BÀI THU HOẠCH MÔN QUAN HỆ QUỐC TÉ MỞ ĐẦU Trong bối cảnh hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa. Vấn đề giao lưu, hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế khách quan đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Trong thời kỳ đổi mới Việt Nam đã tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại đa phương, song phương, tham gia vào thành viên của các tổ chức quốc tế, nhằm duy trì hòa bình, ổn định, từng bước nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Từ khi đề ra đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta đã đề ra nhiều chính sách về thực hiện công tác đối ngoại và quan hệ quốc tế, đến nay đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao. Với một tình miền núi còn nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế và mức sống của người dân còn thấp như tỉnh Bắc Kạn thì việc nâng cao các hoạt động đối ngoại và quan hệ quốc tế đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Xuất phát từ lý do đó, tôi lựa chọn nghiên cứu chuyên đề “Quá trình triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới”.
Trang 1MÔN QUAN HỆ QUỐC TÉ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Trang 2MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI 2
1.1 Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (1986) đến năm 1995 2
1.2 Giai đoạn từ sau Đại hội VIII (1996) đến năm 2010 - giai đoạn mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế 4
1.3 Giai đoạn từ sau Đại hội XI (2011) đến nay - giai đoạn đưa các quan hệ đi vào chiều sâu và hội nhập quốc tế toàn diện 5
II NỘI DUNG VÀ THÀNH Tựu TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY 6
2 1 Nội dung cơ bản trong đường lối đối ngoại của đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay 6 2.2 Thành tưu, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới 12
2.2 Hoạt động đối ngoại của tỉnh Bắc Kạn 15
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
và xu hướng toàn cầu hóa Vấn đề giao lưu, hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế khách quan đối với mỗi quốc gia, dân tộc Trong thời kỳ đổi mới Việt Nam đã tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại đa phương, song phương, tham gia vào thành viên của các tổ chức quốc tế, nhằm duy trì hòa bình, ổn định, từng bước nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế
Từ khi đề ra đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta đã đề ra nhiều chính sách về thực hiện công tác đối ngoại và quan hệ quốc tế, đến nay đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao
Với một tình miền núi còn nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế và mức sống của người dân còn thấp như tỉnh Bắc Kạn thì việc nâng cao các hoạt động đối ngoại và quan hệ quốc
tế đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội của địa phương
Xuất phát từ lý do đó, tôi lựa chọn nghiên cứu chuyên đề “Quá trình triển khai
đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới”.
Trang 4NỘI DUNG
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.1 Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (1986) đến năm 1995
Đây là giai đoạn hình thành đường lối đối ngoại đổi mới, đồng thời phá thế bị bao vây cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị, thể hiện qua các văn kiện sau:
Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đồng thời cũng mở đầu quá trình hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới Đại hội xác định
nhiệm vụ hàng đầu là tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, Đảng ta,
trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi
mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đối ngoại thêm bạn, bớt thù; phá thế bị bao
vây, cấm vận; mở rộng quan hệ quốc tế, theo đó phương hướng đối ngoại được xác định
là:
Phát triển và củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền mỗi nước Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn
đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam sẵn sàng đàm phán
để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, tiến tới bình thường hóa quan hệ Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI (1988) là bước ngoặt, có tính đột phá về đổi mới tư duy đối ngoại, đánh dấu sự hình thành bước đầu chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa Với nhận thức mới đúng đắn, toàn diện hơn về vấn đề an ninh,_bao gồm cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong, Đảng ta xác định nhiệm vụ đối ngoại chuyển từ chỗ chú trọng nhân tố chính trị - quân sự sang ưu tiên cho nhân tố kinh
