MÔN LUẬT LAO ĐỘNG Họ và tên Hoàng Dương Huy MSSV 4435025 NHÓM 3 LỚP K4435A BMT 2021 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ĐỀ SỐ 3 Câu 1 (4 điểm) Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 về thư.
Trang 1MÔN: LUẬT LAO ĐỘNG
Họ và tên : Hoàng Dương Huy MSSV:4435025
NHÓM:3 LỚP: K4435A
BMT 2021
BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2ĐỀ SỐ 3:
Câu 1 (4 điểm): Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 về thương lượng
tập thể?
Câu 2 (6 điểm):
Ngày 01/4/2017, tại công ty Corman Pacific Việt Nam (100% vốn nước ngoài,
trụ sở tại quận 1, Tp HCM), giám đốc công ty và ông Trần Văn Cường ký Hợp đồng
6
lao động không xác định thời hạn; Chức danh: Trưởng đại diện Văn phòng Đà Nẵng; mức lương 5.000 USD bao gồm lương cơ bản, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp Ông Cường có trách nhiệm điều hành hoạt động kinh doanh của Văn
phòng đại diện Corman Pacific khu vực miền Trung Tây Nguyên
Năm 2021, do tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp, công ty Corman Pacific Việt Nam quyết định chấm dứt hoạt động của văn phòng đại diện tại Đà Nẵng
Vì vậy, công ty có nhu cầu chấm dứt hợp đồng lao động với ông Cường và 10 nhân viên
khác của văn phòng đại diện Ông Cường không hợp tác trong việc tiến hành các thủ tục
để chấm dứt hoạt động của văn phòng đại diện và có đơn gửi các cơ quan có thẩm quyền
yêu cầu giải quyết tranh chấp Hỏi:
1 Nhận xét về mức lương của ông Cường trong HĐLĐ?
2 Công ty Corman Pacific Việt Nam có căn cứ để chấm dứt HĐLĐ với ông Cường
và các nhân viên khác không?
3 Tư vấn thủ tục cho công ty Corman Pacific Việt Nam để chấm dứt HĐLĐ với công Cường?
4 Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp?
Trang 3A.MỞ ĐẦU
Thương lượng tập thể được luật hóa trong Bộ luật Lao động đầu tiên của Việt Nam từ năm 1994, trong đó công đoàn được trao quyền đại diện cho người lao động tham gia TLTT với người sử dụng lao động) Từ đó đến nay, công đoàn thực hiện TLTT theo cách đứng ở giữa người lao động (NLĐ) và NSDLĐ, lấy ý kiến người lao động về các vấn đề thương lượng, đại diện cho
cả hai bên lựa chọn và quyết định các nội dung phù hợp để thương lượng và
cố gắng đưa mong muốn của hai bên xích lại gần nhau TLTT như vậy được gọi là thương lượng cầu nối Thương lượng cầu nối là di sản hoạt động công đoàn trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, trong đó không có thuật ngữ
“quan hệ lao động hai bên”, và công đoàn có vai trò giải quyết bất đồng giữa người quản lý và người lao động, giữa những người quản lý và giữa những người lao động với nhau, dựa trên quy định của pháp luật và với tư duy hợp tình hợp lý cho tất cả mọi người trong đơn vị Bước vào nền kinh tế thị
trường, theo quy định pháp luật, công đoàn là tổ chức đại diện cho NLĐ, nhưng sự phân biệt đối xử và can thiệp thao túng cản trở công đoàn đứng hẳn về bên NLĐ và cản trở TLTT thực chất, buộc công đoàn tiếp tục sử dụng thương lượng cầu nối Thương lượng cầu nối làm cho sự tham gia của người lao động thụ động, chủ yếu là cung cấp thông tin cho công đoàn Bản thân người lao động cũng chưa hiểu biết về quyền TLTT của họ và chưa ý thức sử dụng quyền này trong xác lập mối quan hệ tại nơi làm việc Mặc dù vậy, sự tham gia thụ động của NLĐ vẫn đóng vai trò quyết định kết quả thương lượng
B.NÔI DUNG
I Khái quát về thương lượng tập thể
1 Định nghĩa về thương lượng tập thể
Thương lượng là một phần của đời sống hàng ngày Tại nơi làm việc thương lượng là cơ sở cho việc tìm kiếm sự cân bằng giữa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động và tiến tới các điều kiện và phạm vi việc làm chấp nhận được đối với hai bên trong quan hệ lao động
Theo Điều 65 Bộ luật lao động năm 2019 đã đưa ra định nghĩa về thương lượng tập thể như sau:
“Thương lượng tập thể là việc đàm phán, thoả thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với một bên là một hoặc
Trang 4nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về moi quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hoà và ổn định
Theo quy định của pháp luật hiện hành , thương lượng tập thể được hiểu là việc tập thể lao động thảo luận , đàm phán với người sử dụng lao động nhằm để xây dựng quan hệ lao dộng hài hoà và tiến bộ , xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để ký kết thoả ước lao động tập thể , để giải quyết những vướng
mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan
hệ lao động
Trong quan hệ lao động , thương lượng được hiểu là quá trình thoả thuận nhằm đạt tới sự thông nhất ý chí giữa NSDLĐ và NLĐ Có 2 hình thức thương lượng trong quan hệ lao động , thứ nhất là thương lượng cá nhân giữa NLĐ và
NSDLĐ về những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động cá nhân xác lập trên
