1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn tốt nghiệp :GIẢI PHÁP DUY TRÌ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CAO VÀ BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU

109 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Duy Trì Tốc Độ Tăng Trưởng Cao Và Bền Vững Trong Bối Cảnh Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu
Tác giả Tô Hải Long
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Luận văn tốt nghiệp Tô Hải Long Lớp Kinh tế phát triển 47A 0 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 3 I Qua.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 3

I Quan niệm về tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, bền vững 3

1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 3

1.1 Khái niệm 3

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế 4

2 Thế nào là tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững? 5

3 Một số yếu tố cấu thành tăng trưởng 8

3.1 Các yếu tố cấu thành tăng trưởng nhìn từ phía cung theo quan điểm của trường phái tân cổ điển 8

3.1.1 Các yếu tố nội sinh 9

3.1.1.1 Vốn 9

3.1.1.2 Lao động 10

3.1.1.3 Năng suất các nhân tố tông hợp (TFP) 10

3.1.2 Các yếu tố bán ngoại sinh 11

3.1.2.1 Thể chế, chính sách quản lý của nhà nước 11

3.1.2.2 Toàn cầu hóa 11

3.2 Các yếu tố cấu thành tăng trưởng nhìn từ phía cầu theo quan điểm của trường phái Keynes 12

4 Vai trò của việc duy trì một tốc độ tăng trưởng cao và bền vững trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu 13

4.1 Vai trò của tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao 13

4.2 Duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững đối với Việt Nam trong bối cảnh suy thoái toàn cầu 14

II Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững 15

Trang 2

1 Sử dụng nguồn lực trong tăng trưởng: vốn và lao động 15

1.1 Yếu tố vốn 15

1.2 Yếu tố lao động 17

2 Tính hiệu quả và hiệu suất của tăng trưởng 18

2.1 Hiệu quả đầu tư 19

2.2 Hiệu quả sử dụng điện năng 20

2.3 Năng suất lao động xã hội 21

2.4 Tiến bộ công nghệ 22

3 Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế 23

4 Thể chế, cơ chế chính sách 24

III Khái quát tình hình cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 25

1 Diễn biến cuộc khủng hoảng 25

2 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng 27

3 Hệ lụy của cuộc khủng hoảng đối với một số nền kinh tế lớn và các nước đang phát triển 29

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG DUY TRÌ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CAO VÀ BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU 31

I Phân tích và đánh giá tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra (giai đoạn 2000 - 2007) 31

1 Phân tích tăng trưởng giai đoạn 2000 – 2007 31

2 Đóng góp của một số yếu tố phân phối tới tăng trưởng 32

3 Một số quan ngại về tính bền vững của tăng trưởng Việt Nam 37

II Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế đến tính bền vững của tăng trưởng Việt Nam (giai đoạn 2008 và đầu 2009) 40

1 Tác động của khủng hoảng đến thương mại 40

2 Tác động của khủng hoảng đến sản xuất 42

3 Tác động của khủng hoảng đến đầu tư 43

Trang 3

3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 43

3.2 Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài 44

4 Tác động của khủng hoảng đến hệ thống tài chính – ngân hàng 44

5 Tác động của khủng hoảng đến xã hội 45

III Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững ở Việt Nam 46

1 Sử dụng nguồn lực trong tăng trưởng 47

1.1 Sử dụng vốn trong tăng trưởng 47

1.2 Sử dụng lao động trong tăng trưởng 50

2 Hiệu quả và hiệu suất của tăng trưởng 53

2.1 Hiệu quả đầu tư 54

2.2 Hiệu quả sử dụng điện năng 56

2.3 Năng suất lao động xã hội 57

2.4 Tiến bộ công nghệ 60

3 Đánh giá về mức độ hội nhập và khả năng thích ứng với môi trường thế giới 61

4 Cơ chế chính sách và hiệu lực quản lý của nhà nước 63

4.1 Thu chi ngân sách nhà nước 63

4.1.1 Thu ngân sách nhà nước 63

4.1.2 Chi ngân sách nhà nước 64

4,2 Chính sách thu hùt và sử dụng nguồn lực của nhà nước 65

4.2.1 Chính sách sử dụng vốn trong đầu tư 65

4.2.2 Chính sách sử dụng lao động 68

4.3 Đánh giá những kết quả ban đầu của một số chính sách đối phó của chính phủ Việt Nam đối với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 70

