ĐỀ THI TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC (Thời gian 90 phút) Câu 1 Phân tích đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh Tiểu học (tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng) Tri giác Tri giác của học sinh tiểu học mang.
Trang 1ĐỀ THI
TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC
(Thời gian: 90 phút)
Câu 1 Phân tích đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh Tiểu học (tri giác, trí
nhớ, tư duy, tưởng tượng)
*Tri giác:
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính tổng thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ở học sinh các lớp đầu bậc tiểu học, khả năng phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc khi tri giác còn yếu nên các em thường thâu tóm sự vật
về toàn bộ, về đại thể để tri giác
Học sinh các lớp đầu bậc tiểu học khi tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn của bản thân Đối với các em, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm cái gì
đó với sự vật như cầm nắm, sờ mó vào sự vật ấy Những gì phù hợp với nhu cầu của các em, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với các hoạt động của chúng, những gì giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác
Tính cảm xúc thể hiện rất rõ khi các em tri giác Học sinh tiểu học tri giác trước hết là những sự vật, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em những xúc cảm Vì thế, cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực cho các em
Tri giác về thời gian và không gian cũng như ước lượng về thời gian và không gian của học sinh tiểu học còn hạn chế Một số công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận: học sinh tiểu học thường khó hiểu khoảng cách về thời gian của các sự kiện, những niên đại lịch sử cũng rất khó hiểu đối với các em
Tri giác của học sinh tiểu học không tự nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc,
Trang 2trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát có tổ chức Trong sự phát triển tri giác của học sinh, vai trò của giáo viên tiểu học rất lớn Giáo viên là người không chỉ dạy trẻ kỹ năng nhìn, kỹ năng nghe mà còn hướng dẫn các em xem xét, dạy các em biết lắng nghe, tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của học sinh để tri giác một đối tượng nào đó nhằm phát hiện những dấu hiệu bản chất của sự vật và hiện tượng
*Trí nhớ:
Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Nguyên nhân là do ở lứa tuổi này, hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ưu thế hơn
Học sinh ở các lớp một, lớp hai có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu đó Các em thường học thuộc lòng tài liệu theo từng câu, từng chữ mà không sắp xếp lại, diễn đạt lại bằng lời lẽ của mình Đặc điểm này là do:
Học sinh chưa hiểu cụ thể cần phải ghi nhớ cái gì, ghi nhớ trong bao lâu Trong khi đó giáo viên lại ít quan tâm hướng dẫn các em cách ghi nhớ theo điểm tựa
Ngôn ngữ của học sinh lớp một, lớp hai còn bị hạn chế Đối với các em, việc nhớ lại từng câu, từng chữ dễ dàng hơn dùng lời lẽ của mình để diễn tả lại một sự kiện, hiện tượng nào đó
Nhiều học sinh tiểu học còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết
sử dụng sơ đồ lôgic và dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn ý tài liệu cần ghi nhớ
Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định do tính tích cực học tập của học sinh quy định Tất nhiên, điều này còn tùy thuộc vào kỹ năng nhận biết và phân biệt các nhiệm
vụ ghi nhớ (như xác định được cần ghi nhớ nguyên văn bài thơ, công thức quan trọng, nhớ ý chính của đoạn văn,…) Hiểu mục đích của ghi nhớ và có tâm thế thích hợp là
Trang 3những điều kiện rất quan trọng để học sinh tiểu học ghi nhớ tốt tài liệu học tập Nhiệm
vụ của giáo viên tiểu học là là hình thành cho học sinh tâm thế học tập và ghi nhớ, hướng dẫn các em thủ thuật ghi nhớ tài liệu, chỉ cho các em đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học để tránh tình trạng các em phải ghi nhớ quá nhiều, ghi nhớ máy móc, học vẹt