cơ sở hợp đồng lao động , thứ hai là thương lượng tập thể diễn ra giữa một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức dại diện người sử dụng lao động nhằm hướng tới việc thống nhất những vấn đề trong quan hệ lao động mang tính tập thể
2.Chủ thể thương lượng tập thể
Chủ thể thương lượng tập thể gồm hai bên: bên đại diện người lao động và bên người sử dụng lao động
2.1.Bên đại diện người lao động
Tại Việt Nam, chủ thể đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể được qụy định khác nhau trong từng thời kì.Trong Bộ luật lao động 2019 quy định chủ thể thương lượng tập thể cho bên đại diện người lao động là tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là
tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị
sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu thương lượng tập thể khi đạt tỉ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số người lao động trong doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ Trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đáp ứng quy định thì tổ chức có quyền
Trang 5yêu cầu thương lượng tập thể là tổ chức có số thành viên nhiều nhất trong doanh nghiệp Các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khác có thể tham gia thương lượng tập thể khi được tổ chức đại diện người lao động có quyền yêu cầu thương lượng tập thể đồng ý Trường họp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà không có tổ chức nào đáp ứng quy định thì các tổ chức có quyền tự nguyện kết hợp với nhau để yêu cầu thương lượng tập thể nhung tổng số thành viên của các tổ chức này phải đạt tỉ lệ tối thiểu theo quy định (Điều 68 Bộ luật lao động năm 2019)
Đối với thương lượng tập thể ngành, theo quy định tại Điều 72 Bộ luật lao động năm 2019, chủ thể đại diện cho bên người lao động là tổ chức công đoàn ngành Đối với thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thì đại diện
thương lượng là tổ chức đại diện người lao động ở các doanh nghiệp do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở tự nguyện thoả thuận trong hội đồng thương lượng tập thể
2.2 Bên người sử dụng lao động
Bên người sử dụng lao động đại diện thương lượng tập thể có thể là người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật Tuỳ thuộc vào phạm vi thương lượng tập thể mà pháp luật các quốc gia quy định chủ thể đại diện cho bên người sử dụng lao động Theo đó, nếu thương lượng ở cấp doanh nghiệp thì chủ thể đại diện là người sử dụng lao động hoặc đại diện của người sử dụng lao động Còn ở các cấp ngoài doanh nghiệp (ngành, liên ngành, vùng, ) thì chủ thể đại diện cho bên người sử dụng lao động
là tổ chức đại diện của người sử dụng lao động ở các cấp tương ứng
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, thương lượng tập thể ở phạm vi doanh nghiệp, chủ thể đại diện của bên người sử dụng lao động là người sử dụng lao động Thương lượng tập thể ở phạm vi ngành, chủ thể đại diện bên người sử dụng lao động là tổ chức đại diện người sử dụng lao động Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, bao gồm: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA) và các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động khác Thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thì đại diện thương lượng là đại diện những người sử dụng lao động ở các doanh nghiệp do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở tự nguyện thoả thuận trong hội đồng thương lượng tập thể
Số lượng người tham gia thương lượng tập thể của mỗi bên, ở phạm vi một hoặc nhiều doanh nghiệp, hoàn toàn do các bên thoả thuận Thành phần tham gia
Trang 6thương lượng tập thể của mỗi bên do các bên tự quyết định Trường hợp thương lượng tập thể ngành thì số lượng và thành phần đại diện thương lượng do tổ chức công đoàn ngành và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp ngành quyết định (Điều 72 Bộ luật lao động năm 2019)
3.Nội dung thương lượng tập thể
Theo quy định Điều 67 Bộ Luật Lao Động năm 2019 về nội dung của thương
lượng tập thể:
Các bên thương lượng lựa chọn một hoặc một số nội dung sau để tiến hành thương lượng tập thể:
1 Tiền lương, trợ cấp, nâng lương, thưởng, bữa ăn và các chế độ khác;
2 Mức lao động và thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca;
3 Bảo đảm việc làm đối với người lao động;
4 Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện nội quy lao động;
5 Điều kiện, phương tiện hoạt động của tổ chức đại diện người lao động; mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động;
6 Cơ chế, phương thức phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động;
7 Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
8 Nội dung khác mà một hoặc các bên quan tâm
Để có căn cứ giúp các bên tiến hành thương lượng và bảo đảm các quyền, lợi ích, nghĩa vụ các bên cũng như phù hợp với lợi ích chung, Điều 67 quy định cụ thể 08 nhóm nội dung thương lượng tập thể, trong đó có 7 nhóm nội dung cụ thể
