BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM 2 ĐỀ BÀI 05 Hà Nội, 2021 Bài tập 5 HỌ TÊN Nguyễn Quang Minh MSSV 432548 LỚP N02 NHÓM 05 Câu 1 Phân tích những quy định r.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 3Câu 1: Phân tích những quy định riêng của BLLĐ năm 2019 về lao động chưa thành niên?
Câu 2: Do có 2 con nhỏ lại làm công việc bán hàng nên chị Hoa (Cầu Giấy, Hà Nội)
đã thuê cháu B, 16 tuổi, quê ở tỉnh TB làm công việc giúp việc gia đình Hai bên có thỏa thuận cháu B thử việc 10 ngày Hết thời hạn thử việc, chị Hoa có thỏa thuận miệng với cháu B là làm giúp việc cho chị thời hạn 1 năm, mức lương 4 triệu đồng/tháng, mỗi tháng được nghỉ 4 ngày
Hỏi:
1 Nhận xét về việc giao kết hợp đồng lao động giữa chị Hoa và cháu B?
2 Giả sử Chị Hoa gặp khó khăn về kinh tế nên không có điều kiện để thuê cháu B giúp việc gia đình nữa Vậy chị Hoa phải tuân theo thủ tục nào để chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp với cháu B? Cháu B được hưởng những quyền lợi nào?
3 Nếu cháu B không đồng ý với việc chấm dứt hợp đồng lao động cũng như việc thanh toán quyền lợi của chị Hoa thì cháu B có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào
để yêu cầu giải quyết?
Trang 5MỤC LỤC Câu 1: Phân tích những quy định riêng của BLLĐ năm 2019 về lao động chưa thành niên? 1
1 Sửa đổi về định nghĩa lao động chưa thành niên 1
2 Mở rộng các quy định bảo về người lao động chưa thành niên ở khu vực phi chính thức 1
3 Quy định rõ ràng ,đầy đủ công việc, nơi làm việc và nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên 2
4 Bổ sung trách nhiệm của người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để người lao động chưa thành niên được giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề 4
Câu 2: Giải quyết tình huống 5
1 Nhận xét về việc giao kết hợp đồng lao động giữa chị Hoa và cháu B? 5
2 Giả sử Chị Hoa gặp khó khăn về kinh tế nên không có điều kiện để thuê cháu B giúp việc gia đình nữa Vậy chị Hoa phải tuân theo thủ tục nào để chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp với cháu B? Cháu B được hưởng những quyền lợi nào? 8
3 Nếu cháu B không đồng ý với việc chấm dứt hợp đồng lao động cũng như việc thanh toán quyền lợi của chị Hoa thì cháu B có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để yêu cầu giải quyết? 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14 BÀI TẬP CÁ NHÂN 17
Trang 7đe dọa đến sức khỏe, an toàn của trẻ em Để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên, Bộ luật lao động năm 2019 đã có những điều chỉnh nhất định để bảo vệ nhóm lao động này
1 Sửa đổi về định nghĩa lao động chưa thành niên
Điều 143 Bộ luật lao động năm 2019 đưa ra định nghĩa về lao động chưa thành
niên đó là: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi” So với
quy định tại Bộ luật lao động năm 2012 thì độ tuổi lao động chưa thành niên được sửa từ “dưới 18 tuổi” thành “chưa đủ 18 tuổi” để phù hợp hơn với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 Sự thay đổi này đảm bảo sự thống nhất của pháp luật vì ngữ nghĩa của hai từ này giống nhau
Hiện nay, định nghĩa người lao động của Bộ luật lao động năm 2019 cũng đã
bỏ dấu hiệu nhận diện là “từ đủ 15 tuổi” mà thay bằng quy định riêng về độ tuổi lao
động tối thiểu (trừ ngoại lệ tại Mục 1 Chương XI về lao động chưa thành niên) giúp đảm bảo phù hợp hơn với quy định cũ tại Bộ luật lao động năm 2012, khắc phục tình trạng mâu thuẫn khi xác định nội hàm khái niệm người lao động chưa thành niên Kết hợp định nghĩa về người lao động tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động có thể hiểu, người lao động chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động
2 Mở rộng các quy định bảo về người lao động chưa thành niên ở khu vực phi chính thức
So với bộ luật lao động năm 2012 thì đối tượng điều chỉnh theo quy định tại Bộ luật lao động năm 2019 quy định thêm cụ thể tại Khoản 6 Điều 3 Bộ luật lao động
năm 2019 thì “người làm việc không có quan hệ lao động là người làm việc không
trên cơ sở thuê, mướn bằng hợp đồng lao động” Đồng thời nhấn mạnh mặc dù chế
Trang 8hộ gia đình không hưởng lương Như vậy, mở rộng phạm vi áp dụng đối với những người làm việc không có quan hệ lao động sẽ có hiệu quả tăng cường phòng, chống lao động trẻ em
3 Quy định rõ ràng ,đầy đủ công việc, nơi làm việc và nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
Điều 144 Bộ luật lao động năm 2019 quy định nguyên tắc “lao động chưa
thành niên chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách” Đồng thời Điều 143 đã cụ thể hóa công việc phù hợp
với các nhóm tuổi đó là:
– Đối với người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi
Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi được làm các công việc mà người thành niên được làm tuy nhiên có bổ sung giới hạn là những công việc hoặc nơi làm việc quy định tại Điều 147 Bộ luật lao động năm 2019 Nhìn chung có thể thấy pháp luật bảo
