1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và liên hệ đến sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

31 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và liên hệ đến sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
Tác giả Chỳng Em
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Trung Hiếu
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 283,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lý do đó, nhóm chúng em chọn đề tài: " Lýluận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và liên hệ đến sự phát triển của thànhphần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định h

Trang 2

VIẾT TẮT

Trang 4

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết

Khi đánh giá về khát vọng làm giàu của các nhà tư bản, nhà kinh tế học người AnhT.J.Dunning (1799 - 1873) có câu nói nổi tiếng: “Với một lợi nhuận thích đáng tư bản trởnên can đảm Được đảm bảo 10% lợi nhuận, người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũngđược; được 20% là hoạt bát hẳn lên; được 50% trở nên thật sự táo bạo …” Câu nói đượchiểu dưới góc độ lòng tham của các nhà tư bản làm giàu bằng mọi giá ở giai đoạn Chủnghĩa Tư bản bản hoang dã Cách hiểu đó không sai trong của hoàn cảnh lịch sử giai đoạn

đó, không những vậy ngày nay ở đâu đó vẫn đúng Tuy nhiên nếu có cái nhìn khách quan

và thực tế, sẽ thấy khát vọng làm giàu chân chính của con người đã sản sinh ra kinh tế thịtrường và cũng là động lực quan trọng nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và nềnvăn minh nhân loại Không ai khác, chính những tập đoàn và công ty đó cùng với cácdoanh nghiệp và thành phần kinh tế tư nhân ở các nước phát triển đã mang lại công ănviệc làm cùng khối lượng của cải khổng lồ không chỉ cho riêng các chủ doanh nghiệp màcho toàn xã hội, đáp ứng tốt hơn đời sống vật chất tinh thần của con người Trong bốicảnh khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng ở Việt Nam, từ năm 1954 (với miền Bắc)

và từ năm 1975 (trên phạm vi cả nước) đến trước thời kỳ đổi mới cả nước năm 1986, Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), đã đề ra đường lối Đổi mới, với chủ trương đadạng hoá các loại hình sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần từ môhình kinh tế đơn thành phần là nhà nước Với lý do đó, nhóm chúng em chọn đề tài: " Lýluận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và liên hệ đến sự phát triển của thànhphần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta " Đề tàinày được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Trung Hiếu Chúng em xin bày

tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến ThS Nguyễn Trung Hiếu đã tạo điều kiện thuậnlợi cho nhóm chúng em nghiên cứu đề tài này

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; sự phát triển của thànhphần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam./ (haycần nêu rõ ra hơn)

Trang 5

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu nội dung nói chung trên toàn quốc.

Thời gian: giai đoạn 2010-2020

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu khái quát về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta; đồng thờiphân tích, đánh giá thực trạng thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam, trên cơ sở đó đềxuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực hạn chếmặt tiêu cực của nó trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội định hướng XHCN ở ViệtNam

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu ñược coi trọng sử dụng trong bài lý luận là thu thập,nghiên cứu các tài liệu có sẵn bao gồm các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế - xãhội; các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển thành phần kinh tếnói riêng…, tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, phân tích kinh tế…

Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong

2 chương chính

Chương 1: Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Chương 2: Sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

Trang 6

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

Ở VIỆT NAM

1 Kinh tế và kinh tế thị trường

Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xãhội liên quan trực tiếp vào việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loạisản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của conngười trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn Kinh tế dùng để chỉphương thức sản xuất bao gồm cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; chỉtổng hợp quan hệ vật chất trong xã hội phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất

Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, trong đó cácyếu tố đầu vào,đầu ra của sản xuất đều dược thực hiện thông qua thị trường;tuân theo nguyên tắc và quy luật thị trường Nhờ có tính ưu việt cao nên phầnlớn các nước trên theo giới đều đi theo mô hình hình này