và cho phép các bên có thể lựa chọn một trong số các nội dung nêu trên để tiến hành thương lượng tập thể Pháp luật lao động cơ bản chỉ quy định khung áp dụng chung theo nguyên lý quyền lợi tối thiểu, nghĩa vụ tối đa đồng thời tạo điều kiện để các bên tự thương lượng khung pháp lý riêng, với các mức cụ thể nhằm phù hợp với thực tế của đơn vị và khả năng, nguyện vọng của hai bên Ngoài các nội dung cụ thể liên quan đến điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động, điều luật còn quy định nội dung mở nhằm tạo điều kiện để các bên có thể thương lượng các nội dung khác mà không bị ràng buộc bởi quy định của
pháp luật Quy định như vậy là hết sức hợp lý, không chỉ bảo đảm quyền tự do
định đoạt trong việc lựa chọn các nội dung cả hai bên đều quan tâm, mà còn giúp bảo đảm hơn quyền và lợi ích các bên phù hợp với điều kiện thực tế Các vấn đề
đó có thể là kỷ luật lao động, định mức lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đồng phục, xe đưa đón công nhân, bảo đảm quyền lợi đối với lao động đặc thù,
Trang 7xử lý các vấn đề liên quan đến việc gửi con nhà trẻ, nhà ở công nhân, việc hiếu
hỷ, việc tổ chức các ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước và của doanh nghiệp… Quy định như vậy còn thể hiện sự phù hợp với xu hướng chung của các nước trên thế giới, vừa tránh sự can thiệp của Nhà nước vào quyền tự chủ của các bên của quan hệ lao động, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại diện các bên, nhất là đại diện tập thể lao động trong việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động
II NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
- Thứ nhất, đưa ra khái niệm mới về thương lượng tập thể
Thay vì quy định mục đích thương lượng tập thể như Bộ luật Lao động năm 2012, thì Điều 65 Bộ luật Lao động năm 2019, đã đưa ra khái niệm thương lượng tập thể, làm cơ sở lý thuyết để quy định các vấn đề nội dung, chủ thể, nguyên tắc, quy trình thương lượng tập thể Theo đó, thương lượng tập thể là việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định
- Thứ hai, bổ sung một số nội dung thương lượng tập thể:
Nếu như Bộ luật Lao động năm 2012 chỉ quy định 5 nội dung thương lượng tập thể tại Điều 70, thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã mở rộng hơn các nội dung thương lượng tập thể Theo đó, bổ sung thêm 3 nội dung quy định tại khoản 5, 6, 7 Điều 67 Đó là nội dung về:
i) Điều kiện, phương tiện hoạt động của tổ chức đại diện người lao động; mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động;
ii) Cơ chế, phương thức phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động; iii) Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi làm việc
- Thứ ba, bổ sung quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người
lao động tại cơ sở trong doanh nghiệp:
Cùng với việc quy định mới tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở - “là
tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao
Trang 8động Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở
và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp” - Điều 68 Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định cụ thể quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong doanh nghiệp (bao gồm tổ chức công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp) Cụ thể:
Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu thương lượng tập thể khi đạt tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số người lao động trong doanh nghiệp theo quỵ định củạ Chính phủ Trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đáp ứng quy định thì tổ chức có quyền yêu cầu thương lượng là tổ chức có số thành viên nhiều nhất trong doanh nghiệp Các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khác có thể tham gia thương lượng tập thể khi được tổ chức đại diện người lao động
có quyền yêu cầu thương lượng tập thể đồng ý Trường hợp doanh nghiệp
có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà không có tổ chức nào đáp ứng quy định thì các tổ chức có quyền tự nguyện kết hợp với nhau
để yêu cầu thương lượng tập thể nhưng tổng số thành viên của các tổ chức này phải đạt tỷ lệ tối thiểu theo quy định
- Thứ tư,bổ sung quy định thời gian thương lượng tập thể và thương lượng tập
thể không thành:
Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy định thời gian thương lượng tập thể Theo đó, thời gian thương lượng tập thể không được quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Quy định như vậy
là phù hợp với thực tế, tránh việc thương lượng kéo dài làm tốn kém thời gian, tiền bạc và không hiệu quả của các bên
Cùng với quy định quy trình thương lượng tập thể rõ ràng hơn và bảo đảm tính khả thi hơn, Bộ luật Lao động năm 2019 còn quy định một điều luật riêng về thương lượng tập thể không thành (Điều 71), nhằm đưa ra hướng giải quyết sau thương lượng Cụ thể: Thương lượng tập thể không thành thuộc một trong các trường hợp: Một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng;