vệ người đã đủ độ tuổi lao động tối thiểu là 15 tuổi song chưa thành niên (chưa đủ
18 tuổi) khỏi các công việc có tính chất nặng nhọc độc hại hoặc nguy hiểm do các công việc này vượt quá thể trạng của trẻ em đồng thời bảo vệ khỏi những nơi làm việc có môi trường làm việc không đảm bảo
So với quy định tại Bộ luật lao động năm 2012 thì Bộ luật lao động năm 2019
đã bổ sung thêm nhóm công việc bị cấm là sản xuất, kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc
lá, chất tác động đến tinh thần hoặc chất gây nghiện khác và nơi làm việc bị cấm là địa điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử để phù hợp với thực tế sử dụng lao động chưa thành niên hiện nay
Nhưng quy định của pháp luật khó có thể bao hàm được hết mội ngành nghề
có tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cho trẻ em do sự vận động và hình thành
Trang 93
ngày càng phong phú, đa dạng của nhiều loại hình công việc Để khắc phục những nguy cơ nói trên, các cơ quan có thẩm quyền cần phải thường xuyên rà soát và điều chỉnh các danh mục công việc cho phù hợp
– Đối với người lao động chưa đủ 15 tuổi
Bộ luật lao động năm 2019 quy định người chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm những công việc theo danh mục mà pháp luật quy định Cụ thể người dưới 13 tuổi chỉ được làm các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và phải được sự đồng ý của Sở lao động thương binh
xã hội Còn người từ đủ 13 đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao và các công việc nhẹ khác theo danh mục do Bộ trưởng Bộ lao động thương binh xã hội ban hành
Như vậy, với nhóm người chưa đủ 15 tuổi (dưới độ tuổi lao động tối thiểu), hiện nay Bộ luật lao động chỉ quy định cho phép sử dụng làm các công việc theo danh mục quy định với đặc thù của các công việc này là nhẹ nhàng và không có khả năng ảnh hưởng tới sức khỏe hoặc sự phát triển của trẻ em Riêng đối với nhóm công việc làm diễn viên và vận động viên năng khiếu được quy định về độ tuổi lao động tối thiểu do đặc trưng là hoạt động nghệ thuật và thể thao giúp rèn luyện vè thể lực, trí lực và phát triển năng khiếu trẻ em
Ngoài ra quan điểm điều chỉnh pháp luật về lao động chưa đủ 13 tuổi cũng có
sự thay đổi qua các quy định về thủ tục quản lý nhà nước đối với vấn đề này Cụ thể, thay vì chỉ cần báo cáo với Sở Lao động – Thương binh và xã hội như trước đây, người sử dụng lao động lao động thuê mướn người lao động chưa đủ 13 tuổi thì phải đăng ký và được cơ quan nhà nước đồng ý Điều này phù hợp quy định của Tổ chức lao động quốc tế tại công ước số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu theo đó công việc biểu diễn nghệ thuật mặc dù là ngoại lệ về sử dụng lao động trẻ em song cơ quan có thẩm quyền phải cấp giấy phép cho từng trường hợp cụ thể Sự thay đổi trên cũng phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật do trong thời gian qua sảy ra nhiều hiện tượng đơn vị sử dụng lao động dưới 13 tuổi có nhiều tranh cãi vì tính chất công việc
có tính chất nhạy cảm, có khả năng ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ
em
Như vậy so với Bộ luật lao động năm 2012 thì Bộ luật lao động năm 2019 quy định chặt chẽ hơn về chủ thể giao kết hợp đồng với người dưới 13 tuổi chặt chẽ hơn Ngoài ra quy định về sự tham gia của người đại diện với tư cách là người liên quan (khi người lao động đủ 15 tuổi) hay là một bên trong hợp đồng lao động (khi người
Trang 104
lao động chưa đủ 15 tuổi) đều thể hiện việc người chưa thành niên còn bị hạn chế một phần năng lực hành vi khi giao kết hợp đồng lao động nên cần sự trợ giúp của cha mẹ, người giám hộ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích cho người lao động
4 Bổ sung trách nhiệm của người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để người lao động chưa thành niên được giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề
Bộ luật lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc người chưa thành niện về mặt học tập trong quá trình lao động Việc bổ sung trách nhiệm của người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để lao động chưa thành niên được giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ
kỹ năng nghề so với quy định của Bộ luật lao động năm 2012 cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đến quyền của người chưa thành niên đươc tham gia vào hoạt động giáo dục nghề nghiệp
Khoản 4 Điều 61 của Bộ luật lao động năm 2019 quy định thanh thiếu niên khi học nghề, tập nghề phải đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu học nghề, tập nghề Ngoài ra Bộ luật lao động năm 2019 cũng có điểm mới đó
là đã có sự phân hóa độ tuổi học nghề, tập nghề theo điều kiện lao động và tính chất công việc
Trên đây là những điểm mới về quy định đối với lao động chưa thành niên theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019, người sử dụng lao động và người lao động nên lưu ý để thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
