CQHCNN
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị
- Nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát về thực hiện dân chủ, DCCS trong CQHCNN
- Bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ CBCC
- Thực hiện dân chủ gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Trang 36- Nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của CQHCNN và của CBCC.
Hệ thống giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCN, bao gồm giải pháp từ việc thay đổi nhận thức đến thay đổi hành vi của các chủ thể; từ việc tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật đến tổ chức thực hiện pháp luật, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về DCCS trong CQHCNN; từ nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu đến nâng cao năng lực làm chủ của CBCC trong cơ quan Bên cạnh đó, tác giả còn đề xuất giải pháp rất đặc thù với môi trường CQHCNN, đó là: nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN phải đi liền với nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc quản lý tập trung dân chủ
Bùi Thị Ngọc Mai (2015) trong luận án tiến sĩ Quản lý hành chính công
Trách nhiệm của người đúng đầu trong CQHCNN [70] cũng khai thác một nội
dung có liên quan đến việc thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở trong CQHCNN, cụ thể là về trách nhiệm của người đứng đầu các CQHCNN (trong đó có trách nhiệm thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở trong CQHCNN)
Tác giả khai thác trách nhiệm của người đứng đầu CQHCNN theo ba loại hình: trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức Theo tác giả, để người đứng đầu CQHCNN thực hiện tốt trách nhiệm, cần phải đảm bảo các yêu cầu: 1 Về pháp luật: Vị trí, vai trò của người đứng đầu CQHCNN phải được xác định rõ ràng; các yếu tố nghĩa vụ, quyền và việc chịu trách nhiệm của người đứng đầu CQHCNN phải rõ ràng; Đảm bảo sự thống nhất tương thích giữa các yếu tố nghĩa vụ, quyền, chịu trách nhiệm của người đứng đầu CQHCNN; 2 Đảm bảo yếu tố năng lực và đạo đức của người đứng đầu CQHCNN (tr.50)
Tác giả Nguyễn Trọng Hải (2016) trong luận án tiến sĩ luật học Đổi
mới tổ chúc và hoạt động của ủy ban nhân dân các cấp ở Việt Nam hiện nay
[41], đã đặt yêu cầu “phát triển dân chủ XHCN và bảo đảm quyền con người,
Trang 37quyền công dân của địa phương” lên đầu tiên trong số các nhu cầu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND các cấp; đặt tiêu chí “đáp ứng yêu cầu của nền hành chính phục vụ, bảo đảm dân chủ và quyền con người, quyền công dân” lên vị trí đầu tiên trong số các tiêu chí cơ bản về đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND các cấp Khi đề xuất giải pháp, tác giả cho rằng dù theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, UBND các cấp đã có sự phân cấp, phân quyền và ủy quyền rõ ràng hơn nhưng vẫn cần phải được thi hành trên thực tế với cải cách cụ thể, ví dụ: hình thức phân quyền phải được thực hiện sao cho hợp lý, càng chiếm tỷ trọng cao càng tốt; đẩy mạnh phân cấp vì đây là hướng tiến bộ của việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương, trong đó có UBND, với việc tăng cường yếu tố dân chủ trong khuôn khổ nguyên tắc tập trung dân chủ.
1.2 Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu để tài luận án
1.2.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo mà luận án kế thừa
1.2.1.1 Về lý lu¾n
Số lượng các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án rất lớn, tiếp cận và khai thác vấn đề từ nhiều hướng khác nhau, nhiều khía cạnh khác nhau, cung cấp những kiến thức quan trọng về dân chủ, DCCS, pháp luật DCCS, thực hiện dân chủ, thực hiện DCCS, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN… Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu
đã được công bố ấy, tác giả có thể luận giải một cách có cơ sở về vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật DCCS trong CQHCNN
Những nghiên cứu đó thống nhất ở một số nội dung có liên quan đến
đề tài như:
Dân chủ là quyền làm chủ thuộc về nhân dân; là “dân là chủ”, công nhận nhân dân là nguồn gốc quyền lực Nền dân chủ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng đòi hỏi quá trình dân chủ phải được diễn ra rộng khắp, trên
Trang 38mọi mặt của đời sống xã hội, ở các loại hình cơ sở khác nhau Đẩy mạnh thực hiện DCCS là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Pháp luật về DCCS là pháp luật về dân chủ ở cơ sở, tại cơ sở (trong đó,