4.3.1 Chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững 71

Trang 4

4.3.1.1 Mục tiêu của chính sách 71

4.3.1.2 Mốt số kết quả bước đầu của chính sách 72

4.3.2 Chính sách kích cầu của chính phủ 74

4.3.2.1 Mục tiêu của chính sách 74

4.3.2.2 Một số kết quả bước đầu của chính sách 75

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP DUY TRÌ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CAO VÀ BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU 78

I Dự báo tình hình kinh tế thế giới và định hướng phát triển của Việt Nam trong thời gian tới 78

1 Dự báo tình hình kinh tế thế giới 78

2 Định hướng phát triển của Việt Nam trong thời gian tới 79

II Một số giải pháp duy trì tốc đô tăng trưởng cao và bền vững trong bối cảnh khủng hoảng 80

1 Giải pháp của Chính phủ nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững truớc khi diễn ra cuộc khủng hoảng 80

2 Giải pháp của Chính phủ duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong bối cảnh khủng hoảng 82

3 Một số kiến nghị giải pháp duy trì tốc độ tăng trưởng trong bối cảnh khủng hoảng 83

3.1 Giải pháp ứng phó đối với tác động của khủng hoảng 84

3.2 Giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế 89

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 5

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, BIỂU VÀ HỘP

Biểu 1.1: Tốc độ tăng trưởng trên thế giới 1960 - 2000 5

Hình 1.1: Sơ đồ các yếu tố cấu thành tăng trưởng 8

Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 2000 - 2007 31

Biểu 2.1: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam với một số nước trong khu vực 32

Biểu 2.2: Đóng góp của yếu tố tiêu dùng tư nhân vào tăng trưởng kinh tế 2001 – 2006 33

Biểu 2.3: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 2004 - 2007 36

Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam 1988 – 2008 37

Biểu 2.4: Một số chỉ tiêu về nguồn lực và tăng trưởng của Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ (năm 2003) 39

Biểu đồ 2.3: Xuất khẩu tháng 11/2007 và 11/2008 41

Biểu đồ 2.4: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng cuối năm 2008 và tháng 1 năm 2009 42

Biểu 2.5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam những tháng gần đây 43

Biểu 2.6: Cơ cấu đầu tư theo thành phần kinh tế và tỷ trọng của từng khu vực trong GDP – theo giá hiện hành 48

Biểu 2.7: Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế và tỷ trọng GDP của các ngành – theo giá hiện hành 49

Biểu 2.8: Cơ cấu lao động ở Việt Nam chia theo thành phần kinh tế 2000 – 2007 51

Biểu 2.9: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo 2001 – 2005 52

Biểu đồ 2.5: Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng của Việt Nam 53

Biểu 2.10: Tăng trưởng GDP, vốn và ICOR ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008 55

Biểu 2.11: Tốc độ tăng năng suất lao động và đóng góp của năng suất lao động vào tăng GDP 2000 – 2008 58

Biểu đồ 2.6: Trình độ công nghệ của Việt Nam và một số nước trong khu vực 61

Biểu 2.11: Hệ số co giãn giữa tốc độ tăng trưởng và độ mở cửa nền kinh tế Việt Nam 62

Trang 6

Biểu 2.12: Xếp hạng chỉ số cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam và một số nước

trong khu vực 63

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

EVN Tổng Công ty Điện lực Việt Nam

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FED Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

ICOR Hệ số gia tăng vốn đầu tư toàn xã hội

KT-XH Kinh tế - xã hội

ODA Viện trợ phát triển chính thức

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

WEF Diễn đàn Kinh tế Thế giới

KH&CN Khoa học và công nghệ

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay như chúng ta đã biết, thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra từ cuối năm 2007 mà như theo nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới cho rằng: “đây là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong vòng

