MỞ ĐẦU Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn công tác đối ngoại phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ ”. Thực hiện lời dạy của Người, trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, kế thừa và phát huy truyền thống đối ngoại vẻ vang của dân tộc, nhất là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho nền ngoại giao Thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kế thừa và không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở vì hòa bình, hợp tác và phát triển, thực thi chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã thống nhất rất cao về nhận thức và quyết tâm ”Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Với chủ trương đường lối và quyết sách đúng đắn của Đảng trong thời kỳ đổi mới, đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, tạo ra tiền đề cần thiết cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tham gia học tập môn Quan hệ quốc tế, chúng tôi đã được các thầy, cô giáo của Viện truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích về lý luận và thực tiễn về hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Trong phạm vi bài thu hoạch, tôi quan tâm và mong muốn được làm sáng rõ chủ đề “Quá trình triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới: Thành tựu và những vấn đề đặt ra ”
Trang 1MÔN QUAN HỆ QUỐC TÉ
“QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ
RA”
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI 3
1 Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (1986) đến năm 1995 3
2 Giai đoạn từ sau Đại hội VIII (1996) đến năm 2010 - giai đoạn mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế 5
3 Giai đoạn từ sau Đại hội XI (2011) đến nay - giai đoạn đưa các quan hệ đi vào chiều sâu và hội nhập quốc tế toàn diện 6
II THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI 7
1 Thành tựu đạt được 7
2 Hạn chế 10
3 Một số bài học kinh nghiệm 11
III CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐƯỚNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI 12
1 Nhiệm vụ đối ngoại 13
2 Các giải pháp thực hiện 14
IV THỰC TIỄN LIÊN HỆ VỚI ĐƠN VỊ CÔNG TÁC 18
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIÊU THAM KHẢO 24
Trang 3Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn công tác đối ngoại "phải luôn luôn
vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ ” Thực hiện lời dạy của Người, trong hơn 35 năm
đổi mới vừa qua, kế thừa và phát huy truyền thống đối ngoại vẻ vang của dân tộc, nhất
là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho nền ngoại giao Thờiđại Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kế thừa và không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiệnđường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở vì hòa bình, hợp tác và phát triển, thựcthi chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhậpquốc tế Đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã
thống nhất rất cao về nhận thức và quyết tâm ”Thực hiện nhất quán đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia- dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy
và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” Với chủ trương
đường lối và quyết sách đúng đắn của Đảng trong thời kỳ đổi mới, đất nước đã thoátkhỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo ra tiền đề cần thiết cho giai đoạn phát triển mớicủa đất nước
Tham gia học tập môn Quan hệ quốc tế, chúng tôi đã được các thầy, cô giáo củaViện truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích về lý luận và thực tiễn về hoạt động đối ngoại
và hội nhập quốc tế của Việt Nam Trong phạm vi bài thu hoạch, tôi quan tâm và
mong muốn được làm sáng rõ chủ đề “Quá trình triển khai đường lối đối ngoại của
Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới: Thành tựu và những vấn đề đặt ra ”
Trang 4NỘI DUNG
I VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới được hình thành qua một quá trình, khởi đầu
từ Đại hội VI của Đảng và tiếp tục được bổ sung, phát triển, hoàn thiện ở các Đại hộiĐảng tiếp theo Có thể chia quá trình này thành ba giai đoạn:
1 Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (1986) đến năm 1995
Đây là giai đoạn hình thành đường lối đối ngoại đổi mới, đồng thời phá thế bịbao vây cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị, thể hiện qua các văn kiện sau:
Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đồngthời cũng mở đầu quá trình hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới Đại hội
xác định nhiệm vụ hàng đầu là tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
này, Đảng ta, trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, đã nhấn mạnh sự
cần thiết phải đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đối ngoại thêm bạn, bớt
thù; phá thế bị bao vây, cấm vận; mở rộng quan hệ quốc tế, theo đó phương hướng đối
ngoại được xác định là:
- Phát triển và củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia, trên cơ
sở tôn trọng độc lập chủ quyền mỗi nước
- Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đốingoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam
sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ Việt Nam Trung Quốc, tiến tới bình thường hóa quan hệ
Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình
- Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI (1988) là bước ngoặt, có tính đột phá
về đổi mới tư duy đối ngoại, đánh dấu sự hình thành bước đầu chính sách đối ngoại đaphương hóa, đa dạng hóa Với nhận thức mới đúng đắn, toàn diện hơn về vấn đề anninh, bao gồm cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong, Đảng ta xác định nhiệm vụ đốingoại chuyển từ chỗ chú trọng nhân tố chính trị - quân sự sang
Trang 52 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.Sự thật, H.1991, tr.147.
