b Trường hợp tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 Bộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - TIN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
211231203303- NHÓM 1
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG
MẠI
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - TIN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
211231203303- NHÓM 1
Các tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG
MẠI
Giảng viên: Huỳnh Quang Thuận
Trang 3DANH SÁCH SINH VIÊN NHÓM 01 - LTTTM - MÃ LỚP 211231203303
1. Nguyễn Thị Phương Thảo 18DH380193
3. Đoàn Lê Thanh Bình 18DH380092
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của bản thân tôi Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong đề tài này là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin chịu trách nhiệm trước hội đồng chấm thi
Tp Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 01 năm 2022
Sinh viên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
CÂU HỎI 3
BÀI TIỂU LUẬN 4
I Nội dung qui định pháp luật 4
II Phân tích nội dung qui định pháp luật 7
III Thực tiễn áp dụng: 8
IV Bất cập 10
V Kinh nghiệm nước ngoài 12
VI KẾT LUẬN 15
DANH MỤC THAM KHẢO 16
Trang 6CÂU HỎI
(Ghi lại chủ đề đã chọn và cả vụ việc tự chọn ở đây)
Đề tài: Sinh viên chọn 01 đề tài trong số các đề tài sau và phân tích dựa trên các tiêu chí: (i) quy định của pháp luật Việt Nam; (ii) Thực tiễn áp dụng; (iii) Bất cập; (iv) Kinh nghiệm nước ngoài; (v) Quan điểm cá nhân về hoàn thiện.
1 Các tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài
Trang 7BÀI TIỂU LUẬN
Lý do chọn đề tài
Song song với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam, nhu cầu xác lập giao dịch dân sự theo đó ngày càng gia tăng Hệ quả tất yếu là tranh chấp, xung đột lợi ích giữa các bên trong quan hệ dân sự cũng tăng theo Nhu cầu giải quyết tranh chấp giữa các bên ngày 1 lớn, như chúng ta đã biết, tranh chấp có thể được giải quyết thông qua 4 phương thức: Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài và Tòa án Thương lượng và hòa giải
ít phổ biến vì nó phụ thuộc nhiều vào ý chi chủ quan của các bên Khi mâu thẫn gay gắt, xung đột lợi ích càng lớn thì sẽ càng khó thông nhất ý chí giữa các bên Do lẽ đó, các bên thường tìm tới phương thức giải quyết mang tính phán quyết, bắt buộc các bên thi hành như là Trọng tài và Tòa án Vì cả 2 phương thức giải quyết tranh chấp đều mang tính chất phán quyết, vì vậy vấn đề đặt ra là phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mỗi phương thức Cụ thể những tranh chấp nào sẽ được giải quyết bằng Trọng tài? Những tranh chấp nào sẽ được giải quyết bằng Tòa án? Bài tiểu luận này sẽ phân tích, bình luận cụ thể những tranh chấp nào sẽ được giải quyết bằng Trọng tài trên cơ sở pháp luật Việt Nam
I Nội dung qui định pháp luật
Như đã phân tích ở trên, do phát sinh nhu cầu phân định thẩm quyền của Trọng tài
và Tòa án dẫn tới sự ra đời của Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 về các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải của trọng tài như sau:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
Về phân định thẩm quyền giữa Tòa án và Trọng tài ở Điều 2 Luật trọng tài 2010 được hướng dẫn thi hành cụ thể tại Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP:
1 Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quy định tại Điều 2 Luật TTTM
nếu các bên có thoả thuận trọng tài quy định tại Điều 5 và Điều 16 Luật TTTM, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này
2 Khi có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực quy định tại
Điều 2 Luật TTTM thì Tòa án yêu cầu một hoặc các bên cho biết tranh chấp đó các bên
có thoả thuận trọng tài hay không Tòa án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm
Trang 8theo đơn khởi kiện để xác định vụ tranh chấp đó có thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này hay không Tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau: a) Trường hợp tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực pháp luật của Trọng tài xác định vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền
b) Trường hợp tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm
đ khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 (sau đây gọi tắt là BLTTDS) để trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện
Trường hợp sau khi thụ lý vụ án Tòa án mới phát hiện vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện
c) Trường hợp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp và Hội đồng trọng tài đang giải quyết vụ tranh chấp thì dù Tòa án nhận thấy tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài hoặc tuy đã có thoả thuận trọng tài nhưng thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này mà người khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, trường hợp Tòa án đã thụ lý thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trừ trường hợp Tòa