Tại sao nói kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao?Trước khi hình thành kinh tế thị trường thì xã hội xuất hiện lần lượt hai môhình kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa nhưng hầu hết các vật phẩm được sảnxuất ra xuất phát từ nhu cầu nhu cầu và sự buôn bán trao đổi hàng hóa cũng bắtđầu từ sự tự phát không theo một quy luật cụ thể như giá cả, số lượng Sau mộtthời gian thị trường xuất hiện mở rộng và các quan hệ kinh tế hàng hóa sảnxuất tiền tế cũng phát triển và có quy luật của đầu vào đầu ra như quy luật cungcầu và đó là những thứ ưu việt của mô hình kinh tế thị trường đem lại

Kinh tế thị trường có nhiều mô hình và hướng đi khác nhau tùy thuộc điều kiệnkinh tế chính trị và xã hội mà chính phủ của nước đó xác định như Kinh tế thịtrường tự do mới của Mỹ, kinh tế thị trường xã hội của CHLB Đức, … Còn ởViệt Nam, với mục tiêu dài hạn là tiến đến xây dựng chủ nghĩa xã hội và lấykinh tế thị trường làm phương tiện nên chính phủ quyết định lấy mô hình Kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 7

2 Kinh tế thị trường định hướng XHCN

2.1 Khái niệm

Kinh tế thụ trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theocác quy luật của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lậpmột xã hội mà ở đó dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có sựđiều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Vì là kinh tế thị trường thì mọi hoạt động của nó vẫn phải tuân theo các quyluật chung của thị trường dù cho nó được đình hướng theo con đường nàoViệc phát triển kinh tế là một phương tiện đắc lực cho nhà nước đạt được mụctiêu xác lập một xã hội mà ở đó dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh và lưu ý phải đồng bộ hóa được sự phát triển những mục tiêu này vì nếu

bỏ sót đi một mục tiêu có thể khiến đất nước đó rồi vào cảnh khốn cùng trongtương lai Lấy ví dụ như một số nước tuy rất ổn định về kinh tế nhưng đất nướclại phải chịu sự lệ thuộc lớn vào nước ngoài và khi đó chỉ cần đất nước mà họ

lệ thuộc có biến động sẽ khiến cho họ cũng lung lây theo, hoặc như Triều Tiên,tuy rằng đất nước họ rất mạnh về quân sự và một trong số ít nước có thể pháttriển vũ khí hạt nhân nhưng rõ ràng người dân của đất nước đó rất nghèo, độchênh lệt giàu nghèo cũng rất cao, … Vì lý do đó ta phải thật sự thân trọng vàphân chia đều sự quan tâm khi cân bằng tất cả các mục tiêu mà mình đặt ra

Sự điều tiết của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là điều cần thiết để giữđược ổn định, có nhiều nền kinh tế cạnh tranh đã sụ đổ khi thiếu sự can thiệpkịp thời của nhà nước nhưng không có nghĩa là nhà nước được phép can thiệpsâu vào nên kinh tế đó mà chỉ tác động qua các thực thể có sẵn như ngân hàngnhà nước, doanh nghiệp nhà nước

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của thời kỳ ĐổiMới, thay thế nền kinh tế kế hoạch bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơchế thị trường Những thay đổi này giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tếtoàn cầu Cụm từ "định hướng xã hội chủ nghĩa" mang ý nghĩa là Việt Nam

Trang 8

chưa đạt đến chủ nghĩa xã hội mà đang trong giai đoạn xây dựng nền tảng chomột hệ thống xã hội chủ nghĩa trong tương lai Mô hình kinh tế này khá tươngđồng với mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (socialist marketeconomy) của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó các mô hình kinh tế tậpthể, nhà nước, tư nhân cùng tồn tại, và khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

2.2 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với tính quy luật phát triển củakhách quan Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa,

ở Việt Nam những điều kiện cho sự hình thành và phát triển của kinh tế hànghóa không mất đi mà còn phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, sựphát triển kinh tế hàng hóa tất yếu hình thành kinh tế thị trường.Như vậy, sự lựachọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam làphù hợp với xu thế của thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc

Kinh tế thị trường có rất nhiều ưu việt, là động lực quan trọng thúc đẩy sự pháttriển kinh tế, xã hội của đất nước Kinh tế thị trường là phương thức phân bổnguồn lực hiệu quả mà loài người đã đạt được so với các mô hình kinh tế phithị trường, là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và hiệu quảcao Dưới tác động của các quy luật thị trường nền kinh tế luôn phát triển theohướng năng động, kích thích tiến bộ kỹ thuật – công nghệ, nâng cao năng suấtlao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm Xét trên góc độ đó,

sự phát triển kinh tế thị trường không hề mâu thuẫn mà còn là cơ sở vật chất tạođiều kiện thực hiện những mục tiêu XHCN

Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với nguyệnvọng của nhân dân mong muốn một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh Sự tồn tại của kinh tế thị trường ở nước ta tạo ra một động lựcquan trọng cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹthuật cho chủ nghĩa xã hội Với đặc điểm lịch sử của dân tộc, Việt Nam khôngthể lựa chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, chỉ có lựa chọn mô

Trang 9

hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới phù hợp với ý chí vànguyện vọng của đông đảo nhân dân về một xã hội dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh

2.3 Những đặc trưng cơ bản và những nhiệm vụ chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Về mục tiêu:

 Hướng tới phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội; nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện “ dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh”

Về quan hệ sỡ hữu và thành phần kinh tế:

 Trong nền KTTT định hướng XHCN tồn tại hiều quan hê sở hữu với nhiều thànhphần kinh tế khác nhau và trong đó có 4 thành phần kinh tế chính: TPKT nhà nước,TPKT tập thể, TPKT tư nhân và TPKT có vốn đầu tư nước ngoài

 Các thành phần kinh tế này đều độc lập bình đẳng trước pháp luật và nhà nướckhuyến khích mọi thành phần cùng phát triển

 Các TPKT ngoài có tính thống nhất còn có các sự khác nhau thậm chí là mâu thuẫnlàm cho nền KTTT phát triển theo nhiều hướng khác nhau và nhà nước có vai trònhệm vụ là giữ cho các khuynh hướng đó giữ vững định hướng XHCN

Về quan hệ quản lý nền kinh tế:

 Sự can thiệp của nhà nước vào nên kinh tế của các nước chủ yếu nhằm khắc phụccác hạn chế cũng như khuyết tật của kinh tế thị trường

 Còn ở Việt Nam: Nhà nước quản lý và thực hành cơ chế quản lý là nhà nước phápquyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của ĐCS,

sự làm chủ và giám sát của nhân dân

 Nhà nước quản lý nền kinh tế qua pháp luật, các chiến lược, kế hoạch và cớ chếchính sách phù hợp Nhà nước chăm lo xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạomôi trường, thị trường khuyến khích các TPKT để phát triển nền kinh tế Songsong với đó nhà nước cũng sẵn sàng hỗ trợ thị trường khi cần thiết

Trang 10

Về quan hệ phân phối:

 KTTT định hướng XHCN phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh

tế, theo mức đóng góp ốn cùng các nguồn lực khác và thông qua hệ thống an sinh

xã hội, phúc lợi xã hôi Lý do cho việc tại sao lại có nhiều hình thức phân phối nhưvậy chủ yếu đến từ sự đa dạng của TPKT và những hình thức phân phối khác nhaulại phù hợp với một số TPKT, quan hệ sỡ hữu nhất định

Về quan hệ giữa gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội:

 Nền kinh tế luôn gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, giáo dục, xâydựng con người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội

 Nền kinh tế đó luôn có sự gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xãhội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, mọi ngườiđều có cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện Đây cũng là một trong những mụctiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự khác biệt

so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa về việc phân cực giàu nghèo, phân hóa

xã hội

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ NHÂN

1 Khái quát về thành phần kinh tế tư nhân

1.1 Khái niệm

Kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sởhữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tưbản tư nhân Cả hai thành phần kinh tế trên thuộc cùng chế độ sở hữu tư nhân

về tư liệu sản xuất; tuy nhiên, quy mô sở hữu là khác nhau

1.2 Đặc điểm của thành phần kinh tế tư nhân

Các doanh nghiệp trong và ngoài nước nằm trong TPKT tư nhân có vốn đàu tưthuộc về tư nhân trên 50% Các DNTN tự bỏ tiền túi của mình để đầu tư làm ăn

và có quyền được hưởng thành quả mà họ tạo ra

Nguyên tắc hoạt động của các loại hình DNTN đã được khái quát thành nguyêntắc “bốn tự” Đó là tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ

Trang 11

Đây là khu vực kinh tế rất nhạy cảm với những đặc trưng của kinh tế thịtrường, có tiềm lực lớn trong việc nâng cao năng lực nội sinh của đất nước,tăng trưởng kinh tế

1.3 Đặc điểm của thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta

2 Thực trạng phát triển của các thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta

2.1 Những thành tựu và nguyên nhân

2.1.1 Những thành tựu

2.1.1.1 Quy mô sản suất

VinFast (tên đầy đủ: Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và kinh doanhVinFast) là một nhà sản xuất ô tô và xe máy điện của Việt Nam được thành lậpnăm 2017, có trụ sở đặt tại thành phố Hải Phòng VinFast có một nhà máy lắpráp, sản xuất chính đặt tại thành phố Hải Phòng, nhà máy có diện tích 335hecta với tổng số vốn đầu tư đạt 3,5 tỷ USD và là một trong những dự án côngnghiệp lớn nước ta Công ty hợp tác về công nghệ, kỹ thuật, hỗ trợ tư vấn chiếnlược, đào tạo nguồn nhân lực với các nhà sản xuất ô tô, linh kiện phụ tùng vàthiết bị công nghiệp nặng lớn nhất trên toàn cầu như BMW, Bosch,Pininfarina, General Motors…

Những sản phẩm đã được giới thiệu trên thị trường:

Vào ngày khánh thành nhà máy sản xuất ô tô tại Hải Phòng 14 tháng 6 năm

2019, công ty công bố con số đơn đặt hàng ô tô chạy xăng là hơn 10.000 chiếccho 3 dòng sản phẩm VinFast LUX A2.0, SA2.0 và Fadil đã được giới thiệutrước đó

Mẫu xe VinFast President giới thiệu năm 2019 tại Triển lãm mô tô Geneva, dựkiến ra mắt 2020 là phiên bản đặc biệt giới hạn, Với động cơ V8 6.2L, tốc độtối đa gần 300 km/h, VinFast President là một trong những mẫu xe thương mạimạnh mẽ nhất hiện nay, biểu trưng cho đẳng cấp, chất lượng của thương hiệu ô

tô Việt Nam sau hai năm ra mắt

Trang 12

Xe máy điện VinFast Klara là chiếc xe máy chạy bằng năng lượng điện đầutiên được sản xuất tại Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn về thông minh, phùhợp với thể trạng người Việt Nam và điều kiện giao thông khu vực.

VinBus được Vingroup thành lập ngày 25 tháng 4 năm 2019 Vinbus sử dụng

xe buýt điện do VinFast sản xuất để vận tải hành khách nội thành, ngoại thành,

và liên tỉnh với cơ cấu hoạt động theo mô hình phi lợi nhuận Theo mô hìnhphi lợi nhuận của công ty thì 100% lợi nhuận sẽ được tái đầu tư nhằm nâng caochất lượng dịch vụ, phát triển hệ thống và mở rộng các tuyền đường để đưa tớingười dân một dịch vụ giao thông công cộng văn minh cũng như hiện đại.Ngày 24 tháng 3 năm 2021, VinFast chính thức mở bán mẫu xe ô tô thể thao

đa dụng chạy điện VFe34 Mẫu e34 được ra mắt online ngày 15/10/2021

2.1.1.2 Tính cạnh tranh

Sẵn sàng cạnh tranh trong khu vực và trên toàn cầu:

Sản xuất ra những chiếc xe ô tô trong một nhà máy mới được xây dựng trongvòng chưa đầy hai năm là một điều chưa từng xảy ra Tuy nhiên, ngay từ đầuvới tham vọng có thể cạnh tranh ở Việt Nam cũng như trên toàn cầu, VinFast

đã dựa vào kinh nghiệm chuyên môn của Siemens để tận dụng những côngnghệ tiên tiến nhất Điều này tạo ra một hệ thống sản xuất khép kín sử dụngcác bản sao số của sản phẩm, quy trình sản xuất và hiệu suất sản xuất và sảnphẩm Nhà máy số toàn diện được xây dựng trong vòng 21 tháng, nhanh hơn50% so với thông thường và được thiết kế để có thể dễ dàng mở rộng trongtương lai

2.1.1.3 Ứng dụng công nghệ cao sản xuất

Internet kết nối vạn vật (IoT - Internet of things) là nền tảng tiên tiến mang đếncách tiếp cận và giải pháp mới cho những vấn đề trong quản lý, sản xuất vàsinh hoạt hàng ngày Trong đó, ứng dụng công nghệ IoT đối với ngành côngnghiệp ô tô là xu hướng đang được ưa chuộng trên toàn thế giới

IoT là một hệ thống gồm hàng tỷ các thiết bị phức tạp như điện tử, cảm biến,thiết bị truyền động, trung tâm nền tảng… kết nối và tương tác với nhau qua

Trang 13

mạng không dây mà không yêu cầu bất kỳ sự can thiệp nào của con người Ứngdụng IoT trong lĩnh vực ô tô đang thay đổi nhanh chóng ngành công nghiệp nàynhằm nâng cao trải nghiệm di chuyển và khả năng quản lý, đồng thời mở ramột tương lai của các phương tiện thông minh, tự hành.

VinFast tự hào là hãng xe tiên phong trong việc ứng dụng ô tô IoT tại ViệtNam, khởi đầu là xe điện VF e34 Mẫu ô tô thế hệ mới sở hữu nhiều tính năngthông minh phục vụ người dùng như: tương tác, quản lý xe qua smartphone, kếtnối Apple Carplay và Android Auto, cập nhật phần mềm FOTA, định vị xe, tựđộng chẩn đoán và cảnh báo hư hỏng, gọi dịch vụ cứu hộ khẩn cấp eCall, lưutrữ lịch sử hoạt động của xe, Ngoài ra, ứng dụng quản lý trên VF e34 còn đưa

ra các thông tin về bản đồ, quãng đường, cho phép người dùng lên trước lịchtrình di chuyển hay xác định vị trí các trạm sạc hoặc xưởng dịch vụ VinFastgần nhất Bên cạnh đó, khoang lái của mẫu xe điện VF e34 cũng sở hữu mộtloạt công nghệ thông minh như điều khiển bằng giọng nói tiếng Việt, ứng dụngtrí tuệ nhân tạo giúp ghi nhớ sở thích, thói quen của người dùng và hệ thốnggiải trí thông minh, hiện đại

VinFast đang sử dụng các giải pháp toàn diện của Siemens như phần mềmQuản lý Vòng đời Sản phẩm (PLM) với danh mục hàng đầu Tecnomatix vàphần mềm Quản lý Hoạt động Sản xuất (MOM), cho tới danh mục tổng thểmới, hài hòa của phần mềm Siemens Opcenter để hiện thực hóa quy trình sảnxuất tinh gọn qua tất cả các khâu, và giải pháp Tự động hóa Tích hợp Toàn diện(TIA) cho các khâu tự động hóa, bao gồm robot, băng tải, máy ép và máy phay.Cách tiếp cận toàn diện này đã tăng tốc độ và tính linh hoạt trong việc pháttriển, đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu khắt khe trong sản xuất, tối ưuhóa quy trình sản xuất, đồng thời giúp cho toàn bộ nhà máy có thể chủ động sẵnsàng cho việc mở rộng hơn nữa và phát triển các mô hình kinh doanh mới trongtương lai