ưu tiên cho nhân tố kinh tế, ưu tiên giữ vững hòa bình, độc lập dân tộc, có cáchtiếp cận toàn diện hơn về tình hình thế giới và khu vực Để thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ này, Đảng ta triển khai chính sách đối ngoại “thêm bạn, bớt thù”, nhấn mạnh chủtrương phát triển quan hệ với tất cả các nước có chế độ chính trị khác nhau trênnguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989) là sự phát triển tiếp theo của đổi mới tưduy đối ngoại Hội nghị đã nhận thức nhiều vấn đề đối ngoại cần phải giải quyết, trong
đó một lần nữa tái khẳng định đối ngoại phải chuyển từ chính trị-an ninh là chủ yếusang chính trị - kinh tế là chủ yếu; thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ vớiTrung Quốc; xác định lộ trình cải thiện quan hệ với các nước ASEAN; xác định lộtrình rút quân khỏi Campuchia; tiếp cận lộ trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ
Đại hội VII của Đảng (1991) là bước phát triển mới trong việc hình thành chínhsách đối ngoại đổi mới Đại hội xác định nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững hòa bình, mởrộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công Cuộc xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Trên tinh thần đó, Đại hội đề ra chủ trương mở rộng quan hệđối ngoại, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độchính trị khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình Cũng tại Đại hộinày, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra phương châm chiến lược trong chính sách đối ngoại:
“Việt Nam muốn là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình,độc lập và phát triển”2, đồng thời khẳng định chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập tựchủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Nhà nước Việt Nam
Khẳng định mục tiêu của đối ngoại là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệhữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) đã nêu ra 4phương châm chỉ đạo, xử lý các vấn đề quốc tế: (1) bảo đảm lợi ích
dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tếcủa giai cấp công nhân; (2) giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đaphương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; (3) nắm vững hai mặt hợp tác và đấu
Trang 63 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.1996, tr.120.
tranh trong quan hệ quốc tế; (4) tham gia hợp tác với các nước trong khu vực, đồngthời mở rộng quan hệ với tất cả các nước, chú trọng quan hệ với các nước lớn, cáctrung tâm kinh tế lớn Bốn phương châm này được xem là cẩm nang trong xử lý cácvấn đề đối ngoại cho mọi cấp, mọi ngành và mọi địa phương
2 Giai đoạn từ sau Đại hội VIII (1996) đến năm 2010 - giai đoạn mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế
Trước những biến đổi của tình hình thế giới và xuất phát từ nhiệm vụ của cáchmạng Việt Nam, các Đại hội VIII, IX và X của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triểnđường lối đối ngoại đổi mới, cụ thể như sau:
Đại hội VIII của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại đổi mới.Trên cơ sở thế và lực mới của nước ta, Đại hội lần đầu tiên nêu nhiệm vụ hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực theo hướng xây dựng nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình
hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Đây là điểm khởi đầu quan trọng cho một chủ
trương đối ngoại lớn và xuyên suốt của Đảng là hội nhập kinh tế quốc tế (và đến nay làhội nhập quốc tế) Đại hội VIII cũng đồng thời tuyên bố “Việt Nam muốn là bạn củatất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”3.Đại hội IX của Đảng (2001) bổ sung làm rõ thêm chính sách đối ngoại độc lập tựchủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Tại Đại hội này, lần
đầu tiên Đảng ta đưa ra chủ trương chủ động hội nhập kình tế quốc tế và khu vực theo
tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập,
tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữgìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường Phát triển
quan điểm mở rộng quan hệ đối ngoại của Đại hội VII và VIII, Đại hội IX nêu rõ:
“Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế,phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”4
Đại hội X của Đảng (2006) tiếp tục bổ sung đường lối đối ngoại thời kỳ đổimới với tuyên bố: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồngquốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực Đưa các quan hệ
4Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.2001, tr.l 19.
Trang 73 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.1996, tr.120.
quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định và bền vững”5 Đại hội cũng bổ sung
quan điểm hội nhập quốc tế với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế.
3 Giai đoạn từ sau Đại hội XI (2011) đến nay - giai đoạn đưa các quan
1 A -1- • > 1 • A ^ > I ^ • 1 ^ ^ i ^ i > 1 •A
hệ đi vào chiêu sâu và hội nhập quôc tế toàn diện
Tại Đại hội XI của Đảng, đường lối đối ngoại tiếp tục bổ sung, hoàn thiện TạiĐại hội này, lần đầu tiên Đảng xác định mục tiêu hàng đầu của đối ngoại là “vì lợi íchquốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”6 Như vậy, lợiích quốc gia - dân tộc là tiêu chí hàng đầu để xác định hợp tác và đấu tranh, là đối tác
và đối tượng Cũng tại Đại hội XI, trên cơ sở thế và lực mới của Việt Nam trên trườngquốc tế, Đảng đưa ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đốitác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”7 Như vậy, Đảng đãchuyển nội dung trọng tâm của đối ngoại từ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tếsang hội nhập quốc tế một cách toàn diện
Đại hội XII của Đảng (2016), trên cơ sở kế thừa những nội dung đối ngoại của
các Đại hội trước đó, đã nhấn mạnh mục tiêu hàng đầu của đối ngoại là phải bảo đảm
lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, xác định nhiệm vụ đối ngoại là phải nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Đại hội XII cũng nhận thấy tầm quan trọng của ngoại giao đa phương
trong quan hệ quốc tế hiện nay và nhấn mạnh nhiệm vụ đối ngoại là phải “tiếp tục đưacác mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đốingoại đa phương, chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đaphương”8
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật,
Trang 83 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.1996, tr.120.
Đại hội XIII của Đảng (2021) tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đườnglối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đaphương hóa quan hệ đối ngoại Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sởcác nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế , chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy
và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”9
Quá trình hoàn thiện phương châm đối ngoại, kể từ Đại hội VII, VIII với phương
châm “muốn là bạn”, Đại hội IX với phương châm “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin
cậy”, Đại hội X với phương châm “là bạn, là đối tác tin cậy”, đến Đại hội XI, XII,
XIII với phương châm “là bạn, là đối tác tin cậy”, “là thành viên có trách nhiệm” và Đại hội XIII “là thành viên tích cực, có trách nhiệm” Như vậy, có thể thấy rõ, chính
sách đối ngoại trong Văn kiện Đại hội XIII là kết tinh trí tuệ, thực tiễn, là sự kế thừa,tiếp nối chính sách đối ngoại đúng đắn và ngày càng được hoàn thiện từ Đại hội VIđến nay
II THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1 Thành tựu đạt được Việc thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng đã
góp phần rất quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho công cuộc đổi mới,
bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thếđất nước Sau 35 năm thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới, Việt Nam đã thu đượcnhiều thành tựu hết sức quan trọng, thể hiện trên các vấn đề lớn như sau:
Một là, từ phá thế bị bao vây, cấm vận, nước ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng
vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thuận lợi chocông cuộc đổi mới Cho đến nay, Việt Nam đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoạigiao với tất cả các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và bạn bètruyền thống, từ đó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của quốc tế đối vớicông cuộc đổi mới của nhân dân ta Tính đến năm 2020, Việt Nam đã có quan hệ ngoại
9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc ỉần thứXIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.2021, t.I, tr.161-162.
Trang 93 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.1996, tr.120.
giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3nước có "quan hệ đặc biệt," 17 nước "đối tác chiến lược" và 13 nước "đối tác toàndiện" Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệmcủa hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC,ASEM, WTO v.v
Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của cácngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và
đi vào chiều sâu Trong đó, Đảng ta đã có quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia,bao gồm khoảng 90 đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các đảng cầm quyền và thamchính có vai trò quan trọng Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140quốc gia và tham gia tích cực tại nhiều diễn đàn nghị viện quốc tế quan trọng Hoạtđộng đối ngoại của Chính phủ trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế,văn hóa-xã hội được đẩy mạnh, góp phần tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xenlợi ích với các đối tác Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức hữu nghị của nhân dân cũng đãtriển khai đối ngoại thiết thực, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị với nhân dân cácnước, quảng bá sâu rộng công cuộc đổi mới, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam
ra thế giới
Hai là, đã tạo dựng được môi trường quốc tế thuận lợi và huy động được các
nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinhtế-xã hội Từ một nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung, bị bao vây, cấm vận, đếnnay nước ta đã trở thành một nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa liên kết kinh tế sâu rộng; đã ký 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó
có 3 FTA thế hệ mới có tiêu chuẩn rất cao, và mạng lưới liên kết kinh tế sâu rộng vớihầu hết các nền kinh tế quan trọng trên thế giới Nếu cách đây 30 năm, chúng ta mới
có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ thì đến nay đã cóquan hệ kinh tế-thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỉ USD, gấp khoảng 120 lần so với những năm đầucủa thời kỳ đổi mới Chúng ta đã thu hút được hơn 400 tỷ đôla Mỹ vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI), trong đó đã giải ngân được khoảng 250 tỷ USD v.v
Trang 103 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.1996, tr.120.
Ba là, đối ngoại đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình,
ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Các vấn đề biên giới với các nước liên quantừng bước được giải quyết, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để bảo vệ chủquyền, giữ vững đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thúc đẩy phát triển kinhtế-xã hội, đồng thời góp phần vào việc củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực Đốivới những vấn đề phức tạp về biên giới lãnh thổ, chúng ta luôn giương cao ngọn cờhòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan kiểm soát bấtđồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hòa bìnhtrên cơ sở luật pháp quốc tế
Bốn là, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày
càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy tinh thần trách nhiệm vào việc giữ vữnghòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới Việt Nam đã tổ chức thành côngnhiều hội nghị quốc tế lớn và hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế quan trọng với tưcách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiênASEAN, chủ nhà Hội nghị cấp cao ASEM, Hội nghị thượng đỉnh APEC, Diễn đànKinh tế thế giới về ASEAN.; đã cử hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia lực lượnggìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ở châu Phi Trong nhiều vấn đề quốc tế quantrọng, tiếng nói, sáng kiến và cách thức giải quyết có lý, có tình trên tinh thần bìnhđẳng, hòa hiếu và nhân văn của nước ta đã nhận được sự đồng tình và ủng hộ của cộngđồng quốc tế, nhờ đó vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trêntrường quốc tế
Năm là, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đạt nhiều kết quả quan trọng,
thể hiện rõ chủ trương đại đoàn kết dân tộc cũng như tình cảm, trách nhiệm của Đảng,Nhà nước trong việc chăm lo cho cộng đồng và phát huy mạnh mẽ nguồn lực của kiềubào Công tác bảo hộ công dân được triển khai đồng bộ và hiệu quả 5 năm qua, chúng
ta đã triển khai công tác bảo hộ đối với trên 50.000 công dân, trên 600 vụ việc/1.000tàu/với gần 10.000 ngư dân; tổ chức gần 800 chuyến bay đưa trên 200.000 công dân vềnước an toàn trong đại dịch Covid-19
Trang 113 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.1996, tr.120.
Sáu là, trong hai năm qua, giữa bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp
trên thế giới và trong nước, chúng ta đã triển khai công tác ngoại giao y tế và ngoạigiao vắc xin rất kịp thời và hiệu quả Đến nay, Việt Nam đã nhận được trên 151 triệuliều vắc xin và nhiều trang thiết bị y tế, góp phần quan trọng cho công tác phòng,chống dịch đi đôi với phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam cũng đã việntrợ vật tư y tế và tài chính cho trên 50 quốc gia và tổ chức quốc tế, thể hiện rõ vai trò
“thành viên có trách nhiệm” trong cộng đồng quốc tế
Những cố gắng, kết quả và thành tích của đất nước nói trên đã góp phần rất quantrọng vào thành tựu chung to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta sau 35 năm đổi
mới như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, làm cho ”đất nước ta chưa bao giờ có
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay ”
2 Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu nêu trên, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước tathời gian qua cũng còn một số hạn chế như sau:
Một là, yếu kém trong công tác nghiên cứu cơ bản và dự báo chiến lược Công
tác này trong những năm qua tuy có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng tốt yêu cầu,
có lúc còn thiếu tính chủ động, chưa theo kịp diễn biến của tình hình, chưa lường hếtnhững tác động bất lợi, thiếu sự phối hợp điều hành thống nhất, đồng bộ; “hoạt độngđối ngoại và hội nhập quốc tế có mặt, có lúc chưa theo kịp
diễn biến của tình hình, chưa lường hết những tác động bất lợi”10
Hai là, trong quan hệ với một số đối tác quan trọng, mức độ tin cậy vẫn chưa
cao, chưa đồng đều và chưa thật bền vững; chưa khai thác tốt và phát huy hiệu quả cácquan hệ lợi ích đan xen với các đối tác quan trọng
Cho đến nay, Việt Nam đã mở rộng đáng kể quan hệ với các nước và vùnglãnh thổ trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng chưa đưa mối quan hệ đó phát triểnchiều sâu, bền vững do chưa xây dựng các khuôn khổ quan hệ hoặc chưa cụ thể hóacác thỏa thuận đã ký kết Một số đối tác lớn của Việt Nam như Nga, Ân Độ, hợp táckinh tế còn khá nhiều hạn chế, chưa toàn diện Việc bảo đảm quan hệ Việt - Trungphát triển ổn định, lành mạnh cũng gặp không ít trở ngại từ vấn đề Biển Đông
Trang 123 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.1996, tr.120.
Ba là, những hạn chế trong công tác chỉ đạo, quản lý Trong những năm qua,
hoạt động đối ngoại là khá sôi động, song không ít các hoạt động tính hiệu quả thấp,thậm chí còn gây lãng phí Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp, sự quản lý công tácđối ngoại trong nhiều trường hợp vẫn còn thiếu nhịp nhàng, ăn khớp
3.Một số bài học kinh nghiệm Từ thực tiễn hoạt động đối ngoại hơn 35 năm
qua với những thành tựu và hạn chế, có thể rút ra một số bài học sau:
Thứ nhất, mục tiêu hàng đầu của đối ngoại là vì lợi ích quốc gia - dân tộc Đây
là vấn đề có tính nguyên tắc Đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia - dân tộc với mục tiêuchiến lược là giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xãhội chủ nghĩa trong sự kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ tạo dựng môi trường quốc tếthuận lợi nhất cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Thứ hai, kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dân tộc với
quốc tế Trong sự kết hợp này, sức mạnh dân tộc giữ vai trò quyết định, được thể hiện
ở sức mạnh tổng hợp cả về vật chất lẫn tinh thần Đó là sự phát triển kinh tế nhanh,hiệu quả và bền vững; sức mạnh quốc phòng toàn dân ngày càng hiện đại đáp ứngđược yêu cầu của bảo vệ Tổ quốc; sự ổn định chính trị - xã hội vững chắc; bản sắcvăn hóa dân tộc được bảo vệ và phát huy; sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộcđược củng cố và tăng cường
Thứ ba, giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với hội nhập quốc tế Kinh nghiệm lịch
sử của cách mạng Việt Nam cho thấy rằng chỉ có thể thực hiện thắng lợi những mụctiêu, nhiệm vụ của cách mạng khi Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên định tinh thần độclập, tự chủ, tự mình quyết định công việc của mình Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giớingày nay, khi hòa bình, hợp tác, phát triển trở thành xu thế lớn và trước tác động mạnh
mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, đặc biệt là cuộc Cách mạngcông nghiệp 4.0 và toàn cầu hóa, độc lập tự chủ không có nghĩa là đóng cửa với bênngoài, mà trái lại phải coi trọng và tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bèquốc tế, thực hiện chính sách ngoại giao rộng mở, thêm bạn bớt thù, không đi với nướcnày chổng lại nước kia, không tham gia các liên minh gây đoi đầu, căng thẳng