tế, ưu tiên giữ vững hòa bình, độc lập dân tộc, có cách tiếp cận toàn diện hơn về tình hình thế giới và khu vực Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, Đảng ta triển khai chính sách đối ngoại “thêm bạn, bớt thù”, nhấn mạnh chủ trương phát triển quan hệ với tất cả các nước có chế độ chính trị khác nhau trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989) là sự phát triển tiếp theo của đổi mới tư duy đối ngoại Hội nghị đã nhận thức nhiều vấn đề đối ngoại cần phải giải quyết, trong đó một lần nữa tái khẳng định đối ngoại phải chuyển từ chính trị-an ninh là chủ yếu sang chính trị
Trang 5- kinh tế là chủ yếu; thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; xác định lộ trình cải thiện quan hệ với các nước ASEAN; xác định lộ trình rút quân khỏi Campuchia; tiếp cận lộ trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ
Đại hội VII của Đảng (1991) là bước phát triển mới trong việc hình thành chính sách đối ngoại đổi mới Đại hội xác định nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công Cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên tinh thần đó, Đại hội đề ra chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình Cũng tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra phương châm chiến lược trong chính sách đối ngoại: “Việt Nam muốn là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” đồng thời khẳng định chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Nhà nước Việt Nam
Khẳng định mục tiêu của đối ngoại là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị
và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) đã nêu ra 4 phương châm chỉ đạo, xử lý các vấn đề quốc tế: bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; tham gia hợp tác với các nước trong khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước, chú trọng quan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh tế lớn Bốn phương châm này được xem là cẩm nang trong xử lý các vấn đề đối ngoại cho mọi cấp, mọi ngành và mọi địa phương
Với chính sách đối ngoại đúng đắn, ngoài việc huy động nguồn lực từ bên ngoài để cùng nguồn lực trong nước, chúng ta không những đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, mà còn phá được thế bị bao vây, cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị, tạo điều kiện thuận lợi để đất nước bước vào chặng đường phát triển mới “ chặng đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
1.2 Giai đoạn từ sau Đại hội Vin (1996) đến năm 2010 - giai đoạn
Ạ _ _ 1 Ạ -* Ạ • > 1 Ạ • _ 1_ _ Ậ _ |Ậ
mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế
Trang 6Trước những biến đổi của tình hình thế giới và xuất phát từ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, các Đại hội VIII, IX và X của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại đổi mới, cụ thể như sau:
Đại hội VIII của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại đổi mới Trên cơ sở thế và lực mới của nước ta, Đại hội lần đầu tiên nêu nhiệm vụ hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo hướng xây dựng nền kình tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới Đây là điểm khởi đầu quan trọng cho một chủ trương đối
ngoại lớn và xuyên suốt của Đảng là hội nhập kinh tế quốc tế (và đến nay là hội nhập quốc tế) Đại hội VIII cũng đồng thời tuyên bố “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
Đại hội IX của Đảng (2001) bổ sung làm rõ thêm chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Tại Đại hội này, lần đầu
tiên Đảng ta đưa ra chủ trương chủ động hội nhập kình tế quốc tế và khu vực theo tinh
thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ
và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường Phát triển quan điểm mở rộng quan hệ đối ngoại của Đại hội VII và VIII, Đại hội IX nêu rõ: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
Đại hội X của Đảng (2006) tiếp tục bổ sung đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới với tuyên bố: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định và bền vững” Đại hội cũng bổ sung quan điểm hội nhập
quốc tế với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Với chủ trương đúng đắn này, quan hệ đối ngoại của Việt Nam không ngừng được
