1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN điểm của hồ CHÍ MINH về đại đoàn kết dân tộc vận DỤNG vào THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH đại đoàn kết tôn GIÁO ở nước TA HIỆN NAY

23 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vận dụng vào thực hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay
Người hướng dẫn ThS. Trương Thị Mỹ Châu, Giáo viên hướng dẫn
Trường học Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Chuyên ngành Lịch sử Đảng, Chính trị học
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 515,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã đắp bồi nên nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nên cốt cách của con người Việt Nam, một trong những cơ sở h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

KHOA HÓA HỌC & THỰC PHẨM

Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN

HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2021-2022

Nhóm số 03 (Lớp thứ 5, tiết 5,6)

Tên đề tài: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VẬN DỤNG VÀO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

6 Nguyễn Quang Vinh 20116265 100% 0964797637

7 Nguyễn Thanh Hoàng 20116181 100% 0399042677 8 Bùi Mạnh Hùng 20116183 100% 0967648970 Ghi chú: Tỷ lệ % = 100% Trưởng nhóm: Bùi Phạm Yến Nhi Nhận xét của giáo viên:

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 4

3 Phương pháp thực hiện đề tài 4

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 5

1.1 Cơ sở hình thành quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 5

1.2 Vai trò đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng 7

1.3 Lực lượng khối đại đoàn kết dân tộc 8

1.3.1 Chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc 8

1.3.2 Nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân tộc 9

1.4 Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc 9

1.5 Hình thức, nguyên tắc tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc-mặt trận dân tộc thống nhất 11

1.5.1 Mặt trận dân tộc thống nhất 11

1.5.2 Nguyên tắc cơ bản về xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất 12

1.6 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong phòng chống dịch covid -19 hiện nay14 1.6.1 Thực trạng 14

1.6.2 Nguyên nhân 14

1.6.3 Giải pháp 14

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 17

2.1 Tổng quan về tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay 17

2.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay 18

PHẦN KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống cực kì quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đoàn kết đã trở thành một động lực to lớn, một triết lý nhân sinh và hành động để dân tộc ta vượt qua bao biến cố, thăng trầm của thiên tai, địch họa, để tồn tại và phát triển bền vững Trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn cách mạng thế giới đã sớm hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho nhân dân ta những di sản vô giá Một trong những di sản đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, trong đó nổi bật là tư tưởng Hồ Chí Minh

về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất

Theo Hồ Chí Minh: Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định

sự thành công của cách mạng Cách mạng muốn thành công phải có lực lượng đủ mạnh

để chiến thắng kẻ thù và xây dựng xã hội mới Việc xây dựng lực lượng trong nước có vai trò quyết định "để tự ta giải phóng cho ta" Theo Người, muốn có lực lượng phải đoàn kết vì "đoàn kết là lực lượng vô địch" Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ và lâu dài toàn dân tộc thành một khối thống nhất Đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế sẽ tạo ra sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù

Để làm rõ thêm những điều trên, nhóm chúng em chọn đề tài: “Quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Vận dụng vào thực hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Tìm hiểu và phân tích để làm sáng tỏ quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Tìm hiểu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay

3 Phương pháp thực hiện đề tài

Tra cứu tài liệu và Internet, tổng hợp và chọn lọc lại thông tin, phân tích, nghiên cứu

và từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá

Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lê-nin

Vận dụng quan điểm toàn diện và hệ thống, kết hợp khái quát và mô tả, phân tích và

tổng hợp, các phương pháp liên ngành khoa học xã hội và nhân văn

Trang 5

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã đắp bồi nên nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nên cốt cách của con người Việt Nam, một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết

Giá trị hàng đầu của văn hóa Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng Tình cảm tự nhiên của con người Việt Nam là: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” Triết lý nhân sinh của dân tộc:

“Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Tư duy chính trị được phản ánh: “Nước mất thì nhà tan Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”

Văn hóa Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo Đó là nền văn hóa trọng đạo lý làm người, đề cao trách nhiệm cá nhân với cộng đồng mà hàng đầu là bổn phận đối với Tổ quốc

Văn hóa Việt Nam “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc", hướng về dân, lấy dân làm gốc, “Chở thuyền là dân, lật thuyền là dân Lật thuyền mới biết dân như nước” Lịch sử Việt Nam đã từng chứng kiến “Hội nghị Diên Hồng”, những kiểu “tập hợp bốn phương manh lệ”, “Phụ tử trên dưới một lòng, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” Văn hóa Việt Nam là nền vãn hóa khoan dung hòa hợp hòa đồng Điểm này có nguồn gốc từ cội rễ của văn hóa Việt Nam là mọi người Việt Nam cỗi gốc tích, tổ tiên chung Điều này đã được Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh khi nói về con Lạc cháu Hồng, con Rồng cháu Tiên Người nhấn mạnh:

“Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam

Kể năm hơn bốn ngàn năm,

Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa

Hồng Bàng là tổ nước ta

Nước ta lúc đó gọi là Văn Lang”

Trang 6

Hai là, tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây

Văn hóa phương Đông trong đó có Nho giáo, Phật giáo, bên cạnh nhiều điều không hợp lý, có nhiều điểm tích cực

Chẳng hạn thuyết Đại đồng và tư tưởng bình đẳng về tài sản của Nho giáo Theo Khổng Tử, “thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng Người ta không sợ thiếu chỉ sợ

có không đều” Quan điểm "nước lấy dân làm gốc" (quốc dĩ dân vi bản) là của Nho giáo Trong Phật giáo cũng có những điểm hay Ví dụ tư tưởng “đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn”, “cầu đồng tồn dị” (tìm cái chung chế ngự cái khác biệt) mang sức mạnh đoàn kết Văn hóa phương Tây được Hồ Chí Minh khai thác ngay từ lúc còn học trên ghế Trường Quốc học Sau này trong ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài Người đã chọn lọc những hạt nhân hợp lý trong Tuyên ngôn độc lập của cách mạng tư sản Mỹ trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền từ cách mạng, tư sản Pháp Người đã học được

tư tưởng, phong cách dân chủ phương Tây, khai thác tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, chủ nghĩa nhân văn từ các triết gia tư sản trong Thế kỷ ánh sáng Giá trị văn hóa phương Tây đã góp phần làm giàu trí tuệ Hồ Chí Minh

Ba là, tư tưởng đoàn kết trong học thuyết Mác - Lênin

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn của tư tưởng đoàn kết trong học thuyết Mac - Lênin Cách mạng Nga chỉ

ra rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nhân dân là người làm nên lịch sử Giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng phải đi từ chiến lược “giai cấp vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” tới chiến lược “giai cấp vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị

áp bức đoàn kết lại!” Đoàn kết trong học thuyết Mác - Lênin lấy giai cấp công nhân và nông dân làm nền tảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế Lênin là tấm gương sáng chói về thực hành đoàn kết, đoàn kết trong nước, đoàn kết quốc tế hiện thân cho tình anh em bốn bể Có thể nói những quan điểm đoàn kết trong học thuyết Mác - Lênin là cơ sở tư tưởng lý luận quan trọng nhất, bởi nó không chỉ trang bị thế giới quan, phương pháp luận, mà còn chỉ ra những phương hướng rõ ràng trong quá trình thực hiện đoàn kết

Bốn là, phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh

Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết cùng với những nội dung

về lý luận tư tưởng, phải kể tới những phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh trên các phương diện đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh Hồ Chí Minh là lãnh tụ quyết tâm suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, đến khi phải từ biệt thế giới này, không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa Người thương dân, trọng dân, kính dân, tin tưởng nhân dân: hiểu rõ dân tình, dân tâm, dân ý, chú trọng tới dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ Vì vậy Người được dân tin, dân phục, dân yêu

Lòng thương yêu nhân dân là điểm tựa cho mọi sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc

tổ chức và thực hiện nhiệm vụ đoàn kết dân tộc

Trang 7

Cơ sở thực tiễn

Trên cơ sở thực tiễn các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tổng kết và rút ra những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào này, trong đó có kinh nghiệm về thực hiện đoàn kết lực lượng cách mạng Đây là

cơ sở quan trọng, cần thiết cho việc hoàn thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã phân tích nguyên nhân thất bại của các cuộc đấu tranh trong nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Dưới ngọn cờ Cần Vương

và các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam chưa thật sự có đường lối đúng đắn, có tổ chức chặt chẽ, có đoàn kết rộng rãi Hồ Chí Minh rút ra rằng đã làm cách mạng, dù là cách mạng tư sản như cách mạng Mỹ 1776, cách mạng tư sản Pháp 1789 hay vô sản, thì điều chủ chốt là “dân chúng công nông là gốc cách mạng Cách mạng thì có tổ chức rất vững bền mới thành công Đàn bà trẻ con cũng giúp làm việc cách mạng được nhiều Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại” Nghiên cứu thực tế phong trào cách mạng ở Trung Quốc, Ấn