án thụ lý vụ tranh chấp trước khi có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp Sau khi có quyết định, phán quyết của Hội đồng trọng tài quy định tại các điều 43, 58, 59 và 61 Luật TTTM mà người khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án xem xét thụ
lý, giải quyết theo thủ tục chung
3 Tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây
thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác:
Trang 9a) Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên;
b) Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài quy định tại khoản 1 Điều 43 các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 59 Luật TTTM; c) Tranh chấp thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 4 Nghị quyết này
4 Trường hợp các bên vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa
có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Tòa án mà các bên không có thỏa thuận lại hoặc thỏa thuận mới về cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này mà phát sinh tranh chấp thì xử lý như sau: a) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp khi Tòa án chưa thụ lý vụ án quy định tại điểm b khoản 4 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại Điều 6 Luật TTTM để từ chối thụ lý, giải quyết Trong trường hợp này, khi nhận được đơn khởi kiện Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện, nếu đã thụ lý vụ án thì căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án
vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện
b) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, thì ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xác định một trong các bên đã yêu cầu Trọng tài giải quyết hay chưa
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện mà Tòa án xác định người bị kiện, người khởi kiện đã yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa
án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, trường hợp người bị kiện, người khởi kiện chưa yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa án xem xét thụ lý giải quyết theo thủ tục chung
Trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mà phát hiện tranh chấp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết trước thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện
Trang 10II Phân tích nội dung qui định pháp luật
Về qui định ở Khoản 1 Điều 2 Luật trọng tài 2010, đây là qui định về điều kiện các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, phụ thuộc vào tính chất của tranh chấp phát sinh là từ hoạt động thương mại, đây là sự kế thừa của Luật trọng tài thương mại 2010 đối với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Tuy nhiên, đây là điều khoản gây tranh cãi khá nhiều Lý do phát sinh từ khái niệm hoạt động thương mại có thể hiểu theo 2 nghĩa rộng và hẹp Hoạt động thương mại thương mại theo nghĩa rộng được hiểu là tất cả các hoạt động phát sinh nhằm mục đích sinh lời tức là phạm vi của nó rất rộng Tuy nhiên, hoạt động thương mại theo nghĩa hẹp được định nghĩa luật nội dung tức Luật thương mại 2005 là chỉ các hoạt động được phát sinh giữa các thương nhân tức các tổ chức kinh
tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005) Từ đây, sẽ phát sinh 2 luồng quan điểm trái ngược trong các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài phát sinh từ tinh chất tranh chấp như đã phân tích ở trẻn
Nắm bắt được bất cập ở Khoản 1, Khoản 2 qui định 1 cách khái quát, rõ ràng hơn
về điều kiện các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, ở đây là điều kiện về chủ thể, chỉ cần ít nhất 1 bên trong tranh chấp có hoạt động thương mại thì tranh chấp đó có thể giải quyết bằng trọng tài Mà theo luật nội dung (Luật thương mại 2005), hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005) Tóm lại, chỉ cần ít nhất 1 bên có hoạt động nhằm mục đích sinh lời thì tranh chấp đó có thể giải quyết bằng trọng tài => Giaỉ quyết được tranh cãi phát sinh từ Khoản 1 Tuy nhiên, cũng có vài lĩnh vực đặc biệt theo dân
sự nghĩa hẹp như hôn nhân – gia đình, thừa kế, lao động tuy có thể có 1 bên hoạt động thương mại nhưng vẫn bắt buộc phải giải quyết bằng Tòa án
Khoản 3 là 1 điều khoản mở để phù hợp với các ngành luật khác Có những tranh chấp không thuộc 2 khoản trên nhưng theo qui định của luật chuyên ngành thì phải quyết bằng trọng tài Ví dụ, trong Điều 30, 38 Luật bảo vệ người tiêu dùng và Điều 17 Luật trọng tài thương mại 2010 thì người tiêu dùng có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp
Trang 11III Thực tiễn áp dụng:
Trong thời đại nền kinh tế ngày một phát triển hoạt động thương mại diễn ra phổ biến mỗi ngày Tuy nhiên không phải lúc nào việc giao kết hợp đồng cũng diễn ra suôn