“cơ sở” được hiểu là nơi diễn ra hoạt động thực hiện dân chủ); bao gồm tổng thể những quy định pháp lý quy định về quyền làm chủ, cách thức thực hiện… quyền và trách nhiệm làm chủ của nhân dân ở cơ sở và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc đảm bảo quyền làm chủ của công dân ở cơ sở Pháp luật về DCCS ở Việt Nam gồm 3 nhóm quy định, tương ứng với 3 môi trường thực hiện dân chủ: tại CQHCNN và đơn vị sự nghiệp công lập; tại xã, phường, thị trấn và tại doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động
Thực hiện pháp luật về DCCS là việc thực hiện trên thực tế các quy định pháp luật về DCCS Thực hiện pháp luật về DCCS là việc nhân dân thực hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của mình đối với các vấn đề có liên quan để tổ chức và hoạt động ở cơ sở, được thực hiện dưới hình thức dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp Việc thực hiện pháp luật về DCCS tại từng loại
cơ sở khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào đặc trưng của từng cơ sở và quy định pháp luật tương ứng
CQHCNN là cơ quan thực hiện chức năng quản lý HCNN, tức là hoạt động chấp hành và điều hành, gồm: Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND và các cơ quan thuộc UBND các cấp CQHCNN là một loại “cơ sở”, nơi diễn ra việc thực hiện pháp luật về dân chủ Theo đó, cán bộ, công chức trong CQHCNN; người có thẩm quyền trong CQHCNN có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở
Mối quan hệ giữa thủ trưởng và nhân viên, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện pháp luật dân chủ trong cơ quan hành chính; tâm lý của CBCCVC trong việc thực hiện DCCS trong CQHCNN … là những yếu
Trang 39tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN Qua đây, tác giả luận án có thể kế thừa được các kết quả nghiên cứu ấy để góp phần làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN.
1.2.1.2 Về thực trạng
Một phần khá lớn các kết quả nghiên cứu về thực trạng thực hiện pháp luật về DCCS tập trung vào thực trạng thực hiện pháp luật về DCCS tại xã, phường, thị trấn Trong đó, các tác giả có phân tích các kết quả đạt được, những hạn chế, khó khăn trong thực hiện pháp luật về DCCS nói chung, DCCS tại xã, phường, thị trấn nói riêng và chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến kết quả thực hiện pháp luật nằm ở các nội dung như: hiểu biết pháp luật về DCCS, ý thức thực hiện quyền là chủ của các chủ thể; việc thực hiện vai trò lãnh đạo, tổ chức thực hiện pháp luật của chính quyền, người có thẩm quyền;
sự ảnh hưởng của tâm lý “xin – cho”, quan hệ hành chính phụ thuộc…
Các công trình nghiên cứu về thực trạng thực hiện pháp luật về DCCS nói chung, DCCS trong CQHCNN nói riêng có tiến hành khảo sát tại các tỉnh, thành khác nhau, đã chỉ ra được thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật
về DCCS tại CQHCNN trong thời gian qua; đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật DCCS trong CQHCNN:
Có thể thấy, việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong CQHCNN trong thời gian qua ở Việt Nam đã thu được những kết quả đáng ghi nhận Điều đó được thể hiện qua việc tạo dựng môi trường làm việc dân chủ, công khai; hạn chế bớt tình trạng áp đặt, bưng bít thông tin đối với cán bộ, công chức CBCC trong CQHCNN ngày càng quan tâm hơn đến việc thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc chủ động tìm kiếm thông tin, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh… của mình Hội nghị CBCC tại các cơ quan được tổ chức ngày càng hiệu quả hơn, với không khí cởi mở và thu hút được nhiều ý kiến chất lượng hơn Các đoàn thể xã hội
Trang 40trong cơ quan ngày càng phát huy tốt hơn vai trò đại diện cho các thành viên
và bảo vệ quyền làm chủ cho CBCC …
Tuy nhiên, bên cạnh đó, thực tế vẫn còn rất nhiều những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về DCCS trong CQHCNN, dẫn tới tình trạng dân chủ hình thức, có tổ chức thực hiện nhưng hiệu quả không cao, đòi hỏi cần phải được khắc phục trong thời gian tới Ví dụ như: việc xây dựng và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ, việc thực hiện chế độ công khai thông tin trong quy hoạch, điều động, đánh giá cán bộ… Vẫn có tình trạng lãnh đạo CQHCNN chuyên quyền, độc đoán, thiếu dân chủ hoặc ít quan tâm đến vấn đề đẩy mạnh dân chủ trong cơ quan…
Kết quả nghiên cứu ấy có thể giúp ích cho nghiên cứu sinh rất nhiều trong việc đưa ra những nhận định, phân tích về vấn đề thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ trong CQHCNN từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên
Để đẩy mạnh thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong giai đoạn hiện nay, cần đẩy mạnh dân chủ trực tiếp, mở rộng quyền làm chủ của cán bộ, công chức