1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG ĐỀ TÀI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

95 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thu được rất khả quan như xóa bỏ được biểu hiện của văn hóa phản động, xây dựng nền văn hóa mới cách mạng, giai cấp tư sản mại bản được xóa bỏ, các cơ sở nông nghiệp, công nghiệp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Kim Oanh

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL

Môn: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (MSMH: SP1039)

Nhóm/Lớp: L16 Tên nhóm: 15 HK 212 Năm học 2021-2022

Đề tài:

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BTL

Điểm BTL Ký tên

Nhận xét của GV:

(Ký và ghi rõ họ, tên)

Trang 3

Mục Lục

I PHẦN MỞ ĐẦU 1

II PHẦN NỘI DUNG 4

Chương 1: TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI 4

1.1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam trong những năm 1975 – 1986 4

1.1.1 Mô hình chủ nghĩa xã hội trước đổi mới 5

1.1.2 Tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội và yêu cầu đổi mới 15

1.2 Những biến đổi của tình hình thế giới 18

1.2.1 Sự thay đổi của trật tự thế giới Ianta và quan hệ quốc tế sau “chiến tranh lạnh” và ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam 18

1.2.2 Toàn cầu hóa kinh tế và nhu cầu hội nhập với thế giới của Việt Nam 19

Tóm tắt chương 1 20

Chương 2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐỔI MỚI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG 21

2.1 Sự hình thành và xây dựng đường lối đổi mới của Đảng 21

2.1.1 Sự hình thành đường lối đổi mới: 21

2.1.1.2 Đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đại hội VI (12-1986) 26

2.1.3 Đại hội VII của Đảng (6-1991) và sự hoàn thiện đường lối đổi mới: 32

2.1.2.1 Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội 32

2.1.2.2 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội 34

2.1.2.3 Chủ trương, chính sách đối ngoại 35

2.1.3 Thành tựu cơ bản của 10 năm đổi mới 1986 -1995 và một số kinh nghiệm 37

2.1.3.1 Thành tựu cơ bản 37

2.1.3.2 Một số kinh nghiệm 38

Trang 4

2.2 Sự phát triển của đường lối đổi mới của Đảng trong 1996 - nay: 42

2.2.1 Nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội 42

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 61

CHƯƠNG 3: ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI – NHỮNG THÀNH TỰU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 64

3.1 Những thành tựu 64

3.1.1 Về thực tiễn 64

3.1.2 Về lý luận 68

3.2 Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu 72

3.2.1 Kiên trì đổi mới toàn diện, có nguyên tắc, sáng tạo 72

3.2.2 Đảng phải được xây dựng vững mạnh về mọi mặt 74

3.2.3 Chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên 75

3.2.4 Gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân 78

3.2.5 Tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát 80

3.2.6 Đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng 84

Tóm tắt chương 3 84

Kết luận 86

Trang 5

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử dựng nước và giữ nước từ xưa đến nay, Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều giai đoạn kinh tế - xã hội khó khăn Không thể phủ nhận sau 10 năm thực hiện kế hoạch 5 năm ( 1976-1985), cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu và ưu điểm song bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn, hạn chế, đưa đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng Kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 nước ta thực hiện nhiệm vụ vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa cải tạo quan hệ sản xuất Mục tiêu đặt ra là xây dựng được một bước cơ sở vật chất kĩ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội, cải thiện đời sống nhân dân về cả vật chất lẫn tình thần Kết quả thu được rất khả quan như xóa bỏ được biểu hiện của văn hóa phản động, xây dựng nền văn hóa mới cách mạng, giai cấp tư sản mại bản được xóa bỏ, các cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải bị địch bắt phá cơ bản được khôi phục, tuy nhiên vẫn còn những tồn tại cần khắc phục như: mất cân đối, sản xuất phát triển chậm…

Đến giai đoạn 1981 - 1985 mặc dù các hoạt động khoa học- kỹ thuật được triển khai, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, cơ sở vật chất bước đầu được hoàn thiện, sản xuất công – nông nghiệp đã ngăn chặn được đà giảm sút của 5 năm trước và bắt đầu phát triển, song những khó khăn yếu kém còn tồn tại vẫn chưa được khắc phục, thậm chí còn trầm trọng hơn, mục tiêu quan trọng nhất là ổn định kinh tế - xã hội vẫn chưa thực hiện được Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, nhà nước ta còn áp dụng quyết sách bao cấp, tem phiếu Do đó, đa số các mặt hàng, nhu yếu phẩm của người dân trong giai đoạn này đều khá khan hiếm, cơm không đủ ăn, áo quần không đủ mặc, tập sách không có để dùng, có thể thấy nhu cầu thiết yếu của người dân lúc này đều không được đáp ứng đầy đủ Từ đó kéo theo hàng loạt các hệ lụy, tình trạng lạm phát tăng cao, đời sống của nhân dân còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn Nguyên nhân cơ bản là do ta mắc phải “Sai lầm nghiêm trọng

và kéo dài về chủ trương, chính sách, sai lầm về chỉ đạo chiến lược sách lược và tổ chức thực hiện” Để khắc phục sai lầm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, Đảng và nhà nước

Trang 6

ta cần phải tiến hành đổi mới Đó là cơ hội, động lực, cũng như thách thức và trở ngại của việc đổi mới vẫn đặt ra cho từng chặng đường xây dựng và phát triển đất nước Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng khách quan, Đảng ta đã có quyết định mang tính cách mạng, đột phá về thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, coi đó là

“mệnh lệnh của cuộc sống”

Bên cạnh đó là yếu tố khách quan từ những thay đổi của tình hình thế giới và quan

hệ giữa các nước đang rất gay gắt do tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, cuộc khủng hoảng toàn diện, trầm trọng của Liên Xô và các nước Xã Hội Chủ Nghĩa khác đặt

ra yêu cầu cấp bách, đòi hỏi Đảng và nhà nước phải thực hiện đổi mới, chỉnh đốn, làm cho những mục tiêu của Chủ Nghĩa Xã Hội được thực hiện có hiệu quả bằng những chính sách, chủ trương, đường lối đúng đắn

Xuất phát từ tình hình thực tế trên và đứng trước những yêu cầu cấp thiết của quá

trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc nghiên cứu “quá trình hình thành và phát triển đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam” là vô cùng quan trọng

2 Đối tượng nghiên cứu

Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu chính sách của Đảng trong giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay

4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Thứ nhất, làm rõ đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa

xã hội trên phạm vi toàn quốc

Thứ hai, làm rõ nội dung đường lối đổi mới được thông qua tại Đại hội VI (12.1986)

Thứ ba, đánh giá đường lối đổi mới của Đảng

Thứ tư, sơ lược quá trình phát triển đường lối trong các giai đoạn tiếp theo

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu nhất là các phương pháp:phương pháp thu thập số liệu; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp lịch sử - logic;…

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Tính tất yếu của sự nghiệp đổi mới

Chương 2: Đường lối đổi mới và quá trình phát triển đường lối đổi mới của Đảng Chương 3: Những thành tựu và bài học kinh nghiệm của đường lối đổi mới

Trang 8

II PHẦN NỘI DUNG Chương 1: TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI

1.1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam trong những năm 1975 – 1986

Sau Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiết tranh, lặp lại hòa bình ở Việt Nam,

Mĩ rút hết quân về nước Miền Bắc tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, ra sức chi viện cho miền Nam; trong khi đó miền Nam tiếp tục thực hiện cách mạng

Trong giai đoạn thực hiện công cuộc vừa khắc phục hậu quả do chiế tranh phá hoại của Mĩ, vừa là hậu phương vững chắc cho miền Nam, miền Bắc đã có những bước phát triển về kinh tế “Đến cuối năm 1974, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp trên một số mặt quan trọng đã đạt và vượt mức năm 1964 và năm 1971 – hai năm đạt mức cao nhất trong

20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Tổng sản phẩm xã hội năm 1973 cao hơn năm 1965, năm 1974 cao hơn năm 1973 là 12,4% Sản lượng lúa năm 1973 là 5 triệu tấn; đến năm 1974, mặc dù có những khó khăn do thiên tai, miền Bắc cũng đạt được 4,8 triệu tấn Giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp năm 1974 tăng 15% so với năm

1973 Về vật chất – kĩ thuật, miền Bắc đã có những nỗ lực phi thường, đáp ứng đầy đủ và

Tuy trải qua hơn 20 năm (1954 – 1975) tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện, đã xây dựng được những cơ sở vật chất – kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội Nhưng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đã tàn phá nặng nề, gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc: “Chiến tranh phá hoại của Mĩ đã phá hủy hầu hết những cái mà nhân dân ta đã tốn biết bao công sức để