Hợp nhất hai thế giới ảo và thực

Trang 14

Việc phát triển mẫu xe hơi và xe tay ga mới, lên kế hoạch cho nhà máy mới vàcuối cùng là sản xuất với sự hỗ trợ từ các công cụ số tạo ra một hình ảnh môphỏng chi tiết, bản sao số Bản sao số tạo ra những hiểu biết mới, nhờ sự kếthợp giữa mô phỏng vật lý với phân tích dữ liệu trong một môi trường hoàn toàngiả lập Điều này giúp việc hiện thực hóa các đổi mới sáng tạo trở nên nhanh vàđáng tin cậy hơn, trong khi giảm đáng kể các yêu cầu về nguyên mẫu thực tế.Thậm chí nhiều dữ liệu hơn được tạo ra khi sản phẩm đang được sản xuất hoặcnhà máy bắt đầu hoạt động.

Những dữ liệu về hiệu suất của quy trình sản xuất và sản phẩm thực có thểđược thu thập, phân tích và truyền trở lại vào chu kỳ phát triển, từ đó giúpVinFast cải thiện và tối ưu hóa các sản phẩm và quy trình mới ngay từ giaiđoạn ban đầu

2.1.1.4 Giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao

Tỉ lệ (%) thiếu việc làm của lực lượng lao động

nước ta qua từng năm (2010 - 2021)

Trang 15

Theo tổng cục thống kê (GOS) tỉ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao độngnước ta đang có dấu hiệu tăng trở lại những năm gần đây Để giải quyết nhucầu việc làm đó cần sự chung tay của nhiều bên, đặc biệt là các doanh nghiệp

tư nhân Trái với tình trạng này, một báo cáo khác chỉ ra nhiều doanh nghiệptại Việt Nam lại rơi vào tình trạng thiếu hụt nhân sự trầm trọng, thường là ví trịyêu cầu chuyển môn cao

Để dễ dàng tiếp cận nguồn nhân lực đó, cụ thể là đối tượng sinh viên mới ratrường chưa có kinh nghiệm thực tiễn, các doanh nghiệp tư nhân thường kếthợp với trường để tổ chức những buổi hội chợ việc làm – job fair Qua đó, cácdoanh nghiệp có thể tiếp cận với người lao động một các dễ dàng hơn Ngoài

ra để có thể thu hút các lao động có chuyên môn thấp hơn thì doanh nghiệp cần

có chế độ đãi ngộ tốt… Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast thành viên Tập đoàn Vingroup đã thực hiện các giải pháp trên để có nguồn laođộng nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất tăng cao của các dòng xe ô tô Qua đógiải quyết phần nào vấn đề việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động

-2.1.2 Nguyên nhân

2.1.2.1 Chất lượng sản phẩm

Để có được thành công vượt bậc và nhanh chóng của một tập đoàn còn non trẻnhư VinFast là dấu ấn của một sản phẩm chất lượng Thay vì tự doanh nghiệpđầu tư con người, tiền bạc để thiết kế lại một dây chuyền sản xuất xe hơi hoànthiện thì VinFast đã hợp tác với các công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực ô

tô như BMW, Pininfarina, Bosch để đặt hàng tất cả các chi tiết từ những nhàsản xuất đó và tổng hợp lại thành xe hoàn chỉnh cho riêng mình Việc mua lạibản quyền một số chi tiết để phát triển xe mới là kiểu thường gặp trong ngànhbốn bánh Những công ty giàu tiềm lực nhưng không có kinh nghiệm về côngnghệ sẽ đi tắt để tạo ra mẫu xe như các hãng khác Các mẫu xe VinFast đều đạttiêu chuẩn cao về chất lượng nhờ nền tảng khung gầm và hệ thống động cơcông nghệ Đức có độ hoàn thiện cao, được sản xuất bởi hàng nghìn robot vàquy trình kiểm soát nghiêm ngặt

Ngày đăng: 03/12/2022, 15:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w