Trang 115
Câu 2: Giải quyết tình huống
1 Nhận xét về việc giao kết hợp đồng lao động giữa chị Hoa và cháu B?
a Về thời gian thử việc
Theo như dữ liệu của đề bài, trước khi giao kết hợp đồng lao động chính thức, chị Hoa có thỏa thuận với cháu B để cháu B thử việc trong thời gian là 10 ngày Xét theo quy định tại Điều 251 của Bộ Luật lao động 2019 về thời gian thử việc,
có thể thấy công việc giúp việc nhà của cháu B có tính chất và mức độ phức tạp không cao, không đòi hỏi trình độ chuyên môn, ky thuật, đồng thời không thuộc các trường hợp cụ thể được quy định tại Khoản 1, 2 và 3 của Điều này Vì vậy, thời gian thử việc tối đa mà chị Hoa có thể thỏa thuận với cháu B đối với công việc giúp việc gia đình là 06 ngày2
Do đó, việc chị Hoa để cháu B thử việc 10 ngày, vượt quá thời gian thử việc tối đa mà pháp luật lao động cho phép đối với công việc của cháu B (tối đa 06 ngày),
đã vi phạm quy định về thời gian thử việc tại Điều 25 Bộ Luật lao động 2019
b Về nội dung của hợp đồng
Theo dữ liệu của đề bài, hợp đồng lao động giữa chị Hoa và cháu B có nội dung như sau: cháu B là làm công việc giúp việc gia đình cho chị Hoa, thời hạn là 1 năm, mức lương 4 triệu đồng/tháng, mỗi tháng được nghỉ 4 ngày
Về số ngày nghỉ mỗi tháng:
Theo quy định tại Chương VII Bộ Luật lao động 2019, cụ thể là với quy định tại Khoản 1 Điều 1113 Luật này, có thể hiểu thời gian nghỉ tính bình quân 01 tháng của người lao động tối thiểu là 04 ngày
Như vậy, số ngày nghỉ trong nội dung của hợp đồng như trên (04 ngày) đã đảm bảo quy định về số ngày nghỉ mỗi tháng quy định của Bộ luật Lao động 2019
Về mức lương:
1 Điều 25 Thời gian thử việc
Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:
1 Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;
2 Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
3 Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;
4 Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác
2 Khoản 4 Điều 25 Bộ Luật lao động 2019
3 Điều 111 Nghỉ hằng tuần
1 Mỗi tuần, người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hằng tuần thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày
Trang 126
Mức lương mà chị Hoa trả cho cháu B không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố Theo đó, tiền lương mà chị Hoa đã thỏa thuận với cháu B trong hợp đồng lao động phải bao gồm mức lương theo công việc, phụ cấp lương, khoản tiền bằng mức đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và các khoản bổ sung khác (nếu có)4 Mức lương theo công việc bao gồm cả chi phí tiền ăn, ở của cháu B tại nhà chị Hoa (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố5 Chị Hoa và cháu B thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của cháu B (nếu có), nhưng tối đa không quá 50% mức lương theo công việc ghi trong hợp đồng lao động Ngoài ra, hai bên cần thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương và kỳ hạn trả lương6
Vì vậy, với mức lương 4 triệu đồng/tháng mà chị Hoa trả cho cháu B, nếu chị Hoa đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên thì mức lương đó được coi là hợp lý và hợp pháp
Về thời hạn của hợp đồng:
Khoản 2 Điều 162 Bộ Luật lao động 2019 quy định: “Thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình do hai bên thỏa thuận” Như vậy, thời hạn 1 năm như trong hợp đồng lao động mà chị Hoa đã thỏa thuận với cháu
B là hợp pháp
c Về hình thức của hợp đồng
với lao động là người giúp việc gia đình, trong đó quy định người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình
Như vậy, trong trường hợp này, để thực hiện đúng quy định của pháp luật, khi nhận cháu B vào làm giúp việc gia đình thì chị Hoa phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với cháu B, trong hợp đồng phải nêu rõ về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc, chỗ ở,…
7 Điều 162 Hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình
1 Người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình
2 Thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình do hai bên thỏa thuận Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất kỳ khi nào nhưng phải báo trước ít nhất 15 ngày
3 Hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở
Trang 137
Vì vậy, việc chị Hoa chỉ thỏa thuận miệng với cháu B để nhận cháu B vào làm
giúp việc cho gia đình mình mà không lập thành văn bản là sai quy định của pháp
luật lao động đối với người lao động là giúp việc gia đình
Thứ hai, theo nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên được quy định tại