60 năm qua và nó chỉ kém cuộc đại khủng hoảng năm 1928 - 1929, cuộc khủng hoảng đã kéo cả thế giới thụt lùi vài chục năm” Theo dự báo, sản lượng của một số nền kinh tế thế giới sẽ suy giảm trong năm 2009 (theo WB, kinh tế thế giới năm

2009 sẽ chỉ tăng trưởng 0,9% thay vì mức 2,5% trong năm 2008), sự suy giảm trước tiên ở các nền kinh tế lớn sau đó kéo theo sự suy giảm của nền kinh tế toàn cầu Các chính sách hạ lãi suất, cắt giảm thuế và các kế hoạch “giải cứu” nền kinh tế mà các nền kinh tế hàng đầu như Mỹ, Nhật Bản và các nước Châu Âu đang thực hiên được

kỳ vọng có thể cứu nguy nền kinh tế thế giới thoát khỏi tình trạng khủng hoảng tồi

tệ, tuy nhiên vẫn còn là quá sớm để thấy được kết quả tích cực, thậm chí cần nhiều

nỗ lực hơn để có thể đảo ngược tình hình kinh tế thế giới trong những năm tới Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra không chỉ ảnh hưởng lớn đến các nền kinh tế lớn trên thế giới, mà nó còn tác động mạnh mẽ và sâu rộng nhiều nền kinh tế khác, đặc biệt là các nước đang phát triển mà trong đó có Việt Nam Như chúng ta đã biết, trong những năm gần đây mà cụ thể từ khi bắt đầu bước vào thiên niên kỷ mới, Việt Nam đang đạt được thành tích ấn tượng trong tăng trưởng kinh tế

và là một trong số ít các quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh như vậy trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương Tuy nhiên theo nhiều chuyên gia kinh tế nhận định rằng, nền kinh tế Việt Nam đang có chu kỳ 10 năm với các điểm đáy là các năm

1989, 1999 và như vậy, rất có thể điểm đáy mới sẽ là năm 2009 Khi mà đối với các nước khác trong giai đoạn đầu phát triển, họ duy trì một tốc độ tăng trưởng ở một giai đoạn dài có chu kỳ 15 năm thậm chí là 20 năm (ví dụ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản) Vậy liệu rằng, Việt Nam sẽ còn duy trì được tốc

độ tăng trưởng cao được nữa hay không, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới đang

có nhiều biến động xấu? Trả lời câu hỏi trên để từ đó đưa ra những đối pháp hợp lý

Trang 9

có ý nghĩa quyết định đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Để trả lời câu hỏi trên, luận văn sẽ đi vào nghiên cứu các yếu tố cấu thành tăng trưởng: các yếu tố nội sinh (vốn, lao động, năng suất nhân tố tổng hợp), bán ngoại sinh (thể chế, toàn cầu hóa), từ đó sẽ áp dụng phân tích khả năng duy trì tăng trưởng của Việt Nam, liệu tăng trưởng Việt Nam có còn bền vững hay không Luận văn đi vào phân tích các yếu tố cấu thành tăng trưởng, dựa trên quan điểm cho rằng để duy trì một mức sản lượng đầu ra cao, điều quan trọng là phải có một lượng đầu vào cần thiết và phải sử dụng đầu vào ấy một cách có hiệu quả Nói cách khác, sử dụng hiệu quả và hợp lý các đầu vào là điều kiện cần để có một sản lượng đầu ra cao Một hệ thống kinh tế bao gồm 3 phần: đầu vào, hộp đen (hoạt động của nền kinh tế) và đầu ra Sử dụng đầu vào hiệu quả không chưa đủ, muốn hệ thống kinh tế đó hiệu quả thể hiện ở đầu

ra, còn phải phụ thuộc vào cấu trúc của hệ thống kinh tế, các hoạt động kinh tế cũng như những chính sách, trình độ quản lý của nhà nước và yếu tố quốc tế Thể chế nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì tăng trưởng, thể chế tốt sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng phục hồi kinh tế trước ảnh hưởng của suy thoái Luận văn sẽ không chỉ phân tích, đánh giá các chính sách trước đây của chính phủ mà sẽ còn đánh giá một số chính sách gần đây nhất của chính phủ Việt Nam trong việc ứng phó với suy giảm kinh tế Ngoài ra, trong dung lượng cho phép, luận văn sẽ chỉ tập trung nghiên cứu những yếu tố kinh tế có tác động đến duy trì tăng trưởng và sẽ không đề cập đến các yếu tố xã hội, môi trường Kết cấu của luận văn sẽ bao gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương I: Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và khái quát tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới

Chương II: Đánh giá khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững của Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Chương III: Giải pháp duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững đối với Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng

Trang 10

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ

KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI

I Quan niệm về tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, bền vững

1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

1.1 Khái niệm

Tăng trưởng kinh tế là một vấn đề quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của

một quốc gia Để đánh giá một quốc gia có trình độ phát triển kinh tế như thế nào hoặc để so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia người ta thường sử dụng một trong những chỉ tiêu quan trọng và rất chủ yếu là tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế nhanh hay chậm, có chất lượng hay không có chất lượng phần nào nói lên được trình độ phát triển kinh tế của quốc gia Vì thế trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước người ta thường sử dụng chỉ tiêu tăng

trưởng kinh tế làm mục tiêu phấn đấu Vậy tăng trưởng kinh tế là gì?

Trước hết, tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế Tăng trưởng kinh tế là

sự gia tăng giá trị sản lượng đạt được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) của một quốc gia (hoặc địa phương), sự gia tăng này thể hiện

ở quy mô và ở tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít; còn tốc độ tăng trưởng mang ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các mốc thời gian Bản thân tăng trưởng kinh tế chưa nói lên chất

lượng của sự phát triển Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Phạm trù tăng trưởng kinh tế mang tính 2 mặt: số lượng và chất lượng Mặt số lượng là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng về giá trị sản lượng Trên góc

độ toàn bộ nền kinh tế, giá trị sản lượng thường được thể hiện dưới dạng tổng giá trị gia tăng nội địa, hoặc giá trị gia tăng nội địa bình quân trên đầu người Mặt lượng của tăng trưởng kinh tế thể hiện ở quy mô và tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giá trị

Trang 11

này Mặt chất của tăng trưởng kinh tế là thuộc tính bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế, thể hiện ở hiệu quả và tính bền vững của chính tăng trưởng kinh tế

và khả năng duy trì trong dài hạn Chất lượng của tăng trưởng thể hiện ở các khía cạnh về năng suất, hiệu suất, hiệu quả và sự bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế

Các chỉ tiêu giá trị phản ảnh tăng trưởng theo Hệ thống tài khoản quốc gia

(SNA) bao gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Tổng sản phẩm quốc dân (GNP); Thu nhập quốc dân (NI); Thu nhập được quyền chi (GDI) Trong đó, chỉ tiêu GDP và GNP là 2 chỉ tiêu quan trọng nhất và thường được sử dụng để đo lường Chỉ tiêu GDP hay GNP trên đầu người là 2 chỉ tiêu phản ánh kết quả của tăng trưởng nếu chia theo dân số Tăng trưởng GDP hay GNP trên đầu người của năm sau so với năm trước không phản ánh mức độ tăng trưởng kinh

tế về quy mô hay về tốc độ, vì để đo chỉ tiêu này ta cần tính đến sự gia tăng quy mô dân số

Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của những hàng hóa và dịch vụ mà một quốc gia sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình (dù là sản xuất ở trong nước hay ngoài nước) trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ mà một quốc giá sản xuất ra trên lãnh thổ của quốc gia đó (dù nó thuộc về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian nhất định (thường là một năm)

So sánh tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ta thấy: GNP = GDP + thu nhập ròng từ tái sản ở nước ngoài

Thu nhập ròng từ tái sản ở nước ngoài = thu nhập chuyển về nước của công dân nước đó làm việc ở nước ngoài trừ đi thu nhập chuyển ra khỏi nước của người nuớc ngoài làm việc tại nước đó GNP và GDP là 2 thước đo tiện lợi nhất để tính mức tăng trưởng kinh tế của một nước biểu hiện bằng giá cả Vì vậy, để tính đến yếu tố lạm phát người ta nhận định GNP, GDP danh nghĩa và GNP, GDP thực tế GNP,