*Tư duy:
Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Theo J Piaget (nhà tâm lý học Thụy Sĩ),
tư duy của trẻ em từ 7 đến 10 tuổi còn ở những thao tác cụ thể Điều này được thể hiện rất rõ qua những tiết học đầu tiên khi trẻ bước vào lớp một Ví dụ: Nếu chỉ dùng lời để yêu cầu trẻ làm phép tính: 2 + 3 thì nhiều em không làm được (trừ những em đã được học trước) Nếu câu hỏi gắn với một vật cụ thể thì các em sẽ làm được Chẳng hạn hỏi
em có 2 quyển vở, em được cô cho thêm 3 quyển vở nữa thì em có mấy quyển vở, các
em sẽ trả lời là em có 5 quyển vở
Trong tư duy của học sinh đầu bậc tiểu học, tính trực quan cụ thể thể hiện rất rõ
Ví dụ: cô giáo ra bài toán “nếu con vịt có 3 chân thì 2 con vịt có bao nhiêu chân?” thì nhiều em lúng túng, chúng thắc mắc làm gì có vịt 3 chân Như vậy tư duy của các em chưa thoát khỏi tính cụ thể
Quá trình học tập theo phương pháp nhà trường giúp cho tư duy của học sinh tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của các sự vật, hiện tượng đến nhận thức được các dấu hiệu bản chất của chúng Điều đó có tác dụng hình thành ở học sinh khả năng tiến hành thao tác khái hóa đầu tiên, thao tác so sánh đầu tiên, tiến tới có được khả năng suy luận sơ đẳng
Đối với học sinh tiểu học, kỹ năng phân biệt các dấu hiệu bản chất và tách các dấu hiệu đó ra khỏi sự vật, hiện tượng mà chúng ẩn tàng trong đó là phẩm chất tư duy không dễ có ngay được Vì ở lứa tuổi này, tri giác phát triển sớm hơn và đối với các
em tri giác trước hết là nhận biết những dấu hiệu bên ngoài, mà những dấu hiệu này
Trang 4chưa chắc đã là bản chất của sự vật, hiện tượng đang được các em xem xét Đó là những khó khăn, khiếm khuyết của học sinh tiểu học trong quá trình lĩnh hội khái niệm
Hoạt động phân tích – tổng hợp của học sinh tiểu học còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu bậc tiểu học chủ yếu tiến hành hoạt động phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Đến cuối bậc học, các em có thể phân tích đối tượng mà không cần tới những hành động trực tiếp với đối tượng, các em đã có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ Việc học tiếng Việt và số học có tác dụng tích cực trong việc hình thành và phát triển thao tác phân tích – tổng hợp cho học sinh tiểu học
Học sinh tiểu học còn gặp nhiều khó khăn khi phải xác định và hiểu mối quan
hệ nhân quả Các em còn lẫn lộn giữa nguyên nhân và kết quả, hiểu mối quan hệ chưa sâu sắc, thấu đáo
Những đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học nêu trên chỉ có ý nghĩa tương đối Trong quá trình học tập ở nhà trường, tùy thuộc vào nội dung, phương pháp và phương thức tổ chức cho các em thực hiện hoạt động học mà tư duy của các em phát triển, thay đổi cũng có phần khác nhau Nếu nội dung, phương pháp dạy học được thay đổi tương ứng với nhau thì trẻ em có thể có được một số đặc điểm của tư duy khoa học
*Tưởng tượng:
So với trẻ em trước tuổi đến trường, tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn nhiều Tuy nhiên, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững
Càng về cuối bậc học, do đã có kinh nghiệm phong phú và đã lĩnh hội được các tri thức khoa học do nhà trường đem lại nên tưởng tượng của học sinh tiểu học gắn với hiện thực hơn, ví dụ: đồ chơi của học sinh tiểu học phải “thật” hơn đồ chơi của trẻ mẫu giáo Về mặt cấu tạo hình tượng, tưởng tượng của học sinh tiểu học chỉ lặp lại hoặc thay đổi chút ít về kích thước, về hình dạng so với những hình ảnh đã tri giác được Ví
Trang 5dụ: các em học sinh lớp một thường vẽ người ném viên đá có tay to hơn chân Các em học sinh lớp bốn, lớp năm đã có khả năng nhào nặn, gọt rũa những hình tượng cũ để sáng tạo ra những hình tượng mới Sở dĩ như vậy là vì các em đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát và trừu tượng hơn
Trong dạy học ở tiểu học, giáo viên cần hình thành cho học sinh biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của mình Điều này cũng được xem như là phương tiện trực quan trong dạy học