A.MỞ ĐẦUThuật ngữ “Ấn Độ Dương Thái Bình Dương ” lần đầu tiên được giới thiệu bởi nhà nghiên cứu Ân Độ Gurpreet S. Khuranavào năm 2007 trong một bài tiểu luận, được định nghĩa là một không gian hàng hải nối Ân Độ Dương với Tây Thái Bình Dương, giáp với tất cả các quốc gia ở châu Á (bao gồm cả Tây Á, Trung Đông) và Đông Phi. Trong những năm 2010, các chiến lược, chính sách đối ngoại và nghiên cứu của chuyên gia ở nhiều nước bắt đầu quan tâm đặc biệt đến khu vực xuyên khu vực dọc theo bờ biển Ân Độ Dương và Thái Bình Dương này. Tuy nhiên, chỉ đến khi khái niệm này được Chính quyền Trump áp dụng, nó mới thực sự trở nên nổi tiếng và thu hút sự chú ý trên toàn thế giới. Trong Chiến lược An ninh Quốc gia được công bố vào ngày 18 tháng 12 năm 2017, Chính quyền Trump khẳng định rằng “Ân Độ Dương Thái Bình Dương rất quan trọng đối với sự ổn định, an ninh và thịnh vượng của Mỹ”. Tại Đối thoại Shangri La 2018 ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã gọi Chiến lược Ân Độ Dương Thái Bình Dương của Mỹ là “một tập hợp con trong chiến lược an ninh rộng lớn hơn của chúng tôi, hệ thống hóa các nguyên tắc của chúng tôi khi Mỹ tiếp tục nhìn về phương Tây”. Do đó, Ân Độ Dương Thái Bình Dương đã nhanh chóng được chuyển đổi từ một khái niệm sang một chiến lược mới của Mỹ tại châu Á.Ngoài tham chiếu địa lý đơn thuần về sự kết nối giữa Thái Bình Dương và Ân Độ Dương, khái niệm này cũng có ý nghĩa chiến lược và địa chính trị, phản ánh những thay đổi chiến lược, trong đó thay đổi đáng kể nhất là lĩnh vực an ninh hàng hải. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, trọng tâm chiến lược toàn cầu đã chuyển dịch từ Đại Tây Dương sang Ân Độ Dương Thái Bình Dương, được thúc đẩy bởi các yếu tố, như: Sự trỗi dậy của Trung Quốc, sự gia tăng ảnh hưởng kinh tế và chiến lược của Ân Độ cũng như tầm quan trọng ngày càng tăng của Ân Độ Dương; sự lớn mạnh của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trước những thay đổi nhanh chóng của cục diện toàn cầu và khu vực, khái niệm về một không gian Ân Độ Dương Thái BìnhDương rộng mở, bao trùm của các nước trong khu vực đã ra đời nhằm đối phó cũng như tận dụng cơ hội từ những sự đổi thay đó.Khi thảo luận về chiến lược này, các nhà phân tích và học giả phần lớn tin rằng chiến lược “Ấn Độ Dương Thái Bình Dương” có bốn mục tiêu chính: (1) Tránh tạo cảm giác đối đầu trực diện với Trung Quốc; (2) Khôi phục liên minh chiến lược Mỹ Nhật Bản Ân Độ Australia; (3) Nhấn mạnh vai trò của Mỹ và Ân Độ trong khu vực; (4) Phát đi thông điệp rằng tự do hàng hải là một trụ cột cho an ninh khu vực. Hầu hết trong số các học giả đều cho rằng chính sách mới của Chính quyền Trump là tăng cường hợp tác với Ân Độ để đối trọng với Trung Quốc. Với quan điểm “Nước Mỹ trên hết”, quan điểm này của chính quyền Trump không chỉ phục vụ lợi ích của Mỹ mà còn mở rộng nó trên toàn cầu. Do tầm quan trọng và phạm vi tác động rộng lớn của việc điều chỉnh chiến lược của Mỹ, ngoài chiến lược “Ấn Độ Dương Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP) của Mỹ, các quốc gia khác trong khu vực như Nhật Bản, Ân Độ, Australia, ASEAN... cũng lần lượt đưa ra các tầm nhìn chiến lược Ân Độ Dương Thái Bình Dương của mình. Trên cơ sở nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực Ân Độ Dương Thái Bình Dương, một số nước Châu Âu cũng bắt đầu chú ý đến khu vực. Sau khi Pháp, Đức công bố chính sách hướng tới Ân Độ Dương Thái Bình Dương, Hà Lan cũng đã công bố tài liệu chiến lược chính thức đầu tiên về khu vực có vị trí then chốt này trên toàn cầu.Với nhận thức trên nên tôi chọn nội dung “Chiến lược Ản Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở: tác động đến Việt Nam để thực hiện bài thu hoạch kết thúc môn học. Qua nhận thức về các tác động của chiến lược “Ấn Độ Dương Thái Bình Dương tự do và rộng mở” đối với Việt Nam và đề xuất chính sách đối ngoại của Việt Nam trong việc thực hiện chiến lược của Mỹ hiện nay.
Trang 1VIỆN QUAN HỆ QUỐC TẾ
BÀI THU HOẠCH MÔN: QUAN HỆ QUỐC TẾ
“CHIẾN LƯỢC ẤN ĐỘ DƯƠNG - THÁI BÌNH DƯƠNG
TỰ DO VÀ RỘNG MỞ”: TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM
Trang 2A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 3
1 Tổng quan về chiến lược Ân Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Mỹ 3
1.1 Quá trình hình thành Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở 3
1.2 Nội dung cơ bản của chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương rộng mở 4
2 Sự tác động của chiến lược Ân Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Mỹ đến Việt Nam 8
3 Đề xuất các chính sách đối ngoại với Việt Nam hiện nay 14
C KẾT LUẬN 18
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 4Thuật ngữ “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ” lần đầu tiên được giới thiệu bởi
nhà nghiên cứu Ân Độ Gurpreet S Khuranavào năm 2007 trong một bài tiểu luận,được định nghĩa là một không gian hàng hải nối Ân Độ Dương với Tây Thái BìnhDương, giáp với tất cả các quốc gia ở châu Á (bao gồm cả Tây Á, Trung Đông) vàĐông Phi Trong những năm 2010, các chiến lược, chính sách đối ngoại và nghiên cứucủa chuyên gia ở nhiều nước bắt đầu quan tâm đặc biệt đến khu vực xuyên khu vựcdọc theo bờ biển Ân Độ Dương và Thái Bình Dương này Tuy nhiên, chỉ đến khi kháiniệm này được Chính quyền Trump áp dụng, nó mới thực sự trở nên nổi tiếng và thuhút sự chú ý trên toàn thế giới Trong Chiến lược An ninh Quốc gia được công bố vàongày 18 tháng 12 năm 2017, Chính quyền Trump khẳng định rằng “Ân Độ Dương -Thái Bình Dương rất quan trọng đối với sự ổn định, an ninh và thịnh vượng của Mỹ”.Tại Đối thoại Shangri La 2018 ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis
đã gọi Chiến lược Ân Độ Dương -Thái Bình Dương của Mỹ là “một tập hợp con trongchiến lược an ninh rộng lớn hơn của chúng tôi, hệ thống hóa các nguyên tắc của chúngtôi khi Mỹ tiếp tục nhìn về phương Tây” Do đó, Ân Độ Dương -Thái Bình Dương đãnhanh chóng được chuyển đổi từ một khái niệm sang một chiến lược mới của Mỹ tạichâu Á
Ngoài tham chiếu địa lý đơn thuần về sự kết nối giữa Thái Bình Dương và Ân
Độ Dương, khái niệm này cũng có ý nghĩa chiến lược và địa - chính trị, phản ánhnhững thay đổi chiến lược, trong đó thay đổi đáng kể nhất là lĩnh vực an ninh hàng hải.Trong những năm đầu thế kỷ XXI, trọng tâm chiến lược toàn cầu đã chuyển dịch từĐại Tây Dương sang Ân Độ Dương - Thái Bình Dương, được thúc đẩy bởi các yếu tố,như: Sự trỗi dậy của Trung Quốc, sự gia tăng ảnh hưởng kinh tế và chiến lược của Ân
Độ cũng như tầm quan trọng ngày càng tăng của Ân Độ Dương; sự lớn mạnh của Hiệphội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Trước những thay đổi nhanh chóng của cụcdiện toàn cầu và khu vực, khái niệm về một không gian Ân Độ Dương - Thái BìnhDương rộng mở, bao trùm của các nước trong khu vực đã ra đời nhằm đối phó cũngnhư tận dụng cơ hội từ những sự đổi thay đó
Trang 5Khi thảo luận về chiến lược này, các nhà phân tích và học giả phần lớn tin rằng
chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” có bốn mục tiêu chính: (1) Tránh tạo
cảm giác đối đầu trực diện với Trung Quốc; (2) Khôi phục liên minh chiến lược Mỹ Nhật Bản - Ân Độ - Australia; (3) Nhấn mạnh vai trò của Mỹ và Ân Độ trong khu vực;(4) Phát đi thông điệp rằng tự do hàng hải là một trụ cột cho an ninh khu vực Hầu hếttrong số các học giả đều cho rằng chính sách mới của Chính quyền Trump là tăng
-cường hợp tác với Ân Độ để đối trọng với Trung Quốc Với quan điểm “Nước Mỹ trên hết”, quan điểm này của chính quyền Trump không chỉ phục vụ lợi ích của Mỹ mà còn
mở rộng nó trên toàn cầu Do tầm quan trọng và phạm vi tác động rộng lớn của việc
điều chỉnh chiến lược của Mỹ, ngoài chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự
do và rộng mở” (FOIP) của Mỹ, các quốc gia khác trong khu vực như Nhật Bản, Ân
Độ, Australia, ASEAN cũng lần lượt đưa ra các tầm nhìn chiến lược Ân Độ Dương Thái Bình Dương của mình Trên cơ sở nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực Ân
-Độ Dương - Thái Bình Dương, một số nước Châu Âu cũng bắt đầu chú ý đến khu vực.Sau khi Pháp, Đức công bố chính sách hướng tới Ân Độ Dương - Thái Bình Dương,
Hà Lan cũng đã công bố tài liệu chiến lược chính thức đầu tiên về khu vực có vị tríthen chốt này trên toàn cầu
Với nhận thức trên nên tôi chọn nội dung “Chiến lược Ản Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở": tác động đến Việt Nam để thực hiện bài thu hoạch kết thúc môn học Qua nhận thức về các tác động của chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” đối với Việt Nam và đề xuất chính sách đối ngoại của Việt Nam trong việc thực hiện chiến lược của Mỹ hiện nay.
Trang 6đầu tiên công khai đề cập đến một khu vực “Ấn Độ Dương -Thái Bình Dương tự
do và rộng mở” và lập luận rằng: “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng
mở - một nơi mà các quốc gia có chủ quyền và độc lập, với các nền văn hóa đa dạng và nhiều ước mơ khác nhau, tất cả đều có thể phát triển song song, và phát triển mạnh mẽ trong tự do và hòa bình” Một tháng sau, cụm từ này tiếp tục xuất
hiện trong Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) của Mỹ, với vị trí hàng đầu trong
số các lĩnh vực quan trọng đối với lợi ích của Washington Chính quyền Trump
cũng đề cao vai trò “lãnh đạo”, “đối tác quốc phòng và chiến lược mạnh mẽ”
trong khu vực của New Delhi và sự hợp tác ngày mạnh mẽ hơn trong mối quan hệ
Mỹ - Nhật - Australia - Ân Độ
Chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP)
đã kế thừa chiến lược của nhiều thế hệ tổng thống Mỹ trước đây cũng như các ýtưởng chiến lược của các đồng minh và đối tác của Mỹ
Ân Độ Dương lần đầu tiên được đề cập bởi chính quyền của Tổng thốngGeorge.W.Bush trong Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ năm 2002 Chính quyền G.Bush khẳng định Mỹ và Ân Độ có lợi ích chung trong các tuyến đường thương mại
tự do trên đại dương ở Ân Độ Dương và Thái Bình Dương Chính quyền của cựuTổng thống Barack Obama đã rất tích cực trong việc đưa Ân Độ vào Chiến lượcxoay trục của Mỹ đối với Châu Á - Thái Bình Dương Cựu Ngoại trưởng MỹHillary Clinton nhấn mạnh chính sách đối với Nhật Bản, Ân Độ và Australia thamgia chiến lược tái cân bằng đối với khu vực Ân Độ Dương - Thái Bình Dương mởrộng
Trang 7Nhật Bản cũng có ý tưởng về khu vực Ân Độ Dương - Thái Bình Dương.Trong chuyến thăm Ân Độ vào năm 2007, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đề
cập đến “trục tự do và thịnh vượng dọc theo không gian A - Âu ”, cũng như “sự kết hợp năng động giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương” và thúc đẩy hợp tác giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ân Độ trong một “tứ giác kim cương” dân chủ Vào tháng 4 năm 2017, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã công bố “Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, trong đó mô tả cách mà Tokyo sẽ
mở rộng thế giới quan và vai trò chiến lược của mình dưới thời Shinzo Abe thôngqua mong muốn chủ động đóng góp cho nền hòa bình thế giới Theo đó, chìa khóacho sự ổn định và thịnh vượng của cộng đồng quốc tế là sự năng động được tạo ra
bằng cách kết hợp “Hai lục địa” - Châu Á đang phát triển nhanh chóng và Châu Phi có tiềm năng tăng trưởng rất lớn và “Hai đại dương” - Thái Bình Dương và
Ân Độ Dương tự do và rộng mở
Năm 2013, Australia cũng đề cập đến khái niệm Ân Độ Dương - Thái BìnhDương trong Sách trắng Quốc phòng Trong tài liệu này, Australia khẳng định tầmquan trọng của các tuyến đường vận tải, dòng năng lượng và các giá trị chiến lượcgiữa Ân Độ Dương và Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á là trọng tâm.Trong Sách trắng về Chính sách Đối ngoại của Australia được công bố vào tháng
11 năm 2017, Ân Độ Dương - Thái Bình Dương đã được nhắc đến 74 lần, trongkhi Châu Á - Thái Bình Dương chỉ được đề cập 4 lần
1.2 Nội dung cơ bản của chiến lược Ản Độ Dương - Thái Bình Dương rộng
mở (FOIP)
Chính quyền Trump đã công bố những nội dung quan trọng của chiến lượcFOIP gồm các mục tiêu, phạm vi địa lý, ý nghĩa và cách thực hiện FOIP Về mụctiêu, FOIP đặt mục tiêu kiểm soát sự tăng trưởng của Trung Quốc và bảo vệ vị thếcủa Mỹ trong trật tự khu vực, được khái quát hóa để phục vụ các mục tiêu địachiến lược Mỹ - Trung
Trang 8về mặt địa lý, FOIP dựa trên “kết nối” giữa Ân Độ Dương và Thái Bình
Dương, xác định một khu vực rộng lớn hơn 80 triệu km2 bao gồm khu vực Ân ĐộDương ở phía đông bờ biển Châu Phi và Thái Bình Dương đến bờ Tây Mỹ
về nội hàm, FOIP dựa trên hai giá trị “tự do ” và “rộng mở” Theo đó, “tự
do ” được thể hiện ở hai cấp độ: Ở cấp độ quốc tế, các quốc gia không bị ép buộc
cũng không bị áp đặt; và ở cấp quốc gia, các cá nhân không bị đàn áp và được
hưởng nền quản trị tốt “Rộng Mở” trong FOIP có nghĩa là các tuyến hàng hải
không bị kiểm soát hoặc ngăn chặn bởi bất kỳ cường quốc nào và hệ thống thươngmại tự do và bình đẳng được duy trì Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis nhấn
mạnh trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 2018: “Tự do có nghĩa là tất cả các nước, lớn hay nhỏ, đều có quyền qua lại tự do trên các vùng biển và vùng trời quốc tế Mỹ cũng khẳng định các cơ chế hợp tác trong chiến lược này không nhằm loại trừ bất cứ nước nào, để ngỏ cho các nước tham gia trên các nguyên tắc kể trên, cũng như bảo đảm tự do và thịnh vượng cho tất cả các nước”.
về bối cảnh, chiến lược Ân Độ Dương - Thái Bình Dương được đưa ra vào
thời điểm cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc đã lên đến một mức mới TrongChiến lược An ninh và Quốc phòng mới được công bố, Mỹ đã gọi đích danh TrungQuốc là nước thách thức trật tự thế giới hiện hành, coi Trung Quốc là đối thủ chiếnlược, là đối tượng đấu tranh chính vì đã hội tụ đủ điều kiện và ý chí cũng như ngàycàng có hành động thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ trong khu vực châu Á - TháiBình Dương và trên thế giới Và từ lời khẳng định của Bộ trưởng Quốc phòngJames Mattis rằng, Chiến lược Ân Độ Dương - Thái Bình Dương là một bộ phậntrong Chiến lược An ninh quốc gia của Mỹ, có thể cho rằng cạnh tranh chiến lược
Mỹ - Trung Quốc là điều kiện để từ đó Chiến lược Ân Độ Dương - Thái Bình
Dương ra đời Ân Độ Dương - Thái Bình Dương là nơi “đang xảy ra một cuộc cạnh tranh địa chính trị giữa một tầm nhìn tự do và một tầm nhìn mang tính chất
áp chế về trật tự thế giới” Như vậy, chiến lược Ân Độ
Dương Thái Bình Dương nhằm phục vụ mục tiêu cạnh tranh địa chiến lược Mỹ Trung Quốc, mặc dù chính giới Mỹ luôn nhấn mạnh rằng Chiến lược này không có
Trang 9-tính “loại trừ” hay “kiềm chế” Trung Quốc, thậm chí còn có thể để Trung Quốc tham gia nếu tuân thủ “luật chơi ” Do đó, có thể khẳng định là về mục tiêu, Chiến
lược Ân Độ Dương - Thái Bình Dương nhằm kiểm soát sự lớn mạnh của TrungQuốc và bảo vệ vị thế của Mỹ trong trật tự khu vực
Từ thời Tổng thống Barack Obama, kiểm soát sự lớn mạnh của Trung Quốc
và bảo vệ trật tự hiện hành do Mỹ chi phối đã trở thành mục tiêu chính của chiếnlược xoay trục/tái cân bằng Chiến lược xoay trục/tái cân bằng được triển khai trên
07 hướng gồm: (1) Hiện đại hóa và củng cố quan hệ với các đồng minh của Mỹ; (2)Phát triển và tăng cường quan hệ với các đối tác mới; (3) Hỗ trợ các cơ chế trongkhu vực giải quyết các vấn đề khu vực dựa trên những luật lệ và chuẩn mực và xây
dựng “luật chơi” kinh tế; (4) Tăng cường thương mại và đầu tư; (5) Tăng sự hiện
diện về quân sự của Mỹ trong khu vực; (6) Thúc đẩy phát triển dân chủ, quản trị tốt
và nhân quyền; (7) Mở rộng mối quan hệ nhân dân (people-to-people) Tất cả cáchoạt động kể trên đều nhằm tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng của Mỹ trongkhu vực, qua đó hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc
về mặt thực hiện, tại Đối thoại Shangri-La tháng 6 năm 2016, Bộ trưởng
Quốc phòng Mỹ James Mattis đã chỉ ra bốn hướng hành động chính của Mỹ trongviệc thực hiện FOIP, như sau:
Thứ nhất, Mỹ sẽ mở rộng sự chú ý vào không gian hàng hải, duy trì các
không gian hàng hải chung bằng cách giúp các đồng minh và đối tác của họ xâydựng hải quân và các lực lượng thực thi pháp luật để cải thiện khả năng giám sát vàbảo vệ các lợi ích và trật tự hàng hải
Thứ hai, Mỹ sẽ tập trung tăng cường năng lực hoạt động quân sự chung giữa
lực lượng quân sự các nước thông qua tài trợ và bán trang thiết bị quốc phòng tiêntiến cho các đối tác an ninh trong khu vực, tăng cường huấn luyện quân sự chuyênnghiệp và liên lạc thường xuyên cho các sĩ quan
quân đội thuộc các binh chủng giữa các nước trong khu vực Ân Độ Dương - Thái BìnhDương
Trang 10Thứ ba, Mỹ sẽ tăng cường sự tuân thủ pháp luật, thúc đẩy pháp quyền, xã hội
dân sự và quản trị minh bạch Theo đó, Mỹ sẽ tiếp tục tham gia sâu vào các cơ chế khuvực hiện hành, bao gồm Diễn đàn an ninh Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộtrưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị cấp cao Đông Á(EAS) và APEC, cùng với các cơ chế ba bên và nhiều bên với các đối tác khác
Thứ tư, về mặt kinh tế, Mỹ sẽ thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân; dẫn
đầu và tập trung vào các hoạt động thương mại và đầu tư, bao gồm cả phát triển cơ sở
hạ tầng Bên cạnh đó, Mỹ cũng sẽ tăng cường các tổ chức tài chính để duy trì “luật chơi” chung Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nhấn mạnh: “Mỹ không đưa ra những lời hứa suông và không buộc các nước đối tác phải từ bỏ chủ quyền kinh tế” Theo các nhà quan sát, đây là những bước để cạnh tranh trực tiếp với sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) của Trung Quốc, nhấn mạnh việc đưa ra “các lựa chọn thay thế” đối với các dự án đầu tư hạ tầng và kết nối kinh tế của BRI, và không cho phép
“luật chơi ” của Trung Quốc chiếm ưu thế trong khu vực.
Chiến lược Ân Độ Dương - Thái Bình Dương về cơ bản kế thừa các yếu tố cơbản của chiến lược xoay trục/tái cân bằng Tuy nhiên, xu hướng kiềm chế ảnh hưởngcủa Trung Quốc dường như mạnh hơn dưới thời Tổng thống Donald Trump và phongcách lãnh đạo quyết liệt của ông Donald Trump đã đẩy cạnh tranh Mỹ - Trung Quốclên một mức mới Đi cùng với việc chính thức mở rộng phạm vi địa lý bao gồm Ân ĐộDương trong chính sách đối với châu Á - Thái Bình Dương, chính quyền mới của Mỹ
đã nhấn mạnh hơn tính chất cạnh tranh chiến lược trong quan hệ với Trung Quốc Theo
đó, Mỹ áp dụng cách tiếp cận cứng rắn hơn đối với Trung Quốc, tập trung vào lĩnh vựcquốc phòng - an ninh và kinh tế - thương mại Do đó, FOIP đã cho thấy sự nhất quántrong chiến lược đối ngoại của Mỹ, sự đồng thuận lưỡng đảng trong Quốc hội Mỹ, sựđồng thuận với các đồng minh và đối tác của Mỹ; sự nhất quán trong việc công nhậnlợi ích quốc gia của Mỹ ở khu vực Ân Độ Dương- Thái Bình Dương
2 Sự tác động của chiến lược Ân Độ Dương - Thái Bình Dương
tự do và rộng mở của Mỹ đến Việt Nam
Trang 11Nếu như Trung Quốc khởi xướng Chiến lược Vành đai và Con đường (BRI) vớihàng trăm tỷ USD đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng trên khắp các quốc gia mà không
đề cập nhiều đến “an ninh khu vực”, thì FOIP của Mỹ cung cấp ba trụ cột chính là anninh - kinh tế - quản trị Ngoài những toan tính và cạnh tranh chiến lược giữa cáccường quốc, tất cả các kế hoạch đều có thể mang lại hòa bình và ổn định cho khu vực,hứa hẹn nhiều triển vọng cho các nước trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng
Có thể thấy rõ, trong chiến lược này, chúng ta rất quan tâm đến hầu hết các vấn đề trên
tất cả “ba trụ cột” trên Quan điểm và lập trường của Việt Nam có nhiều điểm tương
đồng với ý nghĩa của cả ba trụ cột nêu trên
Trước hết, về chính trị và an ninh, kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ,vai trò đối tác của Việt Nam với Mỹ ngày càng trở nên quan trọng Điều này là hệ quảtất yếu của hai yếu tố: Thứ nhất, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và năng lực ngoạigiao đa phương đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Điển hình là việcViệt Nam rất chủ động trong việc xây dựng đồng thuận ASEAN và phát huy vai trò làngười dẫn dắt các thể chế quốc tế mà ASEAN có vai trò trung tâm Việt Nam đã cónhững đóng góp rất quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động của Hội nghị Bộtrưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) và đặc biệt khuyến khích sự tham giacủa Mỹ tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) Uy tín của Việt Nam tại Liên Hợpquốc đã được cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao nhờ những thành công trong các hoạtđộng gìn giữ hòa bình, vai trò thành viên không thường trực tại Hội đồng Bảo annhiệm kỳ 2008 - 2009 và hiện nay là nhiệm kỳ 2020 - 2021 Năm 2014, Việt Nam đãủng hộ Các nguyên tắc Ngăn chặn trong Bộ Sáng kiến Phổ biến An ninh của Mỹ
Thứ hai, Việt Nam có quan hệ tốt với nhiều đối tác hợp tác của Mỹ và cả nhữngnước mà Mỹ coi là “đối thủ” trong khu vực như Mỹ đã nhiều lần nêu tên trong các vănbản chiến lược (NSS, NDS, Báo cáo về Chiến lược Ân Độ Dương - Thái Bình Dương)
là Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Nga Ngoài ra, Việt Nam cũng có quan hệ chính trị,thương mại, văn hóa tốt với hai đồng minh truyền thống của Mỹ là Nhật Bản và HànQuốc Trong thời gian tới, Mỹ sẽ chú trọng vào những điểm tương đồng về lợi ích giữahai nước, tranh thủ năng lực ngoại giao, mối quan hệ truyền thống của Việt Nam với