1 Lịch sử 12 Nâng Cao (2009), Nhà xuất bản Giáo dục – Bộ giáo dục đào tạo, Hà Nội, tr 252 – 253

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ IV, Sđd, tr 37 – 38

Trang 9

Cuộc chiến tranh của Mĩ đã gây ra hậu quả nặng nề không chỉ ở mặt kinh tế, sản xuất

mà còn gây ra rất nhiều thiệt hại về đời sống xã hội, nhiều làng mạc, ruộng đồng bị đốt phá,

vô số bom mìn còn vùi lấp trên các cánh đồng, ruộng vườn, nơi cư trú của nhân dân, số người mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong dân cư Miền Nam hoàn toàn giải phóng, chế độ thực dân mới của Mĩ cùng bộ máy chính quyền Sài Gòn ở trung ương bị sụp đổ, nhưng cơ sở của chính quyền này ở địa phương cùng bao di hại của xã hội cũ vẫn còn tồn tại Nền kinh

tế miền Nam cơ bản mang tính chất kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ và phân tán, phát triển không cân đối, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên ngoài Chính vì vậy, sau khi giải phóng, đất nước Việt nam bắt đầu bước vào giai đoạn khắc phục những hậu quả do chiến tranh và khôi phục, phát triển nền kinh tế - xã hội ở cả hai miền

1.1.1 Mô hình chủ nghĩa xã hội trước đổi mới

1.1.1.1 Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng trình bày tại Đại hội đại biểu

Uỷ ban của Quốc hội Các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội trên cả hai miền đất nước nhanh chóng tiến hành đại hội hợp nhất và đi vào hoạt động Thắng lợi của cuộc Kháng chiến chống Mỹ và công việc bầu cử thể hiện ý chí đoàn kết toàn dân tộc quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy,

Trang 10

nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta

b) Nội dung của Đại hội:

Đại hội đã nêu ra ba đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới: “Một

là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Hai là,

Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều thuận lợi rất lớn song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra Ba là, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, song cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và

có đủ điều khiện đi lên và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nhưng đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi Đảng và nhân dân phải phát huy cao tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình cách mạng Trong ba đặc điểm thì đặc điểm đầu tiên là lớn nhất, quy định cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình biến đổi cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để, đồng thời cũng quy định tính lâu dài, khó khăn và phức tạp của cuộc cách mạng

Đại hội đã thảo luận, đánh giá và quyết định chuyển cách mạng Việt Nam từ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam sang thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn đất nước Từ nhận định đó, Đại hội đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước bao gồm: Đường lối chung cách mạng

xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới và Đường lối xây dựng, phát triển kinh tế

Đại hội xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới của nước ta: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất,

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.623

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.988

Trang 11

cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì

Đại hội xác định đường lối xây dựng, phát triển kinh tế là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa

xã hội chủ nghĩa nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc

Nhằm thực hiện mục tiêu đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội theo đường lối đã xác định, Đại hội đã đề ra Kế hoạch 5 năm (1976 – 1980) phát triển và cải tạo kinh tế, văn hóa, phát triển khoa học, kỹ thuật nhằm cùng một lúc hai

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.998

Trang 12

mục tiêu vừa cơ bản vừa cấp bach: xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa nhân dân

c) Ý nghĩa của Đại hội:

Đại hội đại biểu lần thứ IV của Đảng là Đại hội đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi được thống nhất hai miền Nam, Bắc Đại hội đã thành công tốt đẹp, thu được những kết quả to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, khẳng định và xác định được đường lối đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Đại hội đã

cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân ra sức lao động sáng tạo để “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

d) Hạn chế của Đại hội IV:

Đại hội lần thứ IV còn bộc lộ một số hạn chế như: Chưa tổng kết kinh nghiệm 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong điều kiện thời chiến, vừa là hậu phương, vừa

là tiền tuyến, vừa xây dựng, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, vừa làm nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế Trong điều kiện đó, tất yếu phải thực hành chính sách bao cấp để đáp ứng yêu cầu “tất cả để đánh giặc Mỹ xâm lược”; sau chiến tranh, việc áp dụng nguyên mô hình chủ nghĩa xã hội trước đã bộc lộ những khuyết tật Việc đề ra phương châm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; việc dự kiến thời gian hoàn thành về cơ bản quá trình đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghia trong chỉ khoảng 20 năm để kết thúc thời kì quá độ; việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng với quy mô lớn, đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp và công nghiệp vượt quá khả năng thực tế là những chủ trương chủ quan, sai lầm, nóng vội

1.1.1.2 Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng bổ sung trong Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ V (1982)

a) Bối cảnh lịch sử:

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam V diễn ra trong bối cảnh kinh tế đất nước sau 5 năm đầu cả nước bước vào kỷ nguyên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trang 13

gặp những vấn đề nghiêm trọng Công tác lãnh đạo và quản lý kinh tế, quảng lý xã hội của Đảng và Nhà nước phạm nhiều khuyết điểm Xuất hiện tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội

Bên cạnh tình hình kinh tế - xã hội đang có những trì trệ do những chính sách cải cách không đúng đắn Tình hình quan hệ quốc tế cũng có nhiều khó khăn, Mỹ tiếp tục bao vây cấm vận và “kế hoạch hậu chiến” Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế liên tục ra sức tuyên truyền xuyên tạc việc Việt Nam đóng quân ở Campuchia sau Chiến tranh biên giới Tây Nam từ năm 1979, gây sức ép với Việt Nam, chia rẽ ba nước Đông Dương Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bị đổ vỡ sau Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 Trung Quốc tiến hành hoạt động phá hoại biên giới trên bộ và trên biển thường xuyên, bên cạnh

đó Trung Quốc cũng tiến hành rút bỏ viện trợ chuyên gia và vận động Hoa kiều về nước b) Nội dung, phương hướng, nhiệm vụ và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội của Đại hội:

Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá thành tự, khuyết điểm, sai lầm của Đảng, phân tích nguyên nhân thắng lợi và khó khăn của đất nước Đại hội đã thảo luận, đánh giá tình hình rong nước và quốc tế Đại hội khẳng định tiếp tục đường lối chung tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế trong thời kì quá độ do Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV đề ra Tuy nhiên, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu có những sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển cụ thể hóa theo từng chặng đường, từng giai đoạn cho phù hợp với những điều kiện lịch sử, cụ thể là:

Khẳng định nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đó là thời kỳ khó khăn, phức tạp, lâu dài và phải trải qua nhiều chặng đường Chặng đường đầu bao gồm thời kỳ 5 năm

1981 – 1985 và những năm còn lại của thập niên 80 Nhiệm vụ trước mắt là giữ ổn định, tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tiếp tục công cuộc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thức đẩy sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu của công cuộc phòng thủ đất nước, củng cố quốc phòng, giữ vững an nình, trật tự xã hội Đại hội chỉ rõ cần phải

Trang 14

cụ thể hóa đường lối của Đảng – đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nên kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta, cần phải vạch ra chiến lược kinh tế -

xã hội rõ ràng cho chặng đường đầu tiên của quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Đại hội xác định cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược là: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Hai nhiệm

vụ này có quan hệ mật thiết với nhau

Đại hội xác định những chính sách lớn về kinh tế - xã hội và nêu rõ: Trong 5 năm

1981 – 1985 chúng ta cần tập trung lực lượng thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau: Giải quyết những vấn đề cấp bách nhất để ổn định và cải thiện một bước đời sống của nhân dân; phát triển và sắp xếp lại sản xuất, tiếp tục thực hiện việc phân công và phân bố lại lao động

xã hội; bố trí lại xây dựng cơ bản cho phù hợp với khả năng và theo hướng tạo thêm điều kiện để phát huy các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có nhằm vào các mục tiêu cấp bách nhất

về kinh tế và xã hội; cải tiến công tác phân phối lưu thông, thiết lập một bước trật tự mới trên mặt trận này; đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả nước về các mặt chế độ sở hữu, quản lú, phân phối; làm tốt hợp tác kinh tế với Liên Xô, Lào và Campuchia, với các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế; thực hành tiết kiệm nghiêm ngặt, đặc biệt coi trọng tiết kiệm trong xây dựng cơ bản và sản xuất; làm tốt việc ứng dụng nhanh chóng và rộng rãi thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống; đổi mới một bước hệ thống quản lý kinh tế; đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, y tế phù hợp với yêu cầu và khả năng kinh tế, thực hiện cải cách giáo dục một cách tích cực và vững chắc, xác định quy hoạch hợp lý và tiếp tục đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân lành nghề; tăng cường quản lý xã hội, kiên quyết đấu tranh chống các hành vi phạm pháp, tệ nạn xã hội và các biểu hiện tiêu cực khác, đề cao kỷ cương trong quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, giữ vững trật tự và an toàn xã hội; bảo đảm các nhu cầu về kinh tế của công cuộc củng cố quốc phong và an ninh, bảo vệ đất nước, đồng thời huy động năng lực công nghiệp quốc phòng và sử dụng hợp lý lực lượng quân đội vào những hoạt động kinh tế thích hợp

Trang 15

Đại hội V đã thông qua những nhiệm vụ kinh tế, văn hóa và xã hội, tăng cường Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chính sách đối ngoại; tiếp tục nâng cao tính giai cấp công nhân, tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, thực sự trong sạch, có sức chiến đấu cao, gắn bó chặt chẽ với quần chúng

Nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra của chặng đường đầu tiên tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đề ra Kế hoạch năm năm 1981 – 1985 và quyết định hương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của Kế hoạch là phát triển thêm một bước, sắp xếp lại cơ cấu và đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân nhằm giảm sự mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế, đáp ứng những yêu cầu cấp bách và thiết yếu nhất của đời sống nhân dân

c) Ý nhĩa của Đại hội:

Đại hội lần thứ V của Đảng là kết quả của việc tập hợp ý kiến của toàn Đảng để đề ra nhiệm vụ phương hướng nhằm giải quyết những vấn đề gay gắt còn tồn tại Đại hội đã có những bước phát triển nhận thức mới so với Đại hội IV, tìm tòi đổi mới trong công cuộc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là về mặt kinh tế, đánh dấu một bước chuyển biến mới

về sự lãnh đạo của Đảng

d) Hạn chế của Đại hội:

Đại hội chưa thấy hết sự cần thiết duy trì nền kinh tế nhiều thành phần, chưa xác định những quan điểm kết hợp kế hoạch với thị trường, về công tác quản lỳ lưu thông, phân phối; vẫn tiếp tục chủ trương hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam trong vòng 5 năm; vẫn tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho việc phát triển công nghiệp nặng một cách tràn lan; không dứt khoát dành thêm vốn và vật tư cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng

Trang 16

1.1.1.3 Quá trình triển khai thực hiện đường lối của Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam

Thực hiện kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 do Đại hội IV đề ra, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong nhiều lĩnh vực “Các cơ sở nông nhiệp, công nghiệp, giao thông vận tải bị tàn phá về cơ bản đã được phục hồi và bước đầu phát triển Năng lực sản

xuất của các ngành kinh tế được nâng lên Trong nông nghiệp, nhờ tăng cường biện pháp

khai hoang, thâm canh, tăng vụ, diện tích giao trồng tăng thêm gần 2 triệu hécta Nông nghiệp được trang bị thêm 18000 máy kéo các loại, đưa tỉ lệ cơ giới hóa làm đất tăng lên

25% diện tích gieo trồng Trông công nghiệp, nhiều nhà máy được gấp rút xây dựng như các nhà máy xi măng, điện, cơ khí động lực, đường, giấy, kéo sợi Giao thông vận tải được

khôi phục và xây dựng mới 1700 kilômét đường sắt, 3800 kilômét đường bộ, 30000 mét cầu, 4000 mét bến cảng, bổ sung thêm nhiều phương tiện vận tải Tuyến đường sắt Thống nhất từ Hà Nội đi Thành phố Hồ Chí Minh, sau 30 năm bị gián đoạn, đã hoạt động trở lại Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh với tốc độ nhanh trong các vùng mới giải phóng ở miền Nam Tầng lớp tư sản mại bản bị xóa bỏ; 1500 xí nghiệp tư bản hạng lớn

và vừa được cải tạo chuyển thành xí nghiệp quốc doanh hoặc công tư hợp doanh Thủ công nghiệp và thương nghiệp được sắp xếp và tổ chức lại Đại bộ phận nông dân miền Nam đi vào con đường làm ăn tập thể, tham gia những hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, như tổ đoàn kết sản xuất, tập đoàn sản xuất, hợp tác xã sản xuất Ngành giáo dục mẫu giáo, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp phát triển mạnh Tính chung,

số người đi học thuộc các đối tượng trong cả nước năm học 1979 – 1980 là 15 triệu, tăng hơn năm học 1976 – 1977 là 2 triệu Đặc biệt, trong những vùng mới giải phóng ở miền Nam, phong trào bình dân học vụ đã thu hút nhiều người tham gia Mạng lưới các bệnh viện, phòng khám chữa bệnh, trạm y tế, nhà hộ sinh, cơ sở điều dưỡng được mở rộng Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao đã tạo thành phong trào quần chúng trong các địa phương, xí nghiệp, trường học”1

1 Bộ giáo dục đào tạo (2009), Lịch sử 12 Nâng Cao, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, tr 270 – 271

Trang 17

Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội IV, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tập trung chủ yếu vào chỉ đạo phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và phân phối lưu thông Hội nghị Trung ương 6 (8/1979) được cho là bước đột phá đầu tiên đổi mới kinh tế của Đảng với chủ trương là khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, phá bỏ những rào cản, để cho “sản xuất bung ra” Theo đó, tháng 10/1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định về việc tận dụng đất đai nông nghiệp để khai hoang, phục hóa, được miễn thuế, trả thù lao và được sử dụng toàn bộ tài sản phẩm; quyết định xóa bỏ những trạm kiểm soát để người sản xuất có quyền tự do đưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường

Bên cạnh những thành tựu, chúng ta gặp không ít những khó khăn, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện đường lối của Đảng, đặt biệt là trong lĩnh vực kinh tế Kinh tế -

xã hội Kinh tế của ta mất cân đối lớn, kinh tế quốc doanh và tập thể trong sản xuất luôn bị thua lỗ, không phát huy được tác dụng, kinh tế tư nhân và cá thể bị ngăn cấm Sản xuất phát triển chậm, thu nhập quốc dân, năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Trong xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực “Có tình trạng kinh tế - xã hội như trên là do nhiều nguyên nhân, một phần do nền kinh tế vốn nghèo nàn lạc hâu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, mặt khác do chính sách cấm vận của Mĩ làm cản trở quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước Nhưng quan trọng hơn là do lãnh đạo của Đản và Nhà nước có sai lầm trong việc đề ra chủ trương cải tạo, xây dượng kinh tế thể hiện tư tưởng chủ quan nóng vội trong việc đề ra biện pháp tổ chức và chỉ đạo thực hiện quản lí kinh tế thể hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ”1

Thực hiện Nghị quyết Đại hội V, các hội nghị Trung ương đã cụ thể hóa trên từng lĩnh vực cụ thể Hội nghị Trung ương 6 (7/1984) chủ trương tập trung giải quyết một số vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông, đẩy mạnh thu mua nắm nguồn hàng, quản lý chặt chẽ thị trường tự do; thực hiện điều chỉnh giá cả, tiền lương, tài chính cho phù hợp với thực

tế Hội nghị Trung ương 7 (12/1984) xác định kế hoạch năm 1985 phải tiếp tục coi mặt trận

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội

Trang 18

sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, sản xuất lương thực, thực phẩm đặt lên hàng đầu Hội nghị Trung ương 8 (6/1985) được xem là bước đột phá thứ hai trong quá trình tìm tòi, đổi mới kinh tế của Đảng Tại Hội nghị, Trung ương chủ trương xóa bỏ tập trung quan liêu hành chính bao cấp, lấy giá – lương – tiền là khâu đột phá để chuyển sang cơ chế hoạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa

Các chủ trương của Hội nghị Trung ương 8 đã thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện lại mắc những sai lầm như vội vàng đổi tiền; tổng điều chỉnh giá, lương trong tình hình chưa chuẩn bị mọi mặt làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội thêm trầm trọng Hội nghị Bộ Chính trị khóa V (8/1986) đưa ra kết luận đối với một số vấn đề thuộc

về quan điểm kinh tế Đây là bước đột phá thứ ba về đổi mới kinh tế, đồng thời cũng là bước quyết định cho sự ra đời của đường lối đổi mới của Đảng

Thực hiện kế hoạch 5 năm đề ra trong đại hội, nhân dân ta đã đạt được những tiến bộ đáng kể “Trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, đã chặn được đà giảm sút của những năm 1976 – 1980 Sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,9% so với 1,9% của thời kì 1976 -1980 Sản xuất lương thực từ 13,4 triệu tấn (trong thời kì 1976 – 1980) tăng lên 17 triệu tấn (trong thời kì 1981 – 1985) Sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm

là 9,5% so với 0,6% của thời kì 1976 -1980 Thu nhập quốc dân tăng bình quân hàng năm 6,4% so với 0,4% trong 5 năm trước Về xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật, trong 5 năm đã hoàn thành hàng trăm công trình tương đối lớn, hàng nghìn công trình vừa và nhỏ trong đó

có những cơ sở quan trọng về điện, dầu khí, xi măng, cơ khí, giao thống, thủy lợi, dệt Các hoạt động khoa học – kĩ thuật được triển khai, góp phần thúc đẩy sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp Dầu mỏ bắt đầu được khai thác, các công trình thủy điện Hòa Bình, Trị

An được xây dựng, chuẩn bị đứa vào hoạt động Trong cải tạo quan hệ sản xuất, đại bộ phận nông dân miền Nam đi vào con đường làm ăn tập thể, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên có nhiều chuyển biến tiến bộ trong xây dựng cuộc sống mới Cùng với việc áp dụng những thành tựu về khoa học – kĩ thuật, việc thực hiện rộng rãi phương thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động tuy chưa được hoàn thiện và còn nhiều

Trang 19

hạn chế, song đã góp một phần quan trọng tạo nên bước phát triển sản xuất nông nghiệp,

mở ra phương hướng đúng cho việc củng cố quan hệ kinh tế mới ở nông thôn Chăm lo đời sống của nhân dân là nhiệm vụ thường xuyên và hết sức khó khăn của Đảng và Nhà nước

ta trong hoàn cảnh nền kinh tế còn yếu kém, thiên tai dồn dập, dân số tăng nhanh Các ngành kinh tế quốc dân đã thu hút thêm 4 triệu lao động Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, văn học, nghệ thuật phát triển và có những đóng góp nhất định vào việc

Kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết của Đại hội V, những khó khắn về kinh tế - xã hội, những sai lầm về chính sách, đường lối đã đẩy Việt Nam vào tình thế khó khăn, các hạn chế ở thời kì trước không được khắc phục mà thậm chí còn có phần trầm trọng thêm Mục tiêu Đại hội V đè ra là “Về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân” vẫn chưa thực hiện được

Sau quá trình 10 năm thực hiện đường lối của Đảng, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chúng ta đã đạt được các thành tựu nhất định: Thực hiện thắng lợi chủ trương thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, đạt được những thành tựu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội; giành thắng lợi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế Những thành tựu trên đã tạo cho cách mạng nước ta những nhân tố mới để tiếp tục tiến lên Tuy nhiên, vẫn còn những khuyết điểm, trong đó là việc không hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đặt ra

1.1.2 Tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội và yêu cầu đổi mới

1.1.2.1 Tình hình Việt Nam sau 10 năm thực hiện xây dựng xã hội chủ nghĩa

Sau 10 năm thực hiện xây dựng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đất nước lúc này lại lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài; sản xuất tăng chậm và không ổn định; nền kinh

tế luôn trong tình trạng thiếu hụt, không có tích lũy “Tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm trong giai đoạn 1977-1985 tăng 4,65%, trong đó: nông, lâm nghiệp tăng

1 Bộ giáo dục đào tạo (2009), Lịch sử 12 Nâng Cao, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, tr 272 – 273

Trang 20

4,49%/năm, công nghiệp tăng 5,54%/năm và xây dựng tăng 2,18%/năm Theo loại hình sở hữu, sở hữu quốc doanh tăng 4,29%; sở hữu tập thể tăng 10,26% và sở hữu tư nhân, cá thể tăng 0,71% Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ này thấp và kém hiệu quả Nông, lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng (chiếm 38,92% GDP trong giai đoạn này), nhưng chủ yếu dựa vào độc canh trồng lúa nước Công nghiệp được dồn lực đầu tư nên có mức tăng khá hơn nông nghiệp, nhưng tỷ trọng trong toàn nền kinh tế còn thấp (chiếm 39,74% GDP), chưa là động lực để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Kinh tế tăng trưởng chậm làm mất cân đối cung – cầu (thiếu hụt nguồn cung), đồng thời do bị tác động bởi việc cải cách tiền lương vào năm 1985, là những nguyên nhân dẫn đến chỉ số giá bán lẻ tăng rất cao, bình quân giai đoạn 1976-1985 chỉ số giá bán lẻ tăng 39,53%/năm; lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng đều vô cùng khan hiếm; tình trạng lạm phát tăng cao và kéo dài, cụ thể lạm phát tăng từ 300% năm 1985 lên hơn 774% năm 1986 Ở miền Bắc, mặc dù thu nhập bình quân đầu người một tháng của gia đình công nhân viên chức tăng từ 27,9 đồng năm 1976 lên đến

270 đồng năm 1984; thu nhập bình quân đầu người một tháng của gia đình xã viên hợp tác

xã nông nghiệp tăng từ 18,7 đồng lên đến 505,7 đồng, nhưng do lạm phát cao, nên đời sống nhân dân hết sức khó khăn, thiếu thốn Cùng với đó là tình hình bao vây, cấm vận, cô lập của các nước phương Tây, khiến cho đời sống nhân dân hết sức khó khăn, lòng tin đối với Đảng, Nhà nước, chế độ giảm sút nghiêm trọng Các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, vượt biên trái phép diễn ra khá phổ biến”1

Nguyên nhân khách quan dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội là do chúng ta xây dựng đất nước từ kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ là phổ biến, bị bao vây, cấm vận nhiều năm, nguồn viện trợ từ nước ngoài giảm mạnh; hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh chưa kịp khắc phục thì đã nổ ra cuộc chiến tranh biên giới nên ưu tiên bảo vệ

Tổ quốc phải đặt lên hàng đầu, nảy sinh ra nhiều khó khăn mới ở mặt phát triển đất nước

Về mặt chủ quan là do những sai lầm của Đảng trong đánh giá tình hình, xác định mục tiêu,

1 TS Nguyễn Thị Hương (02/09/2020), Những dấu ấn quan trọng về kinh tế - xã hội trong hành trình 75 năm

thành lập và phát triển đất nước qua số liệu thống kê Truy cập từ:

https://kinhtevadubao.vn/nhung-dau-

an-quan-trong-ve-kt-xh-trong-hanh-trinh-75-nam-thanh-lap-va-phat-trien-dat-nuoc-qua-so-lieu-thong-ke-15850.html

Trang 21

bước đi, sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế; sai lầm trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong lĩnh vực phân phối và lưu thông; duy trì cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp; buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội và trong đấu tranh chống

âm mưu, thủ đoạn phá hoại nhiều mặt của địch

1.1.2.2 Yêu cầu đổi mới

Sau quá trình 5 năm 1976 – 1980, quân dân cả nước đã đạt được một số thành tựu chung như thống nhất đất nước, bảo vệ độc lập, khắc phục một phần hậu quả hậu chiến tranh, xóa bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của đế quốc, phong kiến ở miền Nam, ở miền Bắc

đã có sự cải tiến, đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất lớn Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều hạn chế, chưa đạt được các chỉ tiêu do Đại hội IV đề ra: lưu thông, phân phối rối ren, giá

cả tăng vọt, nhập khẩu tăng gấp 4 – 5 lần xuất khẩu Đời sống nhân dân, cán bộ, công nhân viên, lực lượng vũ trang rất khó khăn Từ cuối năm 1979, ở một số địa phương miền Bắc xuất hiện hiện tượng “xé rào”, “khoán chui” Ở miền Nam, việc thí điểm hợp tác xã diễn ra phức tạp, lúng túng

Trước tình hình kinh tế - xã hội khó khăn, yêu cầu đổi mới đã xuất hiện trong suốt quá trình thực hiện xây dựng xã hội chủ nghĩa trên phạm vị toàn quốc, tuy nhiên những bước đổi mới vẫn chưa được toàn diện, chưa triệt để; cụ thể ở các chính sách:

“Trước hiện tượng “khoán chui” trong hợp tác xã nông nghệp ở một số địa phương Ban Bí thư đã ban hành chỉ thị về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp (gọi là Khoán 100) Theo Chỉ thị, mỗi xã viên được nhận mức khoán theo diện tích và tự mình làm các khâu cấy, chăm sóc và thu hoạch, những khâu khác

do hợp tác xã đảm nhiệm Thu hoạch vượt mức khoán sẽ được hưởng và tự do mua bán Chủ trương được nông dân cả nước ủng hộ, nhanh chóng thành phong trào quần chúng sâu rộng Sản lượng bình quân từ 13,4 triệu tấn/năm thời kỳ 1976 – 1980 tăng lên 17 triệu tấn/năm thời kỳ 1981 – 1985; hiện tượng tiêu cực, lãng phí trong sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể

Trang 22

Trong lĩnh vực công nghiệp, trước hiện tượng “xé rào” bù giá vào lương ở Thành phố

Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, Chính phủ ban hành Quyết định số 25/CP (1/1981) về quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh

và Quyết định số 26/CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước Những chủ trương đã tạo động lực, góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng công

Đây là căn cứ thực tế cho thấy như cầu đổi mới ở nước ta, từ đó Đảng đã đi đến quyết định thay đổi mới toàn diện

1.2 Những biến đổi của tình hình thế giới

1.2.1 Sự thay đổi của trật tự thế giới Ianta và quan hệ quốc tế sau “chiến tranh lạnh”

và ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam

Trong chiến tranh lạnh việc 2 siêu cường quốc đối địch với nhau khiến tình hình thế giới thay đổi không ít, châu Á khó tránh khỏi được điều này, trong đó có Việt Nam Cuộc chiến tranh ở Việt nam phản ánh rất rõ sự đối đầu của 2 phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa Nhờ sự ủng hộ rất lớn của Liên Xô cũng như các nước Xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đi đến thắng lợi, đẩy lùi được cuộc xâm lược của Mỹ

Năm 1985, nền kinh tế Liên Xô đang ở trong tình trạng trì trệ và phải đối mặt với sự giảm sút mạnh nguồn thu nhập ngoại tệ từ nước ngoài vì sự sụt giá dầu mỏ trong thập niên

1980, cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp ở các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu bộc

lộ sự lạc hậu, làn sóng cải cách trong xây dựng xã hội chủ nghĩa đã nổ ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa càng khiến nhu cầu đổi mới trở thành một đòi hỏi bức thiết của Việt Nam Sự khủng hoảng kinh tế của Liên Xô cũng ảnh hưởng trục tiếp đến nguồn viện trợ cho Việt Nam khiến tình hình càng khó khăn

1 Bộ Giáo dục và đào tạo (2021), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho bậc đại học hệ không

chuyên lý luận chính trị), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr 247 - 248

Trang 23

Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực Ianta giải thể với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu So sánh lực lượng trên bình diện toàn cầu từ chỗ cân bằng giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập nay chuyển sang trạng thái mất cân bằng theo hướng có lợi cho Mĩ và phương Tây Tuy nhiên, tình hình quốc tế đã không phát triển một cách hoà bình, ổn định mà liên tục xảy ra các cuộc chiến tranh cục bộ Sự đối đầu Đông

- Tây về hệ tư tưởng, chính trị, quân sự, kinh tế đã từng chi phối đời sống quốc tế trong suốt thời kì chiến tranh lạnh, nay được chuyển hoá dưới những hình thức khác, bên cạnh

sự nổi lên của những mâu thuẫn mới Sự vận động của các mâu thuẫn này sẽ quyết định diện mạo của trật tự thế giới và xu hướng phát triển của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh Liên Xô tan rã nhưng Liên bang Nga vẫn tiếp tục tồn tại với tiềm lực quân sự kế thừa Liên Xô cũ và không phải là một cường quốc bại trận để chấp nhận một trật tự thế giới do

Mĩ áp đặt

Trật tự Ianta sụp đổ, phạm vi ảnh hưởng của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu và châu Á dần thu hẹp, trật tự thế giới hai cực sụp đổ, hình thành xu hướng “đa cực”, xu thế đối thoại trên thế giới dần thay thế xu thế đối đầu Từ đây, đổi mới là vấn đề cấp bách hàng đầu, có ý nghĩa sống còn đối với chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế chung của thời đại

1.2.2 Toàn cầu hóa kinh tế và nhu cầu hội nhập với thế giới của Việt Nam

Toàn cầu hóa kinh tế là một trong những mục tiêu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam Chính sự tụt lại về khoa học, công nghệ sau 2 cuộc chiến lớn đã đặt ra cho Việt Nam yêu cầu phải thực hiện toàn cầu hóa và hội nhập với thế giới để tiếp thu học hỏi các thành tựu của thế giới

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc và cục diện, trật tự thế giới mới hình thành, các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác với nhau, việc tham gia hợp tác cùng các nước, chủ động hội nhập càng thêm cần thiết hơn hết để phát triển nền kinh tế cũng như nền khoa học kĩ thuật để tích lũy và thực hiện con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa là vô cùng cần thiết

Trang 24

Tóm tắt chương 1

Sau 10 năm vượt qua những khó khăn và thử thách, Đảng ta đã đạt được nhiều thành tựu, nhờ sức phấn đấu của nhân dân và Đảng, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và hợp tác lớn của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Thực tế chứng minh đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đề ra là đúng đắn, nhưng trong quá trình thực hiện gặp những khó khăn vì nhiều lí do khách quan và chủ quan khác nhau, nên dẫn đến những hạn chế, chính sách cũng như thực hiện sai lầm, thiếu hiệu quả dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng

Qua những thành tựu, hạn chế của hai kì Đại hội, cùng với những bước “phá kén” đổi mới ở thực tiễn tại các địa phương, những biến chuyển của thế giới, Đảng ta đã nhận định con đường phát triển tiếp theo của Việt Nam là phải đổi mới toàn diện, tiếp tục con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo, có tính kế thừa chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào tình hình Việt Nam và xu thế thế giới để đạt được những kết quả tốt đẹp

Trang 25

Chương 2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐỔI MỚI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG 2.1 Sự hình thành và xây dựng đường lối đổi mới của Đảng

2.1.1 Sự hình thành đường lối đổi mới:

Như tất cả chúng ta đều biết, từ cuối những năm 1970 và giữa những năm 1980, Việt Nam đã tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện các chính sách quan trọng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và các lĩnh vực khác Tuy nhiên, sự nóng vội, chủ quan, duy ý chí, giáo điều, chưa nắm vững hoàn cảnh, đặc điểm thực tiễn đất nước, chưa nhận thức rõ quy luật khách quan mà muốn có ngay nền kinh tế Xã hội Chủ nghĩa thuần nhất đã đưa lực lượng sản xuất phát triển chậm hơn quan hệ sản xuất, “kéo” lực lượng sản xuất phát triển theo Hệ quả là kết quả thu được ngược lại với mong muốn, làm đẩy nhanh việc thực hiện cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản doanh và tập thể hóa nông nghiệp ở miền Nam một cách ồ ạt, vội vã ngay sau ngày giải phóng

Mô hình, cơ cấu kinh tế và xã hội không phù hợp được đặt trên nền sản xuất xã hội nghèo nàn, lạc hậu và bị chiến tranh tàn phá nặng nề đã dẫn Việt Nam đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc từ năm 1979 “Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp

từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”1, “Lạm phát luôn luôn tăng,…luôn tăng ở mức hai con số…năm sau lại tăng nhanh hơn năm trước: năm 1978 tăng 10,0%, năm 1979 tăng 19,4%,

Cuộc khủng hoảng này đặt Đảng Cộng sản Việt Nam trước nhiệm vụ lịch sử khó khăn và thử thách: Phải tạo được bước ngoặt sửa sai cơ bản từ đường lối chính sách, trước hết trên lĩnh vực kinh tế và cả tổng thể đường lối để đứng vững và phát triển “Chỉ có đổi

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006

2 Trần Văn Thọ, 2000, Kinh tế Việt Nam 1955-2000: Tính toán mới, phan tích mới, Nxb Thống kê, Hà Nội

Trang 26

mới cách nghĩ, cách làm, đổi mới tư duy….chúng ta mới có khả năng thoát khỏi tính hình khó khan gay gắt hiện nay”1

2.1.1.1 Một số chủ trương, chính sách mới của Đảng nửa sau những năm 70 và nửa đầu những năm 80

Trong bối cảnh thế giới diễn ra nhiều cuộc cải tổ, cải cách ở Liên Xô, ở các nước Đông Âu và ở Trung Quốc vẫn còn đang tiếp tục Những bất ổn của mô hình chủ nghĩa xã hội đã xây dựng, những biểu hiện trì trệ, khủng hoảng báo hiệu nguy cơ sụp đổ đang hiện hữu rất gần ở tất cả những nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa buộc công cuộc Đổi mới

ở Việt Nam diễn ra như một tất yếu, từ cả hai chiều: từ “dưới” lên và từ "trên" xuống

Nghị quyết Trung ương 6 khóa IV (8/1979) là bước đột phá đầu tiên Với chủ trương

"làm cho sản xuất bung ra" mở đầu quá trình đổi mới của Đảng, hội nghị đã thông qua 2 nghị quyết quan trọng là Nghị quyết về "Tình hình và nhiệm vụ cấp bách" và Nghị quyết

về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương” Trên cơ sở nhận thức rõ nhu cầu cấp bách của đời sống nhân dân, “hội nghị đã tập trung vào những biện pháp nhằm khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa; điều chỉnh những chủ trương, chính sách kinh tế, phá bỏ rào cản,

mở đường cho sản xuất phát triển: ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc lưu thông tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng đất hoang hoá; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức (quốc doanh, tập thể, gia đình); sửa lại thuế lương thực, giá lương thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại chế độ phân phối trong nội bộ hợp tác xã nông nghiệp, bỏ lối phân phối theo định suất, định lượng

Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6, Đảng ta tiếp tục có những đổi mối quan trọng nhằm khác phục khó khăn, vực nền kinh tế đi lên Chỉ thị 100 -CT/TW (hay

1 Trường Chinh tiểu sử, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2007

2TS Lê Minh Nghĩa, Đổi mới tư duy kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hội đồng lí luận trung ương, 17/12/2018

Trang 27

còn gọi là khoản 100) là một điển hình quyết tâm của Đảng Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ban hành chỉ thị cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã ra đời, làm cho người lao động thực sự gắn bó với sản phẩm cuối cùng, do đó mà đem hết nhiệt tình lao động và khả năng ra sản xuất, đã bước đầu tạo ra một động lực mới trong sản xuất nông nghiệp Nội dung cơ bản của chỉ thị này

là “tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ” vạch ra những nguyên tắc và chế định mới trong việc cải tiến mạnh mẽ các hình thức khoán đối với xã viên trong các hợp tác xã nông nghiệp, các đội, tổ đối cộng…."Khuyến khích hơn nữa lợi ích chính đáng của người lao động và làm cho mọi người tham gia các khẩu trong quá trình sản xuất và quản lý của hợp tác xã gắn bỏ với sản phẩm cuối cùng, do đó mà đưa hết nhiệt tình và khả năng ra lao động

Thực tế, để tìm lối thoát cho nền sản xuất đã và đang bị cơ chế cũ trói buộc, ở một

số địa phương đã tìm cách “xé rào”, lách qua những khe hở của thể chế hiện hành để hoạt động kinh tế có hiệu quả hơn Đó là phong trào “xé rào" của nhiều xí nghiệp quốc doanh ở

Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm 1978 – 1990, không mua giá lúa theo quy định nhà nước mà mua theo giá thị trường và bán theo giá thị trường Đó là kiến nghị của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam về vay vốn nước ngoài để tổ chức sản xuất trong nước năm 1971 Ở Long An, chính quyền cho người dân khai hoang tứ giác Long Xuyên, giao đất cho hộ nông dân, trả lại máy móc nông nghiệp cho chủ cũ đã gia nhập tập đoàn sản xuất để họ cày cấy… Ngày 21/1/1981, Chính phủ ban hành Quyết định 25-CP “về một

số chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất- kinh doanh

và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh” Cùng ngày Chính phủ ban hành quyết định 26-CP “về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của nhà nước” sau khi đã nghiên cứu và tổng kết những thí điểm, mô hình thực tiễn trên

1 Chỉ thị “ Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp”, Đảng Cộng sản Việt Nam, 1981

Trang 28

Xét về mặt cơ chế quản lý kinh tế, 5 nguyên tắc khoán 100 đã phá vỡ cơ chế tập trung quan liêu trong sản xuất nông nghiệp, nhất là sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất, ruộng đất; quản lý, điều hành tốt lao động làm cho mọi người gắn bó với kết quả cuối cùng; thực hiện phân phối sản phẩm, phân phối theo lao động, bảo đảm hài hòa lợi ích nhà nước - tập thể - người lao động; hợp tác xã thực hiện nguyên tắc "tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ"

Điều quan trọng hơn cả là khi Chỉ thị 100 ban hành, nông nghiệp như được "cởi trói", bước đầu khơi dậy tinh thần làm chủ, phấn khởi của người lao động, tạo động lực thúc đẩy nông nghiệp phát triển và các địa phương, các cấp và nhân dân nhiệt liệt tán thành Nhìn chung, năng suất lúa sau khi thực hiện khoán sản phẩm ở các hợp tác xã đều tăng lên, nơi

Tháng 9-1980, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ đạo thảo luận Hiến pháp mới của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quyết định những công việc bảo đảm thi hành chính Hiển thị sau khi được Quốc hội thông qua

Sau 5 năm 1975-1981, quân đội cả nước đã được thành tựu về mặt nước nhà, chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh biên giới và dã chiến phục hồi một phần hậu quả chiến tranh và thiên tài liên tiếp ra Ở miền Bắc, bước đầu có sự cải tiến của các nông nghiệp từng bước lên sản xuất lớn với các chuyên gia, nhà làm việc Tuy nhiên, kết quả nhìn chung không biến đổi chi tiêu do Đại hội IV ra: lưu thông tin, phân phối rối ren, giá cả tăng vọt, nhập khẩu tăng gấp 4-5 lần xuất khẩu Đời sống của nhân dân, bộ quản lý, công nhân viên, lực lượng vũ trang rất khó khăn Từ cuối năm 1979, ở một số miền bắc miền Bắc xuất hiện

"xé rào", "khoán chui" Ở miền Nam, công việc hợp tác xã diễn ra phức tạp, lúng túng,…

Những khó khăn trên có nguồn gốc sâu xa từ nền kinh tế thấp, thiên tai nặng nề liên tục, chiến tranh biên giới và chính sách vận chuyển, bao vây, cô lập của Mỹ và các thể lực thù địch Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tự phê bình về những điểm khuyết thiếu và sai sót trước Đại hội V của Đảng

1 Chỉ thị 100 và vai trò lịch sử của Ban kinh tế Trung ương, 24/09/2020

Trang 29

Đại hội Đảng thứ V họp từ ngày 27 đến ngày 31-3-1982 trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có một số mặt thuận lợi, nhưng nhiều khó khăn, thách thức mới Đại hội kiểm điểm, đánh giá thành tựu, khuyết điểm sai lầm của Đảng, phân tích nguyên nhân thắng lợi và khó khăn của đất nước, các biến động của tình hình thế giới; khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung và đường lối kinh tế do Đại hội lần thứ IV đề ra Ngoài thông qua những nhiệm vụ kinh tế, văn hoá xã hội, tăng cường Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chính sách đối ngoại, xây dựng Đảng…

Sau Đại hội V, Trung ương Đảng có nhiều Hội nghị cụ thể hoá, thực hiện Nghị quyết Đại hội Nổi bật là Hội nghị Trung ương 6 (7-1984) chủ trương tập trung giải quyết một số vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông với hai loại công việc cần làm ngày: Một là, phải đẩy mạnh thu mua nắm nguồn hàng, quản lý chặt chẽ thị trường tự do; Hai là, thực hiện điều chỉnh giá cả, tiền lương, tài chính cho phù hợp với thực tế

Kết thúc 10 năm 1975-1986, Đảng đã hoàn tất 3 thành công nối bật: Thực hiện thắng lợi hệ thống nhà nước nhất về mặt Nhà nước; đạt được những điều quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội; giành thắng lợi to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và quốc tế nghĩa vụ Những thành công trên đã được tạo ra cho cách mang nước chúng ta những mới nhân tố để tiếp tục tiến lên Sai sót, tẩy trắng nổi bật là không hoàn thành các tiểu mục kinh

tế - xã hội do Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đề ra Đất nước lâm vào khủng hoảng kinh

tế - xã hội kéo dài; sản xuất chậm và không ổn định; nên kinh tế luôn trong trạng thái thiếu hụt, không có tích lũy; lạm phát tăng cao và kéo dài Đất nước bị bao vây, cô lập, chuyển nhân dân hết sức khó khăn, lòng tin đối với Đảng, Nhà nước, chế độ giảm sút nghiêm trọng

Các bước đột phá tháng 8 -1979, tháng 6-1985 và tháng 8-1986 phản ánh sự phát triển nhận thức từ quá tình khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn, từ sáng kiến và nguyện vọng lợi ích của nhân dân để hình thành đường lối mới

Nhìn chung những đổi mới trong chỉ thị 100 của Ban bí thư và Quyết định 25, 26 của Chính phủ là những đổi mới từng phần, tuy chưa đồng bộ nhưng đã mang lại kết quả tích cực trong sản xuất, tạo ra nhưng điều kiện để hình thành đường lối đổi mới để đến Đại hội VI Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới một cách toàn diện

Trang 30

2.1.1.2 Đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đại hội VI (12-1986)

Từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, tại Hà Nội, Đại hội VI của Đảng diễn ra trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang phát triển mạnh, xu thế đối thoại trên thế giới đang dần thay đổi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đều tiến hành cải tổ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam đang bị các đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận và ở tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật đều diễn ra khá phổ biến “Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn" 1

a) Đổi mới trên nhận thức thực tiễn và tư duy chính trị

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội đã đánh giá đúng và nói rõ sự thật, đi sâu phân tích những tồn tại và những sai lầm, nghiêm túc kiểm điểm, nghiêm khắc tự phê bình những sai lầm, khuyết điểm trong chỉ đạo của Đảng trong 10 năm (1975 – 1986) Đó

là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm, khuyết điểm, tư tưởng tiểu tư sản, vừa “tả” khuynh vừa hữu khuynh Nguyên nhân bắt nguồn từ khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng “Những sai lầm và khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của Đảng trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng Cần nhấn mạnh rằng, việc chậm bố trí đúng sự chuyển tiếp hạt nhân lãnh đạo là một nguyên nhân trực tiếp làm cho sự lãnh đạo của Đảng trong những năm gần đây không đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới Ban Chấp hành Trung ương xin tự phê bình nghiêm túc về những khuyết

Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân

Trang 31

Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy

luật khách quan

Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới

Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân

dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa

Đại hội khẳng định, chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, cần có chính sách cơ bản, lâu dài, xác định được những nhiệm vụ, phù hợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên Bốn nhóm chính sách xã hội là: Kế hoạch hoá dân sớm giải quyết việc làm cho người lao động Thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm an toàn, khôi phục trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực xã hội Chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hoá, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của nhân dân Xây dựng chính sách bảo trợ xã hội

Những đổi mới về tư duy chính trị của Đảng đóng vai trò là màn dạo đầu cho đổi mới tư duy kinh tế Đại hội Đảng lần thứ VI đánh giá mô hình kinh tế được áp dụng ở nước

ta trong nhiều năm qua thực chất là mô hình kinh tế hiện vật, phi sản xuất hàng hóa và phi kinh tế thị trường Cần đánh dấu một bước ngoặc mới, mở ra một thời kỳ mới cho đất nước phát triển, trong Đại hội VI của Đảng đã xác định rõ quan điểm coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị

Về cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cho phép

và khuyến khích kinh tế tư nhân, cá thể phát triển trong những ngành nghề, lĩnh vực nhất định Coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn, điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, “đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích lũy tập trung của nhà nước và tranh thủ vốn

Thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế nhằm phát huy tiềm năng và giải phóng

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 32

lực lượng sản xuất Nhưng trong quan điểm của Đảng vẫn còn phân biệt đối với thành phần kinh tế phi nhà nước, vẫn e ngại những mặt “tiêu cực” của các thành phần kinh tế này

“Thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa và kinh tế tư bản tư nhân, thì đương nhiên cũng phải thường xuyên đấu tranh với xu hướng tự phát tư bản chủ nghĩa và những mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế của các thành phần đó Nhà nước dùng pháp luật và chính sách, dựa vào sức mạnh của kinh tế xã hội chủ nghĩa để kiểm soát và chi phối các thành phần kinh tế đó theo phương châm “sử dụng để cải tạo, cải tạo để để sử dụng tốt hơn””1

Về cơ chế quản lý kinh tế, Đảng chỉ rõ việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp Cơ chế mới được xây dựng phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế, thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy kế hoạch hóa làm trung tâm, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ Điều kiện của Việt Nam lúc ấy rất khó khăn, đời sống nhân dân cực khổ, mọi hàng hóa tiêu dùng đều thiếu thốn Chính vì vậy,

ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước là “mở rộng giao lưu hàng hóa, bãi bỏ việc ngăn

Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khi đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa

xã hội, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính chất quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội trong Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 6 (khóa VI) (tháng 3/1989) đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc về mặt tư duy của Đảng so với Đại hội VI Các khái niệm, phạm trù của kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường như: cung - cầu, thị trường, giá cả, bắt đầu được phổ biến rộng rãi Đặc biệt, tại hội nghị này, đã khẳng định: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thị trường xã hội là một

Trang 33

thể thống nhất, thông suốt trong cả nước và gắn với thị trường thế giới với nhiều lực lượng khác nhau tham gia lưu thông hàng hoá Đồng thời, nhấn mạnh “Thị trường tác động đến quá trình tái sản xuất chủ yếu thông qua giá cả Trong quan hệ hợp tác và cạnh tranh, người sản xuất, người lưu thông và người tiêu dùng chủ động mua bán, thỏa thuận với nhau về giá, hình thành nên giá thị trường Tỷ giá giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ phải phù hợp

thay vào đó là cơ chế một giá thống nhất trên toàn quốc, kể cả giá của một số mặt hàng do Nhà nước cần kiểm soát (xăng dầu, điện, nước, cước phí giao thông ) cũng căn cứ theo thị trường, không được ấn định chủ quan, tùy tiện Từ tháng 3 - 1989, Nhà nước quyết định chuyển toàn bộ lương thực và 80% vật tư sang kinh doanh

Đường lối đổi mới tư duy kinh tế của Đảng đã được đề ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI với nội dung cụ thể: cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung bị xóa

bỏ, thay vào đó là cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, với một nền kinh tế nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà nước Đây là một bước tiến dài trong nhận thức của Đảng

về đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước

ta Thành công trong kế hoạch 5 năm (1986 – 1990) thật ra không đơn thuần là phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiểm chế đẩy lùi lạm phúc mà quan trọng hơn là dã chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình dân chủ hóa dời sống kinh tế xã hồi và giải phóng sức sản xuất Là sự chuẩn bị trước cho những năm 1990 - 1991, nguồn viện trợ quốc tế đột ngột bị cắt giảm, thị trường xuất nhập khẩu truyền thống bị lỡng hụt nhưng vì cơ hầu nền kinh tế nước là đã được chuyển đổi, cơ chế quản lý mới đã được xác lập và hat đầu phát huy tác dụng tích cực nên tuy nền kinh tế

có bị chao đảo nhất định nhưng không bị xáo trận lớn

c) Đổi mới về chính sách đối ngoại:

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 49, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 34

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam là cột mốc các học giả quan trọng đánh dấu sự "Cải cách, mở cửa"1, sự chuyển hướng toàn bộ chiến lược (hoặc đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa có thể nói, chiến lược) đối ngoại của Việt Nam Trong Văn kiện Đại hội

VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đổi mới tư duy, nhận thức về các vấn để quan hệ chính trị quốc tế đương đại Khi nhìn định về tình hình thế giới mới, Đảng nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học - kỳ cá thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lượng sản xuất"2 Theo đó, Đảng xác định: “Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa chính trị ngày càng quan trọng đối với kết cục của cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống…, giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, sự lựa chọn duy nhất đúng đến là thi đua về kinh tế,

hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta" 2 và chủ trương phải đối mới phương cách tập hợp lực lượng, “phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với mức mạnh thời đại trong điều kiện mới"

Sau gần hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, ngày 20-5-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết Số 13/NQ-TW Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới Nhận định tình hình thế giới, Bộ Chính trị cho rằng, các nước đang “chạy đua ráo riết về kinh tế

và khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra một nền kinh tế phát triển cao vào cuối thế kỷ này Xu thế đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau ngày

trọng “Với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế chúng ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng

1 Cổ Tiểu Tùng, thông tấn xã Việt Nam: Tài liệu tham khảo đặc biệt sô 037-TTX, 13/2/2007

2 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội

4 Nguyễn Cơ Thạch: Những chuyển biến trên thế giới và tư duy mới của chúng ta, tapk chí Quan hệ Quốc tế,

số 1, tháng 1-1990

Trang 35

thành công chủ nghĩa xã hội hơn”3 So với quan điểm Đại hội VI: “Công cuộc bảo vệ anh ninh chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội cần được tiến hành bằng sức mạnh của mọi lực lượng vũ trang và không vũ trang và bằng mọi phương tiện cần thiết"1; với kết luận của Bộ Chính trị nếu trên, lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam coi "sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế là một nhân tố góp phần giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Đây là bước phát triển mới về tư duy quan hệ chính trị quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam

Bộ Chính trị xác định: mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Việt Nam là giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế, đồng thời nêu rõ quyết tâm, chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình; kiên quyết

mở rộng quan hệ và đa dạng hóa quan hệ hợp tác quốc tế Như vậy cho thấy, Nghị quyết

13 của Bộ Chính trị thể hiện sự đổi mới tư duy về quan hệ chính trị quốc tế, về an ninh và phát triển; về đoàn kết quốc tế và tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế của Việt Nam

Bộ Chính trị coi đây là sự chuyển hướng toàn bộ chiến lược đới ngoại Sự chuyển hướng chiến lược đối ngoại thể hiện trong Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị đã đặt nền móng cho việc hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam “Trong suốt nửa cuối thập kỷ 80, giới lãnh đạo Việt Nam

đã có các chuyển biến lớn trong nhận thức về chính sách đối ngoại chuyển từ đường lối đối ngoại mang đậm tư tưởng ý thức hệ sang đường lối đối ngoại coi trọng lợi ích quốc gia

và tư tưởng chính trị phương thực tế"1

Nhìn chung, chúng ta có thể thấy được công cuộc đổi mới đất nước ta do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo là bước phát triển mới của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là một một đòi hỏi khách quan tất yếu của chính bản thân sự nghiệp cách mạng Việt Nam nhằm đưa đất nước vượt qua khó khăn về kinh tế, vì lợi ích của dân tộc và của nhân dân Đường lối đổi mới của Đảng đã được toàn dân hưởng ứng và thực hiện, thể hiện sự trưởng thành của Đảng trong tư duy lý luận và nhận thức thực tiễn, độc lập, tự chủ, sáng

1 Edited by, Carlyle A Thayer, Ramses Amer: Vietnamese Foreign Policy in Transition, Institute of Southeast Asian Studies

Trang 36

tạo trong đường lối, chính sách và sự lựa chọn hình thức, giải pháp và bước đi thích hợp của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

2.1.3 Đại hội VII của Đảng (6-1991) và sự hoàn thiện đường lối đổi mới:

Trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những diễn biến phức tạp Đó là sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, sự chống phá nhiều phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng Cộng sản, những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch quốc tế hòng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực

và sự hoang mang dao động của một bộ phận những người cộng sản trên thế giới đã tác động đến tư tưởng và tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam Đất nước ta phải đương đầu với các hoạt động phá hoại của các lực lượng thù địch ở cả trong và ngoài nước Tình hình kinh tế và đời sóng của nhân dân vẫn còn khó khăn, đất nước vẫn trong tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội Tuy nhiên, công cuộc đổi mới được Đảng ta đề ra từ Đại hội lần thứ VI (12/1986), bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng

kể, được nhân dân và quốc tế ủng hộ, nhờ đó mà nước ta đã đứng vững và tiếp tục phát triển Nhưng bên cạnh đó, công cuộc đổi mới còn nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết và cần tìm ngay biện pháp khắc phục ngay tại trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991

2.1.2.1 Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỷ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã

tổng kết cách mạng Việt Nam từ năm 1930, nêu lên những bài học và đặc biệt là xác định sáu đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng do nhân dân lao động làm chủ: có một nền kinh tế phát triển cần dựa trên lực lượng sản xuất, hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan

hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới

Trang 37

Cương lĩnh xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, phải trải qua nhiều chặng đường Do vậy, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo

vệ Tổ quốc cần nắm vững bảy phương hướng cơ bản sau đây:

Một là, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng lãnh đạo

Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển mội nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao dộng xã hội và cải thiện đời sống nhân dân

Ba là, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự

đa dạng hoá về hình thức sở hữu, phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất Phát triển liền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Kế thừa, phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại

Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác, hữu nghị tất cả các nước

Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Nâng cao tinh thần cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội

Trang 38

Đại hội hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp đặc điểm của Việt Nam và những giải pháp đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đặt cơ sở và quyết định những bước đi cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước Từ đó củng cố thêm niềm tin tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công cuộc đổi mới đất nước

Trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang diễn ra những biến đổi phức tạp thì

“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội” đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, sự kiên định về lập trường chính trị của Đảng ta trong qụá trình lãnh đạo cách mạng và tạo niềm tin cho nhân dân ta về sự thắng lợi tất yếu của công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa

2.1.2.2 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội

Đại hội VII khẳng định nền kinh tế bước đầu chuyển biến tích cực, hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Lạm phát năm 1988: 393,3%, năm 1990 còn 67,4% Tính chung 5 năm 1986- 1990, tổng sản phẩm trong nước tăng 21,2%, bình quân mỗi năm tăng 3,9% (1986 tăng 0,3%; 1987 lăng 3,6%; 1988 tăng 6,0%; 1989 tăng 4,7%;

1990 tăng 5,1%), không quá thấp so với thế giới

Đại hội thông qua Chiến lược “ổn định và phát trìển kinh tế- xã hội đến năm 2000”

Chiến lược ghi rõ mục tiêu phát triển là "Phát triển kinh tế - xã hội theo con dường củng

cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ

cương, xoá bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc" Mục tiêu tổng quát của Chiến lược đến năm 2000 là: "ra khỏi khủng hoảng,

ổn định tinh hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho

đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đến năm 2000 tăng khoảng gấp đôi so với năm 1990"

Trong giai đoạn 1991-1995, các cách lược tiếp tục tiến hành, ngày càng tập trung vào những đòi hỏi về mặt thể chế và điều tiết của một nền kinh tế có định hưởng thị trường

Trang 39

nhiều hơn Các bỏ luật về việc thành lập và hoạt động của xí nghiệp tư nhân đã được thông qua và khuôn khổ luật pháp cho hệ thống ngân hàng cũng được thiết lập vững chắc hơn Quốc hội đã ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 2 tháng năm 1991 Hai Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính tuy ban hành từ ngày 25 tháng 4 năm 1990, nhưng cũng mới bắt đầu có hiệu lực thực tế từ đầu năm 1991 Chính phủ cũng ban hành các văn bản pháp quy

để tổ chức lại các doanh nghiệp Nhà nước; trợ cấp cho doanh nghiệp Nhà nước về cơ bản

đã chấm dứt Hiến pháp đã được sản dỗi, phản ánh nhu cầu của một nền kinh tế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước Chính sách tiền tệ và tài chính vốn là mối quan tâm đặc biệt đối với doanh nghiệp nay đã trở nên mạnh bạo hơn để tạo một môi trường ổn định cho đầu

tư từ khu vực từ nhân và công cộng Thẩm hụt ngân sách được giảm đáng kể và được bù đắp hoàn toàn thông qua việc bán công trái và trái phiếu kho bạc, việc tăng cung ứng tiến

và tin dụng được gắn chặt với tỷ lệ tăng trưởng thực tế của nền kinh tế và lực lượng thị trường đã có tác động trực tiếp hơn đối với lãi suất và phân bố nguồn vốn khan hiếm

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng có bước tiến mạnh mẽ khi đề cập đến việc phát triển các loại thị trường như tài chính - tiền tệ và thị trường lao động Tuy nhiên chưa đề cập đến thị trường đất đai - bất động sản và thị trường khoa học và công nghệ Đồng thời, Đảng đã chỉ rõ, Việt Nam cần “đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền,

Nam phát triển quan hệ với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới một cách linh hoạt

2.1.2.3 Chủ trương, chính sách đối ngoại

Đại hội Đảng lần thứ VII họp vào tháng 6-1991 Đại hội xác định trọng tâm của công tác đối ngoại là tiếp tục tạo mối trường quốc tế hòa bình, ổn định, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc So với Đại hội VI, Đại hội VII có những điểm mới về chủ trương đối ngoại như:

1 V.I Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcova, 1978, bản tiếng Việt, tập 44

Trang 40

Một, khẳng định mạnh mẽ chủ trương “hợp tác, bình đảng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình", với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển"1

Thể hiện bước tiến về tư duy chính trị của Đảng xuất phát từ nhận thức trong đời sống chính trị - kinh tế quốc tế, quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, bên cạnh lợi ích mang tỉnh giai cấp, mang tính ý thức hệ còn có những lợi ích mang tính phổ biến, tính toàn cầu,

do đó sự phối hợp, hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đế quốc tế là một nhu cầu khách quan Vì vậy, tư duy xác định bạn, “thù” trên cơ sở tiêu chí ý thức hệ đơn thuần của thời kỳ Chiến tranh lạnh không còn phù hợp nữa, mà phải mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn;

Về phương châm đối ngoại do Đại hội VII đề ra, theo một số nhà nghiên cứu thì chính là

sự trở lại với tư tưởng đối ngoại rộng mở của Hồ Chí Minh trong điều kiện mới “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai"2

Hai, lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội, Đảng để ra yêu cầu đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế;

Ba, lần đầu tiên, Đảng đề ra chủ trương gia nhập các tổ chức quốc tế và các hiệp hội kinh tế khác khi cần thiết và có điều kiện;

Bốn, khẳng định quan điểm “sẵn sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng xã hội - dân chủ,."3

Bốn điểm mới nêu trên, thực chất là sự cụ thể hoá và phát triển các quan điểm, chủ trương đối ngoại được để ra trong Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (20-5-1988)

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991

2 Hổ Chỉ Minh Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia hội đại biểu toàn quốc I Hà Nội, 1996

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991

Ngày đăng: 03/12/2022, 19:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Chỉ thị “Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp”, Đảng Cộng sản Việt Nam, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp
16. GS. TS. Phạm Quang Minh, “Lịch sử không cáo chung”: đổi mới của việt nam nhìn từ góc độ so sánh khu vực, Việt Nam 30 năm đổi mới: Thành tựu và phát triển, Sách lưu hành nội bộ, Nxb Hồng Đức, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử không cáo chung
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
20. Tạp chí Cộng sản (29/06/2020). Quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa từ sau đổi mới đến nay - thành tựu và những vấn đề đặt ra. Truy cập từ:https://www.tapchicongsan.org.vn/van_hoa_xa_hoi/-/2018/816918/quan-diem-cua-dang-ve-xay-dung-nen-van-hoa-tu-sau-doi-moi-den-nay---thanh-tuu-va-nhung-van-de-dat-ra.aspx Link
21. Tạp chí Cộng sản (29/06/2020). Quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa từ sau đổi mới đến nay - thành tựu và những vấn đề đặt ra. Truy cập từ:https://www.tapchicongsan.org.vn/van_hoa_xa_hoi/-/2018/816918/quan-diem-cua-dang-ve-xay-dung-nen-van-hoa-tu-sau-doi-moi-den-nay---thanh-tuu-va-nhung-van-de-dat-ra.aspx Link
22. Tạp chí quốc phòng toàn dân. (02/04/2020). Thành tựu lý luận và thực tiễn trong 90 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Truy cập từ http://m.tapchiqptd.vn/vi/ky-niem-90-nam-ngay-thanh-lap-dcs-viet-nam/thanh-tuu-ly- Link
23. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong bối cảnh mới, (29/05/2020). Truy cập từ https://www.moha.gov.vn/nghi-quyet-tw4/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/tang-cuong-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-gop-phan-44395.html Link
25. TS. Nguyễn Thị Hương (02/09/2020), Những dấu ấn quan trọng về kinh tế - xã hội trong hành trình 75 năm thành lập và phát triển đất nước qua số liệu thống kê. Truy cập từ:https://kinhtevadubao.vn/nhung-dau-an-quan-trong-ve-kt-xh-trong-hanh-trinh-75-nam-thanh-lap-va-phat-trien-dat-nuoc-qua-so-lieu-thong-ke-15850.html Link
26. Toàn văn Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Thư viện pháp luật. (26/02/2021). Truy cập từ https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/thoi-su/34574/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang Link
30. Xây dựng Đảng. Quan điểm của Đảng về phát huy nhân tố con người trong phát triển đất nước. Truy cập từ: http://www.xaydungdang.org.vn/Home/dien-dan/2018/12380/Quan-diem-cua-Dang-ve-phat-huy-nhan-to-con-nguoi-trong.aspx Link
31. Xây dựng Đảng. (04/01/2022). Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Truy cập từhttp://www.xaydungdang.org.vn/Home/tutuonghochiminh/2022/16329/Nang-cao-chat-luong-doi-ngu-can-bo-dang-vien-theo-tu.aspx Link
1. Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương: Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
2. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V (15/12/1986), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. Cổ Tiểu Tùng, thông tấn xã Việt Nam: Tài liệu tham khảo đặc biệt. sô 037-TTX, 13/2/2007 Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Khác
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 2, 12, 16, 18, 21, 32, 37, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
13. Đoàn Minh Huấn, Vài nết về cải cách bộ máy nhà nước ở Việt Nam những năm 1986 - 1996, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG ĐỀ TÀI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (Trang 1)
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL - BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG ĐỀ TÀI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL (Trang 2)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w