sẻ, mà nó luôn tiềm ẩn những tranh chấp do vi phạm hợp đồng hoặc một số lý do khác Vậy khi tranh chấp xảy ra sẽ xử lý như thế nào, đó là lựa chọn của các bên doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng Trong trường hợp thương lượng hoặc hòa giải không thành công tranh chấp kinh tế có thể giải quyết bằng một trong hai con đường là họ có thể chọn Tòa
án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để giải quyết tranh chấp mà cũng có thể nộp đơn khởi kiện lên giải quyết bằng trọng tài theo quy định Luật trọng tài thương mại 2010 Vậy việc giải quyết tranh chấp trọng tài diễn ra như thế nào và thực trạng các
vụ việc được giải quyết bằng trọng tài ở Việt Nam có những điểm gì nổi bật sau đây chúng ta cùng đi tìm hiểu
Thực chất việc dùng trọng tài để giải quyết tranh chấp không còn xa lạ đối với các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tuy nhiên các doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn còn dè dặt khi phải chọn giải quyết tranh chấp tại trọng tài và khi các vụ tranh chấp xảy ra các bên thường khởi kiện tại Tòa án Có thể nói mặc dù phương thức trọng tài đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng ở Việt Nam thì mới xuất hiện nổi bật 10 năm trở lại đây, do đó các cách thức hoạt động cũng như các quy định tại trung tâm trọng tài chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp Theo thống kê thì tại Việt Nam hiện có khoảng 15 Trung tâm trọng tài thương mại1, nhưng phần lớn các vụ việc tranh chấp xảy
ra được giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có tên viết tắt là VIAC Điển hình là số liệu báo cáo thường niên năm 2018 của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)2, cho biết năm 2018 vừa qua, tổ chức này đã giải quyết 180 vụ tranh chấp thương mại với tổng trị giá 9.400 tỷ đồng - mức cao nhất trong 25 năm qua kể từ khi được thành lập theo Quyết định 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ với tính chất tranh chấp là 51% quốc tế và 49% trong nước trải dài ở các lĩnh vực như mua bán hàng hóa, hợp tác kinh doanh, bất động sản, bảo hiểm, xây dựng, dịch vụ Từ số
1 Các trung tâm thương mại tại Việt Nam:
https://stac.com.vn/cac-trung-tam-trong-tai-thuong-mai-o-viet-nam/
2 Báo cáo thường niên Thống kê hoạt động giải quyết tranh chấp năm 2018:
https://stac.com.vn/cac-trung-tam-trong-tai-thuong-mai-o-viet-nam/
Trang 12liệu trên có thể thấy tín hiệu hết sức khả quan của phương thức giải quyết bằng trọng tài nhưng đồng thời cho thấy tình trạng có rất nhiều các Trung tâm trọng tài, nhưng các vụ việc chỉ tập trung giải quyết ở một trung tâm trọng tài nhất định, điều này đặt ra bài toán khó để có thể cải thiện lòng tin của các doanh nghiệp đối với phương thức trọng tài nói chung và các trung tâm trọng tài nói riêng
Bên cạnh đó kiến thức pháp luật của bản thân các doanh nghiệp hiện nay chưa cao, nhiều doanh nghiệp chính bản thân họ cũng chưa biết được Luật trọng tài thương mại
có tồn tại hay không chính vì vậy mà đa số các vụ việc tranh chấp thương mại xảy ra họ đều nghĩ đến biện pháp khởi kiện tại Tòa án do các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự
có đề cập đến thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến kinh tế thương mại Cộng thêm việc Luật trọng tài đã ban hành từ năm 2010 và cách nay đã hơn mười năm chính vì vậy một vài các điều luật khi áp dụng đã không còn phù hợp nữa bộc lộ ra rất nhiều nhược điểm Cách nhìn về luật chưa thực sự rõ ràng, các điều luật quy định cũng chồng chéo lên nhau khiến các tổ chức, doanh nghiệp cá nhân họ không tin tưởng để giải quyết trọng tài vì có thể những quy định không rõ ràng ấy có thể gây bất lợi cho họ Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài theo Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 chỉ đề cập rằng các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định giải quyết bằng trọng tài Quy định này rất chung khiến cho những người không am hiểu về luật trọng tài thương mại có thể hiểu sai về thẩm quyền giải quyết chỉ gói gọn trong các tranh chấp về hoạt động thương mại như các hoạt động mua bán và không biết được tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài là những tranh chấp gì Thực tế, các tranh chấp về sở hữu trí tuệ không phải tranh chấp về thương mại mà có thể giải quyết bằng trọng tài nếu luật quy định với một
số ngoại lệ và hạn chế nhất định vì hầu hết các tranh chấp sở hữu trí tuệ là các bằng sáng chế, nhãn hiệu, bí mật thương mại, bản quyền3, hay điểm b Khoản 8 Điều 146 Luật Xây dựng 2014 sửa đổi bổ sung năm 2020 cho phép các bên có thể đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài “Các bên hợp đồng có trách nhiệm tự thương lượng giải quyết
3 Trọng tài quốc tế và sở hữu trí tuệ (IP) Tranh chấp: