Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình quyền, quyền tài phán nhằm mục đích kinh tế, được quy định bởi Công ước, mà không chia sẻ với
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI
Phân tích quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh
tế theo quy định của Công ước luật biển năm 1982
và đánh giá thực tiễn thực hiện quyền chủ quyền trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
HỌ VÀ TÊN : Nguyễn Hải Mạnh MSSV : VB120A0048
LỚP : VB120A NĂM HỌC : 2020 - 2021
Trang 2I KHÁI NIỆM VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ
Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển mở rộng của quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài và tiếp liền với lãnh hải Vùng biển này có quy chế pháp lý riêng; trong đó, các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (hay quốc gia quần đảo), các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khác được điều chỉnh theo các quy định (phần V) của Công ước Luật Biển 1982 Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ
sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (Điều 57)
Theo quy định tại phần V của Công ước Luật Biển 1982, vùng đặc quyền về kinh tế là một vùng đặc thù, với chế độ pháp lý riêng biệt Nó không phải là lãnh hải (vì nằm ngoài lãnh hải) và cũng không phải là một phần của biển cả (vì phạm vi áp dụng của phần biển cả (phần VII) của Công ước Luật Biển 1982, không áp dụng cho vùng đặc quyền về kinh tế)
Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình (quyền, quyền tài phán) nhằm mục đích kinh tế, được quy định bởi Công ước, mà không chia sẻ với các quốc gia khác Song, đây là vùng chuyển tiếp giữa lãnh hải và biển
cả, nên đồng thời là một "vùng chủ quyền giới hạn" Nguồn gốc sự ra đời của vùng đặc quyền về kinh tế xuất phát từ nhu cầu khai thác kinh tế biển và đảm bảo an ninh trên vùng biển của các quốc gia ven biển
Như vậy, theo quy định tại Điều 55 và 57 UNCLOS 1982: Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyển và
Trang 3quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quổc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh Vùng đặc quyền kỉnh tế có chiều rộng không quả 200 hải lý
kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải
Quy định trên đã làm rõ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, về vị trí, vùng đặc quyền kinh tế nằm bên ngoài lãnh thổ của quốc gia ven biển, tiếp liền với lãnh hải, có ranh giới trong là đường biên giới quốc gia trên biển, ranh giới ngoài là một đường mà mỗi điểm trên đó cách đường cơ sở khoảng cách tối đa không quá
200 hải lý
Thứ hai, về chiều rộng, vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở
Thứ ba, trong mối quan hệ với vùng tiếp giáp lãnh hải, do vùng đặc quyền kinh tế và vùng tiếp giáp đều có ranh giới trong là đường biên giới quốc gia trên biển mà chiều rộng của vùng đặc quyền kinh
tế được xác định không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở trong khi chiều rộng của vùng tiếp giáp không quá 24 hải lý tính từ đường cơ
sở, nên thực chất, vùng đặc quyền kinh tế bao trùm lên vùng tiếp giáp lãnh hải Nói cách khác, vùng tiếp giáp lãnh hải là một bộ phận nằm trong vùng đặc quyền kinh tế Điều này lý giải vì sạo tại vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển và các quốc gia khác được
hưởng đầy đủ các quy chế pháp lý mà UNCLOS 1982 quy định cho vùng đặc quyền kinh tế
Thứ tư, chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế sẽ bao gồm
cả quyền của quốc gia ven biển và quyền của quốc gia khác do Công ước quy định Đây chính là đặc trưng, tạo nên sự khác biệt trong chế
độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế với các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia
Trang 4Điều này xuất phát do vị trí của vùng biển này cũng như các vùng biển khác thuộc quyền chủ quyền quốc gia, mặc dù nằm bên ngoài lành thổ quốc gia ven biển nhưng cũng chưa thuộc vùng lãnh thổ quốc tế nên tại đó vừa ghi nhận quyền của quốc gia ven biển vừa ghi nhận quyền của các quốc gia khác
II QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ
1 Chế độ pháp lý đối với vùng đặc quyền kinh tế
Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng biển đặc thù, trong đó thể hiện sự cân bằng giữa "các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển" với "các quyền và các quyền tự do của các quốc gia khác"
Theo quy định của Công ước luật biển 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có:
- Các quyền thuộc chù quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió
- Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của công ước về việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bi và công trình, nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển cũng như các quyền và nghĩa vụ khác do Công ước quy định
Tính đặc quyền của quốc gia ven biển thể hiện trong việc quốc gia ven biển có toàn quyền đánh giá nguồn ỉiềm năng đối với các tài nguyên sinh vật, thi hành các biện pháp thích hợp về bảo tồn và quản lý nhằm làm cho việc khai thác, duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình khỏi bị ảnh hưởng do khai