mở rộng Đến cuối năm 2010, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 179 nước, quan hệ kinh tế - thương mại với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ, thu hút ngày càng nhiều nguồn lực quý báu cho phát triển kinh tế - xã hội nước nhà Đây cũng là giai đoạn Việt Nam đẩy mạnh hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực như: tích cực triển khai các hoạt động trong khuôn khổ AFTA, là thành viên sáng lập ASEM năm 1996 và đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ASEM-5 năm 2004; tham gia APEC năm 1998 và đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh APEC năm 2006; chính thức trở thành thành viên WTO đầu năm 2007
Trang 71.3 Giai đoạn từ sau Đại hội XI (2011) đến nay - giai đoạn đưa các
1 Ạ > _ 1 _ • Ạ Ạ > 1 Ạ • _ 1 _ ^ _ Ạ _ i Ạ i _ ^ 1 • Ạ
quan hệ đi vào chiêu sâu và hội nhập quốc tế toàn diện
Tại Đại hội XI của Đảng, đường lối đối ngoại tiếp tục bổ sung, hoàn thiện Tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng xác định mục tiêu hàng đầu của đối ngoại là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” Như vậy, lợi ích quốc gia - dân tộc là tiêu chí hàng đầu để xác định hợp tác và đấu tranh, là đối tác và đối tượng Cũng tại Đại hội XI, trên cơ sở thé và lực mới của Việt Nam trên trường quốc tế, Đảng đưa ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” Như vậy, Đảng đã chuyển nội dung trọng tâm của đối ngoại từ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế sang hội
nhập quốc tế một cách toàn diện
Đại hội XII của Đảng (2016), trên cơ sở kế thừa những nội dung đối ngoại của các
Đại hội trước đó, đã nhấn mạnh mục tiêu hàng đầu của đối ngoại là phải bảo đảm lợi ích
tối cao của quốc gia - dân tộc, xác định nhiệm vụ đối ngoại là phải nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Đại
hội XII cũng nhận thấy tầm quan trọng của ngoại giao đa phương trong quan hệ quốc tế hiện nay và nhấn mạnh nhiệm vụ đối ngoại là phải “tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác
đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa phương, chủ động
và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương”
Đại hội XIII của Đảng (2021) tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế , chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”
II NỘI DUNG VÀ THÀNH Tựu TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI
NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY • ' • •
Trang 82 1 Nội dung cơ bản trong đường lối đối ngoại của đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay
Mục tiêu của hoạt động đối ngoại là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quổc
và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc: Có hai loại nguyên tắc trong hoạt động đối ngoại
- Nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt, bao trùm trong đường lối đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta là hòa bình, độc lập, thong nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, phải sáng
tạo, năng động, linh hoạt trong xử lý các tình huống, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, với
vị trí của Việt Nam cũng như diễn biến của tì nh hình thế giới và khu vực, phù hợp với
đặc điểm của từng đối tác Trong xử lý tình huống, cần “ba tránh”: tránh bị cô lập, tránh
xung đột và tránh đối đầu.
- Các nguyên tắc cụ thể: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế Giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình Tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng cólợi
Nhiệm vụ đối ngoại thể hiện trên các vấn đề sau:
Thứ nhất, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa Nhiệm vụ đối ngoại trước hết phải bảo vệ được lợi ích tối cao quốc gia - dân tộc, bảo vệ Tổ quốc bao gồm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Để giữ vững hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vấn đề đầu tiên phải xây dựng nền quốc phòng chính quy, ngày càng hiện đại Tuy nhiên, trong điều kiện thế giới ngày nay, để bảo vệ đất nước theo quan điểm chỉ đạo của Đảng là
giữ nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước còn chưa nguy thì còn cần phải kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sử dụng sức mạnh trong nước và sức mạnh bên ngoài và do đó, đối ngoại có tầm rất quan trọng
Thứ hai, đối ngoại có nhiệm vụ tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định,
huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước Nhiệm vụ đối ngoại là phải tạo
Trang 9lập được môi trường hôa bình để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giữ vững môi trường hòa bình bao gồm hòa bình, ổn định trên tất cả lĩnh vực ở trong nước, là môi trường hòa bình ở khu vực, trước hết là khu vực Đông Nam Á, tiếp đến là khu vực Đông Á và rộng hơn là khu vực châu Á
- Thái
