= > Hiểu một cách đơn giản là loại trách nhiệm bồi thường không phát sinh từ quan hệ hợp đồng; người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,
Trang 1A Kiến thức nghiên cứu:
Câu 1: Phân tích trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định trong Bộ luật dân sự 2015? Cho ví dụ minh họa?
Bài làm
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định được ban hành nhằm mục đích buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại Chế định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được quy định trong
Bộ luật dân sự 2005, tuy nhiên còn bộc lộ nhiều hạn chế khi áp dụng trong thực tiễn,gây khó khăn cho công tác xét xử của Tòa án Do đó, Bộ luật dân sự 2015 được Quốc Hội thông qua vào ngày 24 tháng 12 năm 2015 đã có những điều chỉnh cơ bản giúp cải thiện hơn chế định này
I.Khái niệm chung:
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (BTTH) là trách nhiệm dân sự do hành vi gây
ra thiệt hại phát sinh giữa các chủ thể, bên có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho bên bị thiệt hại
= > Hiểu một cách đơn giản là loại trách nhiệm bồi thường không phát sinh từ quan
hệ hợp đồng; người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
II Phân tích cụ thể
1.Đối tượng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng áp dụng đối với những hành vi tráipháp luật gây thiệt hại khi xâm phạm các đối tượng của các chủ thể khác nhau Khi xác định chủ thể được BTTH, BLDS 2015 đã quy định theo hướng khái quát hơn, không còn chia ra trường hợp cá nhân và pháp nhân hoặc chủ thể khác như BLDS
2005 nữa Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 chỉ quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” “Người khác” ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác và như vậy đã bao hàm được tất cả các loại chủ thể được BTTH như quy định tại BLDS 2005 trước đây
Đối với cá nhân: đó là những thiệt hại phát sinh khi cá nhân đó bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác
Đối với pháp nhân và các chủ thể khác: đó là những thiệt hại phát sinh khi danh
dự, uy tín, tài sản của các chủ thể này bị xâm phạm
Về thiệt hại: bao gồm những thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng có những biện pháp trách
Trang 2nhiệm buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, nhưng biện phápchủ yếu là bồi thường bằng tiền
2.Nguyên tắc và căn cứ xác định trách nhiệm:
2.1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại: (căn cứ vào Điều 585 BLDS 2015)
Theo khoản 1 Điều 585 BLDS 2015, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ
và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Trước đây, khi giải thích nguyên tắc BTTH theo Khoản 1 Điều 605 BLDS 2005, có hai quan điểm khác nhau về bồi thường toàn bộ Quan điểm thứ nhất cho rằng “toàn bộ” ở đây được hiểu là toàn bộ thiệt hại xảy ra trong thực tế Quan điểm thứ hai lại cho rằng: “toàn bộ” ở đây là toàn bộ những thiệt hại được pháp luật quy định, có nghĩa là nếu một thiệt hại xảy ra trong thực tế nhưng không được pháp luật quy địnhthì vẫn không được bồi thường Lý do của việc có 2 quan điểm như trên là vì BLDS
2005 chỉ đưa ra nguyên tắc phải bồi thường toàn bộ thiệt hại chứ không quy định rõ
là loại thiệt hại nào Khoản 1 Điều 585 BLDS 2015 đã khắc phục điều này bằng cách bổ sung thêm từ “thực tế” vào phía sau cụm từ “thiệt hại” để tạo thành nguyên tắc như trên
Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý gây ra thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình (Khoản 2 Điều
605 BLDS 2005)
Nếu như BLDS 2005 quy định chủ thể được giảm mức bồi thường là “người gây thiệt hại” thì BLDS 2015 đã xác định là “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại” Việc thay đổi thuật ngữ “người gây thiệt hại” thành “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ”, là chính xác và đầy đủ hơn, bởi lẽ theo BLDS 2015 thì người chịu trách nhiệm BTTH không chỉ có người gây thiệt hại mà còn có thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản có tài sản gây ra thiệt hại hoặc có thể là chủ thể khác như cha, mẹ chịu trách nhiệm BTTH cho con chưa thành niên, pháp nhân BTTH do người của pháp nhân gây ra v.v
Đến BLDS 2015, đã có sự chỉnh sửa, bổ sung như sau: “Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có lỗi hoặc lỗi vô ý”
Ở điều kiện thứ nhất (điều kiện cần) này, BLDS 2015 đã bỏ đi cụm từ “mà gây thiệt hại” và bổ sung thêm điều kiện người chịu trách nhiệm BTTH “không có lỗi” Sự sửa đổi này là hợp lý và phù hợp với thực tiễn hơn, bởi lẽ có những trường hợp một người phải chịu trách nhiệm BTTH nhưng thực sự họ không có lỗi, ví dụ như trườnghợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ
Trang 3gây ra, hay trường hợp người phải bồi thường làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại
mà không có lỗi, v.v
Thêm nữa, trước đây khi một người gây thiệt hại do lỗi vô ý, pháp luật đã cho phép giảm mức bồi thường nếu hoàn cảnh kinh tế của họ gặp khó khăn, thì trong trường hợp một người phải chịu trách nhiệm bồi thường do hành vi của người khác hay do tài sản gây ra và họ không có lỗi thì cũng cần được xem xét giảm mức bồi thường Nói cách khác, nếu như trước đây, người gây thiệt hại do lỗi vô ý được “đối xử” tốt hơn so với người gây thiệt hại do lỗi cố ý, thì nay người phải chịu trách nhiệm BTTH không phải do hành vi của họ gây ra và họ cũng không có lỗi thì cũng cần được đối xử tương tự như người gây thiệt hại do lỗi cố ý, như thế mới đảm bảo tính công bằng cho các bên
Thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Ở điều kiện thứ hai (điều kiện đủ) này, BLDS 2015 đã có quy định khác so với quy định này của BLDS 2005 Cụ thể là, nếu như BLDS 2005 quy định điều kiện thứ hai là khi“thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại” thì BLDS 2015 đã bỏ đi cụm từ “trước mắt và lâu dài” Như vậy, theo BLDS 2015 thì điều kiện thứ hai là “thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế” của người chịu trách nhiệm BTTH Cách xem xét mức BTTH dựa trên khả năng kinh tế theo quy định ở BLDS 2015, rõ ràng là hợp lý và dễ dàng hơn, bởi lẽ đểxác định được thiệt hại đó là có quá lớn hay không ở khoảng thời gian cả “trước mắt” lẫn “lâu dài” thực sự điều khó khăn và khó lòng chính xác
Khi bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường
Hiện nay, BLDS 2015 đã bổ sung nguyên tắc này vào Khoản 5 Điều 585: “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không
áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”
Rõ ràng, có thể đánh giá đây là một bổ sung rất có giá trị Việc thừa nhận trách nhiệm phải hạn chế thiệt hại này của bên có quyền và lợi ích bị xâm phạm là hợp lý, bởi lẽ, nếu trong khả năng của mình, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm có thể hạn chế thiệt hại xảy ra cho chính mình nhưng họ không làm, thì về mặt lý họ sẽ không thể yêu cầu bồi thường phần thiệt hại đó Bên cạnh đó, điểm tiến bộ khi đưa quy định này vào BLDS 2015 là góp phần hạn chế bớt thiệt hại và xét ở góc độ kinh tế, điều này sẽ đảm bảo lợi ích cho cả xã hội
2.2 Căn cứ xác định trách nhiệm
Việc quy kết trách nhiệm trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng sử dụng những căn cứ như trong trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự Tuy
Trang 4nhiên, trong việc xác định thiệt hại và lỗi có một số nội dung khác, bộ luật dân sự quy định cơ cấu cho từng khoản riêng:
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 589 ),
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 590),
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 591),
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 592)
Thời hạn bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm (Điều 593).Nếu như trong BLDS 2005, yếu tố lỗi (kể cả lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý) được sử dụng như là căn cứ đầu tiên để xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng thì trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH đầu tiên lại là hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại Theo đó, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Rõ ràng, BLDS 2015 đã thay đổi quy địnhtheo hướng người bị thiệt hại không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại nữa, họ chỉ cần xác định được hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại là đã cóthể yêu cầu bồi thường Trách nhiệm chứng minh lỗi giờ đây sẽ thuộc về người gây thiệt hại trong trường hợp muốn được miễn trách nhiệm BTTH (Khoản 2 Điều 585 BLDS 2015) hoặc được giảm mức bồi thường (Khoản 2, 4 Điều 586 BLDS 2015)
Sự thay đổi này, theo chúng tôi là hợp lý hơn và đã giảm bớt được gánh nặng chứng minh cho người bị thiệt hại
BLDS 2015 lại quy định thêm trường hợp ngoại lệ, đó là “trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Đây là một quy định rất phù hợp, bởi vì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng về nguyên tắc là được đặt ra cho chính chủ thể
có hành vi gây thiệt hại, nhưng có khi lại là người khác, ví dụ như Điều 586 về Nănglực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân, trong trường hợp này, người gây ra thiệt hại là con nhưng người chịu trách nhiệm bồi thường lại là cha mẹ hay người giám hộ; Điều 598 quy định về BTTH do người thi hành công vụ gây ra, trong trường hợpnày, người gây thiệt hại là người thi hành công vụ nhưng người chịu trách nhiệm bồithường là cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức hay cơ quan tiến hành tố tụng v.v…
BLDS 2015 đã bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là “tài sản gây thiệt hại” Cụ thể, theo Khoản 3 Điều 584 BLDS 2015, chủ sở hữu, người chiếm hữutài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của mình gây ra (Ví dụ Điều 605 quy định về Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gâyra: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác
đó gây thiệt hại cho người khác ”) Đây là một sự bổ sung của BLDS 2015 được đánh giá cao, phản ánh sát sao thực tế hơn Bởi lẽ trên thực tế, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng có thể phát sinh khi có sự kiện tài sản gây ra thiệt hại BLDS
2015 đã khắc phục được sự thiếu rõ ràng của BLDS 2005 về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra thiệt hại, tạo nên sự thống nhất trong quy định về thực tiễn áp dụng
Trang 5pháp luật, góp phần làm ổn định và lành mạnh hóa các quan hệ pháp luật dân sự Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 584 cũng đã quy định thêm về những trường hợp loại trừtrách nhiệm BTTH để đảm bảo tính thống nhất trong mọi trường hợp khi tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
= > Việc BLDS 2015 mở rộng trường hợp làm phát sinh trách nhiệm BTTH do người khác gây ra là nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người bị thiệt hại trong việc đạt được mục đích bồi thường Điều mà pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng luôn tìm cách hướng tới là tìm được một hay nhiều chủ thể có điều kiện thực hiện trách nhiệm BTTH Càng có nhiều người chịu trách nhiệm BTTH thì người bị thiệt hại càng có cơ hội được bồi thường tốt hơn
(Nguồn: luatsuphamtuananh.com)
III.Ví dụ minh họa
Ví dụ 1: Trường hợp được giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của người phải bồi thường
Ông H mới mua một chiếc xe hơi trị giá 4 tỷ Ông mang chiếc xe đi bọc, lắp một
số thiết bị phụ cho xe hết 15 triệu, về đến nhà ông đỗ xe trước cổng Một chiếc xetải của ông K do anh M lái, đang lưu thông trên đường, do anh M đánh lái tránh
bé N bất ngờ lao xuống đường, xe mất lái đã lao lên hè nhà ông A và đâm vào xe ông H mới mua
Trong trường hợp này, Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (anh M) có thể được giảm mức bồi thường vì có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh (Theo Điều 585 BLDS 2015)
Ví dụ 2:
Trường THCS X đang trong thời gian thi công, xây dựng thêm một khu nhà mới
Để đảm bảo an toàn cho toàn bộ học sinh của trường, trường đề ra nội quy yêu cầu tất cả học sinh không được lại gần khu vực đang thi công phía sau trường Học sinh nào vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định của nhà trường Tuy nhiên,
chiều ngày 21/09/2021, sau khi tan học, sẵn tính tò mò, 2 em L và V, học sinh lớp 7H (12 tuổi) rủ nhau ở lại, trốn ra công trường phía sau trường nghịch ngợm Sẵn
có bãi đá, L và V dùng đá chơi ném nhau sau đó thách nhau xem ai ném trúng quảxoài trên cây xoài gần đó Không may viên đá bay lạc, trúng vào đầu cụ D đang
đi bộ ở khu dân cư ngay sát trường học làm cụ D bị choáng và ngã xuống đường Kết quả tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng cụ D bị thương ở đầu, phải khâu mất 7 mũi Tiền viện phí, chụp X-quang, thuốc men lên đến 3 triệu đồng Trong trường hợp này, 2 em học sinh chưa đủ mười lăm tuổi nên theo quy định của pháp luật, cha, mẹ của 2 em L và V sẽ chịu trách nhiệm bồi thường (Theo
Điều 586 BLDS 2015)
Ví dụ 3: Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra
A, B, C cùng bàn bạc, thỏa thuận hủy hoại đầm cá của D đang nuôi A, B,C phân công công việc cụ thể: A đi mua 20 lít thuốc trừ sâu đồng thời sau này làm nhiệm vụ
Trang 6cảnh giới; B làm nhiệm vụ đánh lạc hướng, rủ D đi uống rượu; C thực hiện nhiệm vụ
đổ thuốc trừ sâu xuống đàm cá của D
Trong trường hợp này, về hình thức hành vi gây thiệt hại cho D là do c đổ thuốc trừ sâu xuống đầm cá Tuy nhiên, hành vi của A, B và C phải bị coi là “cùng gây thiệt hại”, do đó phát sinh trách nhiệm liên đới trong việc bồi thường thiệt hại cho D (theo Điều 587 Bộ luật dân sự 2015)
Ví dụ 4 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:
Anh M và anh N rủ nhau đi nhậu, sau khi nhậu say và có bất đồng quan điểm
trong một số vấn đề, cả hai đã xảy ra mâu thuẫn sau đó do không làm chủ được mình anh M đã lấy chai rượu đánh vào đầu anh N làm anh N bị thương ở đầu, với
tỷ lệ thương tích là 5%
Trong trường hợp trên, anh M đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của anh N trái pháp luật do đó, anh M phải trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh N (theoĐiều 590 Bộ luật dân sự 2015)
( Nguồn: luathoangphi.vn)