Trang 12

GDP danh nghĩa là GNP, GDP tính theo giá hiện hành của năm tính; còn GNP, GDP thực tế là GNP, GDP được tính theo giá cố định của một năm được chọn làm gốc Do vậy GNP, GDP thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của sự biến động của giá cả (lạm phát) Do đó, có mức tăng trưởng danh nghĩa và mức tăng trưởng thực

2 Thế nào là tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững?

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của n ền kinh tế trong

một giai đoạn nhất định Nếu như quy mô của tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít thì tốc độ tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Vậy như thế nào có thể coi là một tốc độ tăng trưởng nhanh? Chúng ta sẽ cùng nhìn tốc độ tăng trưởng trong 4 thập kỷ vừa qua của thế giới:

Biểu 1.1: Tốc độ tăng trưởng trên thế giới 1960 - 2000

Đơn vị: %

Thời kỳ phát triển Thế giới (84

nước)

Nước công nghiệp (22 nước)

Trung Quốc

Đông

Á

Châu

mỹ Latinh

Nam

Á

Châu phi

Trung Đông

Trang 13

Biểu trên đã cho ta thấy tốc độ tăng trưởng ở các khu vực, hệ thống các nước trên thế giới trong những giai đoạn khác nhau; có những khu vực mà tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức 7% trong khoảng 2 thập kỷ (như Đông Á); có những nơi tăng trưởng nhanh vào giai đoạn 1960 – 70 nhưng các thập kỷ sau lại không duy trì được mức cao như trước (Trung Đông, các nước công nghiệp); nhưng có những quốc gia

có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao 9, 10% trong vòng 2 thập kỷ như Trung Quốc Nếu như nhìn vào lịch sử phát triển của từng quốc gia trong giai đoạn vừa rồi, ta có thể nhận thấy 1 điều: có những quốc gia tăng trưởng cao và có những quốc gia tăng trưởng thấp, có những nước tăng trưởng cao trong toàn bộ thời kỳ và những nước tăng trưởng bùng phát trong một hoặc 2 thập kỷ; có những nước đã cất cánh vào thập kỷ 80 và cũng có những nước mà tăng trưởng đã đổ sụp trong thập kỷ đó

“Theo Simon Kunznets (2000), kỷ lục về tốc độ tăng trưởng GDP trong vòng 1 thế

kỷ đang thuộc về Nhật Bản Trong giai đoạn từ 1870 đến 1970, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của nước này là 5%/năm Mỹ là nước đứng thứ hai, với thành tích 4,2%/năm trong giai đoạn 1860 tới 1960 Kỷ lục về tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của một quốc gia trong khoảng thời gian 1 thập kỷ thuộc về các nước Đông Á, khi Nhật Bản, Trung quốc và Singgapore đều đã từng đạt được một hoặc 2 thập kỷ tăng trưởng “ kỳ diệu”, với tốc độ tăng trưởng trung bình trên 10%/năm.” (trích

“Quan niệm và thực tiễn: phát triển kinh tế xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam” - TS Đinh Văn Ân) Như vậy, nhìn vào lịch sử của một số

nước phát triển, có những quốc gia có thể đạt được tốc độ tăng trưởng trung bình 10%/năm, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đó có thể đựoc duy trì trong bao lâu? Theo T.S Đinh Văn Ân (2005): trong trung hạn, tức là trong vòng khoảng 1 thập kỷ, khi ở vào những điều kiện thật sự thuận lợi cả bên trong và bên ngoài, một nền kinh tế quốc gia có thể đạt tới tốc độ tăng trưởng trung bình xấp xỉ 10% Tuy nhiên thành tích này rất ít khi đạt được, một tỷ lệ tăng trưởng GDP khoảng 8% trong vòng 1 thập kỷ có thể coi là mục tiêu cao đối với bất kỳ quốc gia nào 1

1Quan niệm và thực tiễn: phát triển kinh tế xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam

Trang 14

Qua cách nhìn nhận trên, chúng ta có thể hiểu một tốc độ tăng trưởng khoảng 7 – 8% duy trì trong vòng một thập kỷ có thể được coi là cao, bền vững Mặc dù vậy, khi chúng ta so sánh 2 quốc gia với nhau Ví dụ: như Việt Nam là 8,5 % với Mỹ là 2,5% vào năm 2007, liệu có thể kết luận, Việt Nam có tăng trưởng nhanh hơn so với

Mỹ và đang giảm dần khoảng cách với Mỹ hay không? Và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam có thực sự cao không? Rõ ràng, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao hơn

so với Mỹ, tuy nhiên đây chỉ là mặt con số, con số này chỉ cho thấy rằng tốc độ tăng GDP của Việt Nam năm này so với năm trước là cao hơn tốc độ tăng GDP của Mỹ năm này so với năm trước Còn thực tế về mặt lượng, quy mô của sự gia tăng này, Việt Nam kém xa Mỹ và khoảng cách đấy không hề giảm mà thậm chí cón gia tăng Nếu cho rằng con số tốc độ tăng trưởng của Việt Nam cao hơn con số của Mỹ thì Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn Mỹ là hoàn toàn sai, vì Mỹ ở một giai đoạn phát triển khác hẳn chúng ta Một so sánh khác giữa Việt Nam và Trung Quốc, một nước cũng đang cùng giai đoạn phát triển Theo nghiên cứu của TS Vũ Thành Tự Anh (giám đốc chưong trình giảng dạy Fulbright), nếu xét dưới góc độ nguồn lực/đầu người thì Việt Nam hơn hẳn Trung quốc (FDI/người, kiều hối/người, tiêu hao năng lượng/người) tuy nhiên thực

tế chỉ ra rằng, mặc dù có lợi thế hơn về nguồn lực nhưng Việt Nam không đạt được tốc

độ tăng trưởng như Trung Quốc Trong khi Việt Nam chỉ tăng trưởng 7 đến 8 % thì kinh tế Trung Quốc tăng xấp xỉ 10% và thậm chí được duy trì trong vòng 15 đến 20 năm Nếu chúng ta coi các chỉ tiêu tăng trưởng 8%, trong vòng 1 thập kỷ là cao thì rõ ràng Việt Nam cao và bền vững khi mà tăng trưởng của Việt nam mới chỉ được duy trì

ở mức trung bình gần 8% trong vòng chưa đến 10 năm (từ năm 2002 đến năm 2007) Như vậy, để hiểu thế nào là một tốc độ tăng trưởng cao và bền vững ta có thể kết luận như sau:

- Con số tốc độ tăng trưởng chỉ cho thấy tăng trưởng của quốc gia đó so với chính quốc gia đó trong 2 thời kỳ Con số đó lớn chỉ thể hiện quốc gia đó tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với thời kỳ trước Muốn thấy được tốc độ tăng trưởng đó

có thực sự cao hay không thì phải đem so sánh với các quốc gia khác Các quốc gia

khác ở đây là các quốc gia cùng giai đoạn phát triển, hoặc cùng chung bối cảnh phát

Trang 15

triển (ví dụ: suy thoái toàn cầu)

- Tăng trưởng cao và bền vững là một biểu hiện rõ nét nhất của phát triển Một

tốc độ tăng trưởng bền vững là một tốc độ được duy trì trong thời gian dài Khoảng thời gian đó có thể là một thập kỷ hoặc vài chục năm Một tốc độ tăng trưởng cao

và bền vững không có nghĩa là phải “luôn luôn” đạt tốc độ tăng trưởng cao 7 – 8% thậm chí 10% và được duy trì trong dài hạn Tốc độ tăng trưởng đó có thể chỉ cần cao ở mức hợp lý nhưng bền vững Mức hợp lý ở đây có thể là tốc độ đó đạt được trong mức nguồn lực cho phép, tận dụng một cách tối đa, hoặc trong bối cảnh quốc

tế nói chung Có thể nhận thấy rằng, một nền kinh tế sử dụng đầu vào hiệu quả và hợp lý, một thể chế chính sách phù hợp, trong điều kiện chung của quốc tế sẽ đạt được một kết quả tăng trưởng tốt

3 Một số yếu tố cấu thành tăng trưởng

3.1 Các yếu tố cấu thành tăng trưởng nhìn từ phía cung theo quan điểm của trường phái tân cổ điển

Hình 1.1: Sơ đồ các yếu tố cấu thành tăng trưởng

Nguồn: Snowdown và Vane (2005)