Bình Dương Chỉ trên cơ sở giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, chúng ta mới có điều kiện mở rộng quan hệ họp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước Điều này càng quan trọng trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ và tác động sâu rộng
Thứ ba, đối ngoại có nhiệm vụ nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc
tế Để nâng cao vị thế của đất nước, trong các văn kiện Đại hội, Đảng ta đã khẳng định
Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Thứ tư, đối ngoại đặt lợi ích quốc gia - dân tộc là cao nhất, song Việt Nam vẫn luôn
kiên trì chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nhiệm vụ của đối ngoại là góp phần vào cuộc đấu tranh vì mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dần tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
2.1.2 Phương châm đối ngoại
Một là Phái huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; dựa và phát huy nội lực là chính, tranh thủ tối đa ngoại lực Nội hàm của “sức mạnh dân tộc” trong bối cảnh ngày nay bao gồm cả các yếu tố sức mạnh “cứng” như kinh tể, quân sự, con người , các nguồn lực có thể huy động ở trong nước và các yếu tố của sức mạnh “mềm” như văn hóa, truyền thống Sức mạnh cứng và sức mạnh mềm cần được vận dụng, kết hợp một cách hiệu quả, linh hoạt để bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc Nội hàm sức mạnh thời đại bao gồm: lựa chọn con đường phát triển phù hợp với nội dung chủ yếu của thời đại ngày nay và những nhân tố mới trong giai đoạn hiện nay là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; xu thế toàn cầu hóa, hợp tác liên kết khu vực; xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển
Việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong thế giới ngày nay cũng
có nhiều thay đổi Hoạt động đối ngoại của các nước trên thế giới ngày nay luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu, cho nên việc tìm ra phương thức hữu hiệu để kết hợp
Trang 10sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong từng vấn đề cụ thể là nhân tố quyết định thành bại của phương châm này
Hai là Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; vừa hợp tác, vừa đấu tranh Trong điều kiện
mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, Việt Nam đứng trước những cơ hội mới, song nguy cơ và thách thức tư bên ngoài cũng gia tăng Do đó, cần nhận thức đúng và nắm vững vấn đề hợp tác và đấu tranh, coi đây là hai mặt gắn bó hữu cơ của quan hệ quốc tế Trong phương châm nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh, Đảng ta nhấn mạnh một nhận thức mới, đớ là đấu tranh nhằm thúc đẩy hợp tác, tránh trực diện đối đầu, không để cho các thế lực không thân thiện với Việt Nam lợi dụng sơ hở để đẩy ta vào thế cô lập, đặc biệt là tránh một cuộc xung đột quân sự hoặc bị khiêu khích vũ trang Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh còn nhằm lợi dụng mâu thuẫn và sự cạnh tranh giữa các đối tác có quan hệ với nước ta, nhất là giữa các nước lớn, tranh thủ những lực lượng có thể tranh thủ được, phân hóa và thu hẹp đến mức có thể được các thế lực chống đổi hoặc không thân thiện với Việt Nam
Ba là tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước Phương châm này thể hiện chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là
mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng hợp tác khu vực, nhất là đối với các nước láng giềng nhằm tạo một môi trường hòa bình, ổn định lâu dài Việc tạo lập được mối quan hệ hợp tác trên cơ sở tùy thuộc lẫn nhau về an ninh cũng như
về phát triển với các nước trong khu vực sẽ là sự bảo đảm hết sức quan trọng đối với Việt Nam nhằm xác lập một vị thế có lợi hoặc chí ít là ít bất lợi nhất trong quan hệ quốc tế Cùng với việc đặt cao quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng và khu vực, Đảng và Nhà nước Việt Nam đồng thời nhấn mạnh sự cần thiét phải mở rộng quan
hệ với tất cả các nước, đặc biệt là các nước lớn, các trung tâm kinh tế lớn, vì đó là những lực lượng có ảnh hưởng quan trọng đến an ninh và phát triển của khu vực và của Việt Nam Với các nước lớn, phải coi trọng giữ quan hệ cân bằng, khôn khéo lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước này nhằm tạo được thế cân bằng chiến lược, tranh thủ mọi yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng
Trong quan hệ với các nước lớn, Việt Nam kiên trì chính sách độc lập tự chủ, tránh không để rơi vào những tình huống phức tạp và bị động hoặc liên minh với một nước lớn này chống lại một nước lớn khác