Đã hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng mà các bên không đạt được thỏa thuận; Chưa hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng nhưng các bên cùng xác định và tuyên bố về việc thương lượng tập thể không đạt được thỏa thuận Khi thương lượng không thành, các bên thương lượng tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật này Trong khi
Trang 9đang giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức đại diện người lao động không được
tổ chức đình công
- Thứ năm, bổ sung quy định thương lượng tập thể ngành và thương lượng tập
thể có nhiều doanh nghiệp tham gia:
Trước đây, Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định về thỏa ước lao động tập thể ngành và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, song không quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung thương lượng tập thể ở các phạm vi nàỹ, vì thế việc thực thi trong thực tế có nhiều vướng mắc và không thông nhât Khăc phục bât cập đó, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định cụ thể về thương lượng tập thể ngành và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia Theo đó, nguyên tắc, nội dung thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thực hiện như nguyên tắc thương lượng tập thể nói chung Quy trình tiến hành thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia do các bên thỏa thuận quyết định, bao gồm cả việc thỏa thuận tiến hành thương lượng tập thể thông qua Hội đồng thương lượng tập thể Trường hợp thương lượng tập thể ngành thì đại diện thương lượng là tổ chức công đoàn ngành và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp ngành quyết định Trường hợp thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thì đại diện thương lượng do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận
Đặc biệt, đây là lần đầu tiên Bộ luật Lao động quy định về thương lượng tập thể
có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đông thương lượng tập thê Theo Điêu 73 Bộ luật: Trên cơ sở đồng thuận, các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia có thể yêu cầu ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc nơi do các bên lựa chọn trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia thương lượng có trụ sở chính tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tiến hành thương lượng tập thể Khi nhận được yêu cầu của các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tổ chức việc thương lượng tập thể Thành phần Hội đồng thương lượng tập thể bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng do các bên quyết định và có trách nhiệm điều phối hoạt động của Hội đồng thương lượng tập thể, hỗ trợ cho việc thương lượng tập thể của các bên;
b) Đại diện các bên thương lượng tập thể do mỗi bên cử số lượng đại diện mỗi bên thương lượng tham gia Hội đồng do các bên thỏa thuận;
Trang 10c) Đại diện ủy ban nhân dân cấp tỉnh Hội đồng thương lượng tập thể tiến hành thương lượng theo yêu cầu của các bên và tự chấm dứt hoạt động khi thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia được ký kết hoặc theo thỏa thuận của các bên Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của Hội đồng thương lượng tập thể
III GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1 Nhận xét về mức lương của Ông Cường
Mức Lương của ông Cường Là 5000 USD bao gồm lương cơ bản , bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế , bao hiểm thất nghiệp
Lương cơ bản của người lao động trong doanh nghiệp được tính dựa vào mức lương tối thiểu vùng do chính Chính phủ quy định hàng năm Theo đó, người sử dụng lao động trả lương cho người lao động không được thấp hơn so với mức lương tối thiểu này Do vậy, lương cơ bản của người lao động trong những doanh nghiệp sẽ là:
Vùng I: 4.420.000 đồng/tháng
Vùng II: 3.920.000 đồng/tháng
Vùng III: 3.070.000 đồng/tháng
Vùng IV:: 3.430.000 đồng/tháng
Công Ty CorMan PaciFic có trụ sở tại Q1, TP HCM nằm trong Vùng I Theo Qui định tại Nghị định 90/2020/NĐ-CP nên mức lương tối thiểu mà Công ty phải trả cho ông Cường không được thấp hơn
số tiền 4.420.000 đồng/tháng
Doanh nghiệp thường lấy lương cơ bản để làm mức đóng BHXH hàng tháng cho người lao động Tuy nhiên, hiện nay mức đóng bảo hiểm xã hội gồm có phụ cấp lương, mức lương và các khoản bổ sung khác (quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội 2014)
Như vậy, Mức lương mà công ty CorMan Pacif trả cho ông Cường đã đáp ứng đầy đủ cơ cấu tiền lương theo quy định tại Điều 90 Bộ Luật Lao động
2019 bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh , phụ cấp , các khoản bổ sung khác và không thấp hơn mức lương tổi thiểu vùng áp dụng cho doanh nghiệp