Ví dụ 5: Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Sau buổi tiệc liên hoan 25 năm thành lập công ty, Giám đốc X có sử dụng đồ uống có cồn nhưng vẫn tự ý lái xe về nhà Và sau đó gây tai nạn cho chị B nhưng chị B chỉ bị thương nặng (80% sức khỏe) và được chở đi bệnh viện ngay lấp tức Tuy nhiên, sau 3 tháng điều trị, chị B đã không qua khỏi
Trong trường hợp đó, mọi chi phí điều trị của chị B cũng như khoản tiền bồi
thường 700 triệu đồng để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân của chị B sẽ hoàn toàn do anh X gánh chịu ( Điều 591 BLDS 2015) Bên cạnh đó, vớitội phạm về vi phạm an toàn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng thì khi cơ quancông an phát hiện ra tội phạm sẽ tiến hành khởi tố anh X
Ví dụ 6 Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:
Ông A sở hữu một chiếc xe máy trị giá 50 triệu đồng Ông đỗ xe đúng quy định ở bãi đỗ của công ty Ông B lái xe ô tô của mình vào bãi gửi xe, do có sử dụng rượukhi lái xe nên vào bãi đổ xe ông B đã không làm chủ được tay lái, đâm vào xe máy của ông A làm xe hư hỏng nặng
Như vậy, trong trường hợp này ông B đã có hành vi xâm phạm tài sản của ông A, đây là hành vi trái pháp luật Do đó, ông B đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho ông A (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự 2015)
Ví dụ 7: Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý
Bạn A, 14 tuổi trốn học đi chơi, trên đường đi đâm phải cô B trên đường, cô B có ngã ra đường nhưng người và xe đều không sao chỉ có laptop hư hỏng nặng
Trang 7Trong trường hợp này do A đang trong thời gian tiếp quản của nhà trường nên nhà trường phải phụ trách đền bù thiệt hại cho cô B.Tuy nhiên, căn cứ theo khoản 3 Điều
599 Bộ luật dân sự 2015 này, nếu trường mà chứng minh được mình không có lỗi thìcha, mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con con chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây ra ( luatvietphong.vn)
Ví dụ 8: Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra
Ông M lái xe cho một công ty taxi Do sơ suất ông đã xảy ra va chạm với 1 chiếc xe CRV đang đỗ trên vỉa hè Theo Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 ông M sẽ phải bồi thường thiệt hại cho chủ xe CRV
Nhưng do là người lái xe thuê cho công ty taxi, công ty sẽ đứng ra trả tiền sửa chữa
xe cho chủ xe CRV, sau đó ông M sẽ phải hoàn trả lại cho công ty số tiền này theo quy định tại Điều 600 Bộ Luật Dân sự năm 2015 (luatduongggia.vn)
Ví dụ 9: Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
M và N vào trung tâm thương mại V chơi, vừa đi xem quầy hàng, vừa ăn bánh ngọt
A là nhân viên bảo vệ nhắc nhở nội quy của trung tâm thương mại là khách không được ăn uống trong các quầy hàng nhưng M và N lại lờ đi và vẫn tiếp tục ăn Thấy vậy A nói với B là một nhân viên bảo vệ khác A và B xông tới, dùng còng tay để còng tay M và N , vừa đánh vừa hô trộm để khách hàng khác tưởng M và N trộm cắp hàng hóa M và N bị giữ lại đến tối mới được thả về, sau khi phải xin lỗi, van xin A và B nhiều lần Do bị đánh, cả M và N đều bị thương tích ở mặt và người.Trong trường hợp này, việc A, B còng tay, đánh M và N, sau đó lại giữ lại trong trung tâm nhiều giờ liền là trái pháp luật Bảo vệ trung tâm thương mại không phải
là người có thẩm quyền còng tay hay đánh người, giữ người
A và B là nhân viên của trung tâm thương mại, gây thiệt hại khi đang thực hiện côngviệc được giao, vì vậy, theo Điều 597 Bộ luật dân sự 2015, bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra, trung tâm thương mại V phải bồi thường thiệt hại cho
M và N Sau khi đã bồi thường cho M và N, trung tâm thương mại V có quyền yêu cầu A, B phải hoàn trả một khoản tiền bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó hành vi của
A, B – bảo vệ trung tâm thương mại V đã gây ra thiệt hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của M và N Vì vậy, trung tâm phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe theoĐiều 590 Bộ luật dân sự 2015 và thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm theo Điều
592 Bộ luật dân sự 2015
Ví dụ 10: Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra:
Anh A là cảnh sát thuộc Cục Cảnh sát hình sự, được cấp trên giao nhiệm vụ điều tra
về một đường dây buôn bán ma túy Trong quá trình điều tra, do bản tính nóng nảy, vội vàng anh A đã đột nhập vào nhà anh B để bắt giữ anh B vì nghi ngờ anh B tham gia đường dây buôn bán ma túy đó Về phía anh B, do bất ngờ bị cảnh sát bắt giữ nên anh B luôn lo lắng sợ sệt Sau khi áp giải anh B về trụ sở và điều tra lại, anh A
Trang 8nhận ra mình bắt giữ nhầm người và thả anh B đi Dù anh B được minh oan, nhưng hàng xóm xung quanh vẫn luôn nghi ngờ và có ấn tượng xấu với anh B.
Trong trường hợp trên, anh A đã bắt giữ và xâm nhập trái phép chỗ ở của anh B, đồng thời gây thiệt hại về sức khỏe tinh thần và uy tín, danh dự của anh B Vì thế, anh A sẽ phải bồi thường thiệt hại cho anh B theo Điều 590 và Điều 592 Bộ luật dân
sự 2015 Nhưng do anh A là cảnh sát hình sự (người thuộc cơ quan nhà nước) và đang thi hành công vụ, nên Nhà nước sẽ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh
B, căn cứ vào Điều 598 Bộ luật dân sự 2015 Còn với sai phạm của mình, anh A có thể sẽ phải chịu hình phạt do cấp trên đưa ra
Câu 2 Phân tích quy định của pháp luật về thừa kế Cho ví dụ minh họa?
Bài làm
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” Như vậy quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
�
❖ Khái niệm:
- Thừa kế: là quan hệ xã hội về việc chuyển giao di sản của người chết chongười sống, tài sản để lại được gọi là di sản Thừa kế được chia thành thừa kếtheo pháp luật và thừa kế theo di chúc
- Di sản: là một trong những cơ sở để lập di chúc và xác định các vấn đề liênquan đến thừa kế Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Di sản baogồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sảnchung với người khác”
Trang 9A QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ
1. Quy định về quyền thừa kế (Điều 609 BLDS 2015): “Cá nhân có quyền
lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho ngườithừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Ngườithừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”
➔ Khác với BLDS 2005, BLDS 2015 đã điều chỉnh và bổ sung thêm quyền củangười thừa kế “không là cá nhân”, tức người được hưởng thừa kế là pháp nhânhay tổ chức Theo quy định này, cá nhân là người được nhận thừa kế có quyềnhưởng di sản thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật, còn người thừa kế làpháp nhân hay tổ chức chỉ có thể được hưởng thừa kế theo di chúc Và tạiĐiều 610 BLDS 2015 cũng đã quy định: Mọi cá nhân đều bình đẳng về“
quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo dichúc hoặc theo pháp luật”
nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và cònsống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại disản chết Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồntại vào thời điểm mở thừa kế”
➔ Tại BLDS 2015 đã điều chỉnh “cơ quan, tổ chức” (của BLDS 2005) thành
“không là cá nhân” tức phạm vi của người thừa kế đã được mở rộng hơn Cóthể là một nhóm người, một gia đình, chứ không chỉ dừng lại ở một cơ quanhay tổ chức
Và Điều 651 BLDS 2015 quy định người thừa kế theo pháp luật, theo đó hàngthừa kế được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chịruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ôngnội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
Trang 10- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột,cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà ngườichết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết
mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau
- Những người ở hàng thừa kế chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ởhàng thừa kế trước đó đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyềnhưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản
➔ Tuy nhiên theo quy định tại Điều 621 của BLDS 2015 thì trong một số trườnghợp kể cả thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật, thì những người sau đâykhông có quyền được hưởng thừa kế: “Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạmtính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người
để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; bị kết
án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế nhằm hưởng một phầnhoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền được hưởng; người cóhành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập dichúc, giả mạo, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn
bộ di sản trái với ý muốn của người để lại di sản” Tuy nhiên, những người cóhành vi này vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi củangười đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản
3 Quy định về thời hiệu thừa kế (Điều 623 BLDS 2015):
“1 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất độngsản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì
di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó Trường hợp không cóngười thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều
236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểma) khoản này
Trang 112 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặcbác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
3 Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết
để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”
➔ Quy định trên nhằm tránh trường hợp bất cập trước đây là có nhiều tài sảnthừa kế đang bị tranh chấp nhưng do hết thời hiệu khởi kiện nên người thừa kếtài sản không thể đăng ký quyền sở hữu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng này như người thừa kế không nắm rõ các quy định của pháp luật về thờihiệu khởi kiện chia thừa kế hoặc do sự ràng buộc về đạo lý, truyền thống màcon cái không dám yêu cầu chia thừa kế khi cha mẹ qua đời trong thời gianngắn
4 Quy định về thừa kế theo di chúc (Điều 625 BLDS 2015):
“1 Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều
630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình
2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc,nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc"
Theo đó điều kiện để di chúc hợp pháp, tại Điều 630 BLDS 2015 đã quyđịnh:
“1 Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúcminh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức
xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật
2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải đượclập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việclập di chúc
3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phảiđược người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực
Trang 124 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợppháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5 Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chícuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khingười di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại,cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người
di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viênhoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ củangười làm chứng”
5 Quy định về di sản thừa kế (Điều 612 BLDS 2015): “Di sản bao gồm tài
sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung vớingười khác”
➔ Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất độngsản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sảnhình thành trong tương lai
➔ Ngoài ra di sản được quy định bao gồm cả các quyền tài sản như: quyền đòibồi thường thiệt hại, quyền đòi nợ, quyền thừa kế giá trị, quyền sử dụng nhàthuê của nhà nước Bên cạnh đó, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ củangười chết Do vậy, trong trường hợp người có tài sản để lại còn có cả nghĩa
vụ về tài sản, thì phần nghĩa vụ này sẽ được thanh toán bằng tài sản của ngườichết Phần còn lại sẽ được xác định là di sản thừa kế và được chia theo di chúchay quy định của pháp luật Trong trường hợp di sản chưa được chia, thì nghĩa
vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo đúngthỏa thuận của những người thừa kế
➔ Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc, thìcũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là
cá nhân
1 Quy định về di chúc (Điều 624 BLDS 2015): “Di chúc là sự thể hiện ý chí
của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”
Trang 13➔ Hình thức của di chúc phải được lập thành văn bản Nếu không thể lập được dichúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng Di chúc miệng chỉ được côngnhận là hợp pháp Nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mìnhtrước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứngphải ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Sau 3 tháng, kể từ thời điểm dichúc miệng mà người để lại di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt, thì dichúc miệng bị hủy bỏ.
➔ Đối với trường hợp di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phảiđược lập thành văn bản và phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý Dichúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phảiđược người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực
➔ Tuy nhiên, một di chúc dù hình thức bằng văn bản hay bằng miệng thì chỉđược coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: Người lập di chúc
đã thành niên, minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa đối, đedọa hoặc cưỡng ép Nội dung di chúc không phải trái pháp luật, đạo đức xãhội, hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật Nếu việc lập di chúc
có người làm chứng thì người làm chứng không phải là những người sau:Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc Người
có quyền nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc Người chưa thànhniên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,làm chủ hành vi
2 Di chúc chung của vợ chồng: BLDS 2015 không quy định di chúc chung
của vợ, chồng do chế định này trong BLDS 2005 còn có nhiều bất cập trongviệc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung hay khi một bên vợ hoặcchồng chết trước, những người thừa kế hợp pháp không thể đề nghị phân chia
di sản thừa kế hoặc chia thừa kế bắt buộc
B THỪA KẾ THEO DI CHÚC
* Điều 624 Bộ luật dân sự 2015: Di chúc