Điều 1448 Bô Luật lao động 2019, tại Khoản 3 có quy định khi sử dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ
Trong trường hợp trên, cháu B (16 tuổi) là người chưa thành niên Để thực hiện giao kết hợp đồng lao động và nhận cháu B vào làm việc đúng với nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên, chị Hoa phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ của cháu B, sự đồng ý này phải được thể hiện bằng văn bản ghi nhận sự đồng ý cho cháu B tham gia lao động
Vì vậy, việc chị Hoa chỉ thỏa thuận miệng với cháu B để nhận cháu làm giúp việc cho chị mà không có sự đồng ý của cha, mẹ hay người giám hộ của cháu B là
vi phạm nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
Qua đó, ta thấy trong tình huống đề bài, việc chị Hoa thỏa thuận miêng để nhận
cháu B chưa thành niên vào làm giúp việc gia đình đã vi phạm 2 quy định của pháp
luật lao động, cụ thể là quy định đối với lao động là người giúp việc gia đình (người
sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là
niên (khi sử dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải có sự
Việc thực hiện sai các quy định như trên có thể xuất phát từ sự thiếu hiểu biết pháp luật của cả chị Hoa và cháu B Tuy sự việc có lẽ không nghiêm trọng nhưng nếu xảy ra tranh chấp hay bị cơ quan nhà nước kiểm tra đột xuất thì chị Hoa sẽ phải chịu những chế tài xử phạt hành chính do vi phạm các quy định pháp luật nêu trên
1 Lao động chưa thành niên chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách
2 Người sử dụng lao động khi sử dụng lao động chưa thành niên có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động
về các mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động
3 Khi sử dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ; lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu
4 Người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để lao động chưa thành niên được học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề
9 Khoản 1 Điều 162 Bộ Luật lao động 2019
10 Khoản 3 Điều 144 Bộ Luật lao động 2019
Trang 148
2 Giả sử Chị Hoa gặp khó khăn về kinh tế nên không có điều kiện để thuê cháu
B giúp việc gia đình nữa Vậy chị Hoa phải tuân theo thủ tục nào để chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp với cháu B? Cháu B được hưởng những quyền lợi nào?
Giả sử việc giao kết hợp đồng lao động giữa chị Hoa với cháu B là đúng với quy định của pháp luật Từ giả thiết trên, có thể hiểu việc chị Hoa muốn chấm dứt hợp đồng lao động với cháu B là tại thời điểm chưa hết thời hạn 1 năm theo như giao kết trong hợp đồng Vì nếu đã hết thời hạn 1 năm thì hợp đồng lao động giữa chị Hoa và cháu B sẽ tự động chấm dứt
Trong bài làm này, ta sẽ chỉ xét đến trường hợp chị Hoa đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động chứ không xét trường hợp thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động Vì lý do chấm dứt hợp đồng là chị Hoa gặp khó khăn về kinh tế nên không có điều kiện thuê cháu B giúp việc gia đình nữa, nên có thể hiểu về mặt ý chí là chỉ có chị Hoa có nhu cầu chấm dứt hợp đồng lao động, còn cháu B thì không có nhu cầu
đó Do đó việc để chị Hoa đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là để đảm bảo những quyền lợi mà cháu B nhận được khi hợp đồng lao động chấm dứt
Căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động:
Về căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động, theo quy định về hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình tại Khoản 2 Điều 16211 Bộ Luật lao động 2019, chị Hoa có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với cháu B bất kỳ khi nào, nhưng vì không có lý do thuộc các trường hợp được pháp luật quy định nên chị Hoa sẽ phải phải báo trước cho cháu B ít nhất 15 ngày trước khi cho cháu B nghỉ việc
Thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động:
Thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động là những quy định về trình tự mà người
sử dụng lao động phải tuân thủ khi chấm dứt hợp đồng lao động Việc quy định chấm dứt hợp đồng lao động phải theo đúng quy trình mà pháp luật quy định có ý nghĩa quan trọng Bởi trong quá trình thực hiện thủ tục này, các bên cũng sẽ xem lại, cân nhắc quyết định của mình Chính vì thế, mà thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động
11 Điều 162 Hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình
2 Thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình do hai bên thỏa thuận Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất kỳ khi nào nhưng phải báo trước ít nhất 15 ngày