Trang 5thác quá mức Các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, các tổ chức phân khu vực, khu vực hay thế giới chỉ có thể tham dự vào việc duy trì các nguồn lợi sinh vật này ở mức độ “hợp tác một cách thích hợp” với quốc gia ven biển
Tuy nhiên, đối với tài nguyên sinh vật, đặc quyền này chấp nhận ngoại lệ nếu tổng khối lượng cho phép đánh bắt lớn hơn khả năng khai thác của quốc gia ven biển, có nghĩa là tổn tại một số dư của khối lượng cho phép đánh bắt thì quốc gia ven biển lại có nghĩa
vụ “tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tối ưu các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền kinh tế" mà không phương hại đến đặc quyền bảo tồn tài nguyên sinh vật của mình
Quốc gia ven biển cho phép các quốc gia khác, thông qua các điều ước hoặc những thoả thuận liên quan, khai thác số dư của khối lượng cho phép đánh bắt này, có ưu tiên cho các quốc gia không có biển hoặc bất lại về mặt địa lý
Để thực hiên có hiệu quả quyền chủ quyền của mình đối với tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình Quyền tài phán này của quốc gia ven biển không chỉ mở rộng đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình đặt trong cột nước trong vùng đặc quyền kinh tế mà còn đối với cả các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình đặt trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng
Công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh
tế và ờ trên thềm lục địa phải được tiến hành với sự thoả thuận cùa quốc gia ven biển và không được gây trở ngại một cách phi lý cho các hoạt động do quốc gia ven biển tiến hành trong việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán mà Công ước đã trù định
Trang 6Công ước luật biển 1982 công nhận cho quốc gia ven biển
quyền tài phán về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển chống lạí các ô nhiễm bắt nguồn từ nhiều nguồn khác nhau
Trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, trong những điều kiên do các quy định thích hợp cùa Công ước luật biển 1982 trù định, đều được hưởng ba quyền tự do cơ bản:
- Quyền tự do hàng hải;
- Quyền tự do hàng không;
- Quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm
2 Quyền của quốc gia ven biển
Thứ nhất, quyền chủ quyền trong việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế
Theo quy định tại Điều 56 UNCLOS 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển
- Đối với tài nguyên sinh vật, quyền chủ quyền của quốc gia ven biển được thể hiện qua các nội dung:
+ Trong việc thăm dò, khai thác, quốc gia ven biển có quyền tiến hành những hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tối ưu các tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế trên cơ
sở không làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo tồn (khoản 1 Điều 62);
Tự mình định ra khối lượng tài nguyên sinh vật có thể đánh bắt được (khoản 1 Điều 61), tự mình xác định khả năng khai thác, trên cơ sở
Trang 7đó, xác định lượng cá dư trong vùng đặc quyền kinh tế (khoản 2 Điều 62) Ngoài ra, trong trường hợp quốc gia ven biển không khai thác hết lượng cá có thể đánh bắt, quốc gia ven biển có quyền cho phép các quốc gia khác được tham gia khai thác lượng cá dư thừa tại vùng đặc quyền kinh tế thông qua các điều ước hoặc các thoả thuận khác (khoản 2 Điều 62), đồng thời quy định những vấn đề điều chỉnh hoạt động khai thác của nước ngoài trong trường hợp này Tuy nhiên, việc cho các quốc gia khác tham gia khai thác lượng cá dư thừa sẽ không được đặt ra trong trường hợp quốc gỉa ven biển có nền kinh tế lệ thuộc rất nặng nề vào việc khai thác tài nguyên sĩnh vật ở vùng đặc quyền kinh tế
+ Theo quy định tại Điều 73, quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi-biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ
và khởi tổ tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các luật và quy định trong vấn đề thăm dò, khai thác, bảo tồn cũng như quản lý tài
nguyên sinh vật mà mình đã ban hành Ngoài việc không được áp dụng hình phạt tù giam hay một hình phạt thân thể (trừ khi các bên
có thỏa thuận khác), quốc gia vén biển không bị giới hạn nào khác trong việc áp dụng các ché tài đối với hành vi vi phạm các quy định của mình về khai thác, quản lý tài nguyên sinh vật
- Đối với tài nguyên phi sinh vật, tương tự như với tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển cũng có quyền chủ quyền trong việc thăm
dò, khai thác, bảo tồn và quản lý những tài nguyên này trong vùng đặc quyền kinh tế của mình Tài nguyên phi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế bao gồm tài nguyên nước biển phục vụ cho kinh tế vận tải biển hoặc các ngành công nghiệp khác, gió biển, cảnh quan thiên nhiên phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học, khai thác du lịch Riêng với tài nguyên khoáng sản và tài nguyên phi sinh vật
Trang 8khác bên trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế sẽ có quy chế pháp lý của thềm lục địa, đó là tính chất
“đặc quyền” của quốc gia ven biển
Thứ hai, quốc gia ven biển có quyền tài phán trong các lĩnh vực:
- Lắp đặt, sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình khác trong vùng đặc quyền kinh tế kể cả về mặt các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế, an ninh hoặc nhập cư
Theo quy định tại Điều 60 UNCLOS 1982, quốc gia ven biển có đặc quyền đối với các đảo nhân tạo và thiết bị, công trình trong vùng đặc quyền kinh tế trên các phương diện xây dựng, cho phép xây dựng và quy định về việc xây dựng, khai thác, sử dụng Tính đặc quyền được thể hiện ở'chỗ: (i) chỉ quốc gia ven biển mới được quyền xây dựng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, các quốc gia khác muốn xây dựng, lắp đặt đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trong vùng đặc quyền kinh tế phải xin phép và được sự cho phép của quốc gia ven biển; (ii) trong trường hợp cho phép quốc gia khác xây dựng đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trong vùng biển của mình, quốc gia ven biển có toàn quyền đưa
ra các quy định, luật lệ điều chính việc xây dựng, khai thác, sử dụng những công trình, thiết bị này Ngoài ra, quốc gia ven biển có quyền thiết lập khu vực an toàn với kých thước, chiều rộng hợp lý Trong các khu vực đó, quốc gia ven biển có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo đảm an toàn hàng hải, cũng như an toàn của các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình đó và các quốc gia khác có nghĩa vụ tôn trọng các khu vực an toàn này Quốc gia ven biển có quyền xử lý đối với những hành vi vi phạm các quy định mà mình đã ban hành như đình chỉ các hoạt động lắp đặt, yêu cầu tháo dỡ các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình Đặc biệt, ngay cả khi không có sự vi phạm
Trang 9các quy định của quốc gia ven biển nhưng bất kì hoạt động nào tác động đến các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị của quốc gia khác đặt trong vùng đặc quyền kinh tế vẫn thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển Chẳng hạn khi thiết bị, công trình của một quốc gia đặt trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển bị tàu thuyền của một quốc gia khác đâm va làm hư hỏng thì thẩm quyền tài phán trong trường hợp này vẫn thuộc về quốc gia ven biển và quốc gia ven biển có quyền áp dụng các quy định của mình để giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ đâm va và hậu quả của vụ đâm
va Bên cạnh đó, thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển không chỉ bị giới hạn ở những vấn đề liên quan trực tiếp đến quá trình lắp đặt, sử dụng các công trình, thiết bị mà còn được UNCLOS 1982 ghi nhận ở những lĩnh vực về hải quan, thuế khóa, y tế, an ninh hoặc nhập cư liên quan đến các thiết bị, công trình này
- Nghiên cứu khoa học biển (khoản 1 Điều 56): Quốc gia ven biển có toàn quyền cho phép nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế của mình Nói cách khác, các quốc gia muốn
nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế phải xin phép và được sự đồng ý của quốc gia ven biển Bên cạnh đó, quốc gia ven biển có quyền xây dựng và ban hành các quy định, luật lệ điều chỉnh hoạt động nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, đồng thời có quyền áp dụng các biện pháp thích hợp để xử lý trong trường hợp quốc gia khác vi phạm các quy định
mà mình đã ban hành
- Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển (khoản 1 Điều 56): Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định, luật lệ để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm đối với môi trường biển phảt sinh từ hoạt động của tàu thuyền, từ các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình cũng
Trang 10như bất kì hoạt động nào liên quan đến đáy biển, vùng lòng đất dưới đáy biển thuộc quyền chủ quyền của mình Cùng với việc ban hành pháp luật để điều chỉnh, quốc gia ven biển có quyền thực hiện mọi biện pháp để đảm bảo cho các luật lệ của mình được tuân thủ đầy đủ cũng như thực hiện mọi biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế
và chế ngự ô nhiễm môi trường biển Tàu thuyền nước ngoài khi có hành vi vi phạm hay gây thiệt hại trong lĩnh vực này đều thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển Mặc dù trong các quy định của vùng đặc quyền kinh tế không ghi nhận cụ thể về chế tài đối với tàu thuyền nước ngoài nhưng áp dụng tương tự Điều 73 cũng như các quy định tại Phần XII của UNCLOS 1982 về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, trong trường hợp vi phạm các luật lệ, quy định quốc gia hay các quy tắc và quy phạm quốc tế về ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển cũng như có thiệt hại xảy ra do hành vi gây ô nhiễm môi trường biển, quốc gia ven biển có quyền bắt giữ, khởi tố, xét xử và áp dụng hình phạt tiền đối với tổ chức, cá nhân vi phạm cũng như áp dụng trách nhiệm dân sự đổi với tổ chức, cá nhân liên quan như trách nhiệm khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại
3 Quyền của quốc gia khác
Theo quy định tại Điều 58 UNCLOS 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, đều được hưởng ba quyền tự do sau:
- Tự do hàng hải: Trong vùng đặc quyền kinh tế, tàu thuyền của mọi quốc gia được tự do đi lại mà không xin phép quốc gia ven biển Thẩm quyền tài phán đối với tàu thuyền nước ngoài thuộc về quốc gia mà tàu mang cờ, trừ hai trường hợp: (i) những vi phạm liên quan đến các lĩnh vực thuộc quyền chủ quyền và (ii) các lĩnh vực thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển Hành vi vi phạm của tàu