Độ và ở Pháp, Hồ Chí Minh tìm thấy ở đó nhiều bài học rất bổ ích về tập hợp lực lượng tiến bộ để tiến hành cách mạng

Phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa trên thế giới chưa giành được thắng lợi không phải vì thiếu lòng yêu nước, căm thù bọn xâm lược, mà thiếu lực lượng lãnh đạo, thiếu tổ chức, chưa biết đoàn kết phạm vi trong nước và trên thế giới Vì vậy, muốn giành được thắng lợi như cách mạng Nga năm 1917 thì phải dân chúng công nông làm

gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất

1.2 Vai trò đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng

a.Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là sách lược hay thủ đoạn chính trị mà là chiến lược lâu dài, nhất quán của cách mạng Việt Nam Người nói rõ: “Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” Đây là vấn đề mang tính sống còn của dân tộc Việt Nam nên chiến lược này được duy trì cả trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong mỗi giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp đại đoàn kết có thể và cần thiết phái điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau song không bao giờ được thay đổi chủ trương đại đoàn kết toàn dấn tộc, vì đó là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng

Từ thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chỉ Minh đã khái quát thành nhiều luận điểm mang tính chân lý về vai trò và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”, “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết

là tháng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”, “Bây giờ còn một

Trang 8

điều rất quan trọng, cũng là điểm mẹ Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết” Người đã đi đến kết luận:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”

b.Đại đoàn kết toàn dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng

Việt Nam

Đối với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không chỉ là khấu hiệu chiến lược mà còn là mục tiêu lâu dài của cách mạng Đàng là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam nên tất yếu đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và nhiệm

vụ này phải dược quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn của Đảng Trong lời kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Mục đích của Dàng Lao động Việt Nam cố thể gồm trong tám chữ là: ĐOẢN KẾT TOÀN DẢN, PHỤNG Sự TỔ QUỐC” Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng Đại đoàn kết

là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng bởi nếu không đoàn kết thì chính họ sẽ thất bại trong cuộc đấu tranh vì lợi ích của chính mình Nhận thức rõ điều đó, Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tinh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối dại đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người

1.3 Lực lượng khối đại đoàn kết dân tộc

1.3.1 Chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc

Chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, theo Hồ Chí Minh bao gồm toàn thể nhân dân, tất cả những người Việt Nam yêu nước ở các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội, các ngành, các giới, các lứa tuổi, các dân tộc, đồng bào các tôn giáo, các dàng phái, v.v

“Nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa được hiểu với nghĩa là con người Việt

Nam cụ thể, vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân và cả hai đều là chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Nói đại đoàn kết toàn dân tộc tức là phải tập hợp,

đoàn kết được tất cả mọi người dân vào một khối thống nhất, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, ở trong nước hay

ở ngoài nước cùng hướng vào mục tiêu chung, “ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng

sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” Từ “ta” ở đây là chủ thể, vừa

là Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, vừa là mọi người dân Việt Nam nói chung

Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa giai cấp, dân tộc để tập hợp lực lượng, không bỏ sót một lực lượng nào miễn là họ có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ Tổ quốc, không phản bội lại quyền lợi của nhân dân Tư tưởng của Người đã định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

Trang 9

tộc trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải xác định rõ đâu là nền tảng của khối đoàn kết toàn dân tộc và những lực lượng nào tạo nên nền tảng đó Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền, gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” Như vậy, lực lượng làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo quan điểm của Hồ Chí Minh là công nhân, nông dân và trí thức Nền tảng này càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng có thể mở rộng, khi ấy không có thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải đặc biệt chú trọng yếu tố “hạt nhân” là sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng vì đó là điều kiện cho sự đoàn kết ngoài xã hội Sự đoàn kết của Đảng càng được củng cố thì sự đoàn kết toàn dân tộc càng được tăng cường, Đảng đoàn kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân

đã tạo nên sức mạnh bên trong của cách mạng Việt Nam để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng

1.4 Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

Một là, nâng cao nhận thức về vai trò, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để các cấp, các ngành, các lực lượng, mọi người dân nhận thức rõ và đúng về sự cần thiết của tăng cường đại đoàn kết toàn dân Tuyên truyền, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, mọi người Việt Nam nhận thức sâu sắc lời căn dặn trong

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” Đồng thời, phải quán triệt

và thực hiện lời dạy của Người: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước

ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi ” Quán triệt

và thực hiện quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách về dân tộc, tôn giáo, chính sách xã hội nhằm khuyến khích, động viên, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hoàn thiện những chính sách cụ thể, quan tâm các tầng lớp, giai cấp trong xã hội, như: công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi; các chính sách xã hội, nhất là chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với cách mạng, tạo điều kiện để họ khắc phục khó khăn, bảo đảm cuộc sống, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, v.v Phổ biến và thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở, giải quyết tốt những vấn đề xã hội bức xúc Các cấp ủy đảng và

Trang 10

chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tin dân và tôn trọng dân Hoàn thiện hệ thống pháp luật để “bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, nhân dân thực sự làm chủ, được bày tỏ nguyện vọng của mình thông qua Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Cấp ủy đảng, Mặt trận Tổ quốc các cấp và các đoàn thể tham gia tuyên truyền sâu rộng để mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch lợi dụng những mặt còn hạn chế, yếu kém của các cấp chính quyền và vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Từ đó, nâng cao tinh thần cảnh giác, sự nhạy bén trong nhận diện và tích cực tham gia đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch

Hai là, tăng cường vai trò của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước hướng vào tăng cường củng

cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc Thông qua đường lối, chính sách, pháp luật, tạo cơ sở cho sự thống nhất các lợi ích, thống nhất về ý chí và hành động của các giai cấp, tầng lớp, nhất là giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cùng Đảng, Nhà nước chăm

lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, quản lý xã hội; thường xuyên tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước” Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể phải là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

để nhân dân tin tưởng, chủ động phản ánh, góp ý kiến, tham gia bàn bạc những vấn đề quan trọng của đất nước Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phải chủ động phối hợp với chính quyền giải quyết triệt để những vấn đề xã hội bức xúc, lợi ích chính đáng của nhân dân trên cơ sở tin nhân dân và tôn trọng nhân dân

Tăng cường vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể để tạo sự đồng thuận, nhất trí cao, ổn định xã hội, phát triển toàn diện và bền vững đất nước

Ba là, phát huy vai trò của nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc

Trân trọng, tôn vinh những đóng góp, công hiến của nhân dân; có cơ chế chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài Tôn vinh những doanh nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước “Xóa bỏ rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân ” Có cơ chế, chính sách phù hợp, tạo thuận lợi cho thế hệ trẻ học tập, nghiên cứu, lao động, giải trí, phát triển trí tuệ, kỹ năng, thể lực để cống hiến cho đất nước Tôn trọng và tạo điều kiện, cơ hội để nhân dân tham gia thảo luận, góp ý những vấn đề quan trọng của đất nước

Trang 11

“Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo” Quán triệt, thực hiện

tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “ vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”; “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì

ta đoàn kết với họ” để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới; hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Đối với đồng bào định cư ở nước ngoài, cần có chính sách hỗ trợ bà con ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước Đồng thời, “ tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; có cơ chế, chính sách thu hút đồng bào hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng

và bảo vệ đất nước”

Tiếp tục thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhân dân để phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng cho bản thân, cho gia đình, nêu cao tính cộng đồng và truyền thống nhân ái, tham gia xóa đói giảm nghèo

1.5 Hình thức, nguyên tắc tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc-mặt trận dân tộc thống nhất

1.5.1 Mặt trận dân tộc thống nhất

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở những lời kêu gọi, những lời hiệu triệu mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, phải trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân tộc Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, trở thành lực lượng vật chất có tổ chức Tổ chức đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất

Toàn dân tộc chỉ trở thành lực lượng to lớn, có sức mạnh vô địch trong đấu tranh bảo

vệ và xây dựng Tổ quốc khi được tập hợp, tổ chức lại thành một khối vững chắc, được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn Nếu không được như vậy, thì quần chúng nhân dân dù có đông tới hàng triệu, hàng trăm triệu con người cũng chỉ là một số đông không có sức mạnh

Thất bại của các tổ chức yêu nước và giải phóng dân tộc ở Việt Nam trước khi Đảng

ta ra đời đã chứng minh rất rõ điều này

Về một phương diện nào đó, có thể khẳng định rằng, quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh cũng là quá trình tìm kiếm mô hình và cách thức tổ chức quần chúng nhân dân, nhằm tạo sức mạnh cho quần chúng trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình và giải phóng xã hội Chính vì vậy, ngay sau khi tìm thấy con đường cứu nước,

Hồ Chí Minh đã rất chú ý đưa quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với từng giai cấp, từng ngành nghề, từng giới, từng lứa tuổi, từng tôn giáo, phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng Đó có thể là các hội ái hữu hay tương trợ, công hội

Ngày đăng: 03/12/2022, 23:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w