Các yếu tố cấu thành tăng trưởng nhìn từ phía cung được chia ra 3 nhóm yếu

tố (hình 1.1): thứ nhất, các yếu tố nội sinh là những yếu tố trực tiếp tạo ra tăng

th¸i

Néi sinh

Ngo¹i sinh

B¸n ngo¹i sinh

Trang 16

trưởng (bao gồm các nhân tố sản xuất như vốn, lao động; các yếu tố đóng góp vào

năng suất gọi là năng suất nhân tố tổng hợp), thứ hai, các yếu tố bán ngoại sinh là

các yếu tố vừa trực tiếp, vừa gián tiếp tạo ra tăng trưởng (bao gồm yếu tố thể chế

nhà nước, môi trường bên ngoài hay còn gọi là yếu tố tác động của quốc tế), và cuối

cùng là yếu tố ngoại sinh ảnh hưởng gián tiếp đến tăng trưởng (bao gồm các yếu tố

về mặt địa lý như nguồn lực tự nhiên, khí hậu, địa hình, sinh thái) Ở đây đề tài sẽ chỉ đi vào nghiên cứu 2 nhóm yếu tố chính là nội sinh và bán ngoại sinh

3.1.1 Các yếu tố nội sinh

3.1.1.1 Vốn

Vốn là một yếu tố vật chất đầu vào quan trọng tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Vốn có thể được hiểu là tất cả đầu vào, tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng cho quốc gia Vốn ở đây bao gồm vốn vật chất, vốn tài nguyên, vốn con người Vốn vật chất là những máy móc, nhà xưởng, trang thiết bị…đây là những thành phần không thể thiếu của một quá trình sản xuất Máy móc, nhà xưởng, trang thiết bị có hiện đại thì sản xuất mới đạt hiệu quả cao và góp phần tạo ra tăng trưởng Vốn con người là yếu tố góp phần tạo ra tăng trưởng trong dài hạn Vốn con người ở đây là những người lao động có kỹ năng, có tay nghề Họ là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất, họ sẽ sử dụng kỹ năng, tay nghề của mình để vận hành, điều khiển máy móc, thiết bị tạo ra sản phẩm có giá trị Vốn tài nguyên ở đây là những thành tố có sẵn trong lãnh thổ của mỗi quốc gia, nó có thể là dầu khí, khoáng sản…các vật chất mà quốc gia đó có thể khai thác để xuất khẩu, hoặc sử dụng tạo ra giá trị gia tăng cho chính quốc gia đó Sử dụng vốn tạo ra tăng trưởng kinh tế, ngược lại khi đã có tăng trưởng kinh tế sẽ làm cho quy mô nền kinh tế tăng lên và kéo theo tăng khả năng tiết kiệm; khi có thêm vốn tích lũy được lại có điều kiện tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế Ở các nước đang phát triển sự đóng góp của vốn vào tăng trưởng thường chiếm tỷ trọng cao nhất Đó là sự thể hiện của tính chất tăng trưởng theo chiều rộng Tuy vậy tác động của yếu tố này đang có xu hướng giảm dần và được thay thế bằng các yếu tố khác

Trang 17

3.1.1.2 Lao động

Lao động là một yếu tố đầu vào quá trình sản xuất Lao động là một yếu tố đặc biệt bởi tính chất hai mặt của nó: vừa là yếu tố đầu vào trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội, vừa là yếu tố thụ hưởng đầu ra Việc khai thác tối đa khả năng tiềm

ẩn của lực lượng lao động sẽ tạo ra một sức mạnh tổng hợp và một nguồn lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Có thể coi lao động như là một yếu tố tài nguyên nhân văn quan trọng Dù vốn có ý nghĩa quan trọng đến đâu nhưng nếu có vốn mà không có những người biết cách sử dụng vốn thì sẽ rất nguy hiểm Có hai tiêu chí để đánh giá lực lượng lao động: số lượng thể hiện quy mô của lực lượng lao động và chất lượng lao động Chất lượng lao động thể hiện ở kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kỷ luật của người lao động Người lao động được trang bị kiến thức tốt, tay nghề cao, kỷ luật tốt sẽ trở thành nguồn vốn nhân lực quý báu của quốc gia, cho nên nâng cao chất lượng lao động là rất cần thiết đối với mỗi quốc gia Hiện nay tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển được đóng góp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp

3.1.1.3 Năng suất các nhân tố tông hợp (TFP)

“Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là chỉ tiêu phản ánh tác động của yếu tố khoa học công nghệ, vốn nhân lực, khía cạnh thể chế, cơ chế tác động đến khả năng tiếp nhận, nghiên cứu và vận hành khoa học công nghệ và vốn nhân lực vào hoạt động sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế”2.Đóng góp của vốn nhân lực chính là đóng góp của những lao động có chất lượng, có trình độ, kỹ năng, kỷ luật Đóng góp của yếu tố công nghệ vào tăng trưởng lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn, nhất

là trong điều kiện hiện đại Yếu tố công nghệ kỹ thuật đã được K Marx xem như là

“chiếc đũa thần tăng thêm sự giàu có của cải xã hội”, cón Solow thì cho rằng “tất cả các tăng trưởng bình quân đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật”, Kuznets hay Samuelson đều khẳng định: công nghệ kỹ thuật là sợi chỉ đỏ

2 Kinh tế Việt Nam 2006: Chất lượng tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 18

xuyên suốt quá trình tăng trưởng kinh tế bền vững”3 TFP được coi là yếu tố chất lượng của tăng trưởng hay tăng trưởng theo chiều sâu Muốn nâng cao chất lượng tăng trưởng, đảm bảo tính bền vững cho tăng trưởng cần phải chú trọng đến vai trò của TFP Đánh giá vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế cần dựa vào: tỷ trọng đóng góp của yếu tố này trong kết quả tăng trưởng; các điều kiện cần thiết vận hành yếu tố công nghệ mới vào hoạt động kinh tế, như trình độ công nghệ, vốn cho nghiên cứu và phát triển, phát triển giáo dục đào tạo nhằm tăng quy mô vốn nhân lực

3.1.2 Các yếu tố bán ngoại sinh

3.1.2.1 Thể chế, chính sách quản lý của nhà nước

Nhà nước là cơ quan điều hành, điều khiển toàn bộ quá trình tăng trưởng kinh

tế, bằng cách ban hành luật pháp, thể chế, chính sách quy định chức năng nhiệm vụ của các hoạt động kinh tế Nếu có vốn, lao động, có công nghệ mà không có một chính sách quản lý, một thể chế minh bạch sử dụng các nguồn lực đó một cách hiệu quả thì cũng không thể tạo ra tăng trưởng kinh tế Giữa nhà nước và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ hai chiều Một khi nền kinh tế có tăng trưởng kinh tế sẽ có điều kiện tăng thu ngân sách qua tăng thu thuế, phí và từ đó nhà nước có thêm nguồn tài chính để thực hiện các khoản chi, xây dựng một thể chế lành mạnh hơn, thông thoáng hơn, minh bạch hơn và gián tiếp tạo nên tăng trưởng kinh tế

3.1.2.2 Toàn cầu hóa

Trong giai đoạn hiện nay, quá trình toàn cầu hóa ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng đối với mỗi quốc gia Trong qúa trình toàn cầu hóa, mỗi quốc gia muốn chủ động hội nhập kinh tế thế giới sẽ phải đối mặt với sức ép đổi mới mạnh hơn nhưng qua đó quốc gia đó sẽ có thêm điều kiện thu hút được công nghệ tiên tiến, thu hút thêm được vốn đầu tư, hấp thụ thêm được nhiều kinh nghiệm quản trị tiên tiến trên thế giới rồi từ đó tạo tiền đề để có được tăng trưởng kinh tế, thậm chí tăng trưởng

3 Giáo trình kinh tế phát triển

Trang 19

nhanh và đạt được hiệu quả lớn Tuy nhiên, nếu quốc gia không vượt qua được các thách thức mà quá trình toàn cầu hóa tạo ra sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó

3.2 Các yếu tố cấu thành tăng trưởng nhìn từ phía cầu theo quan điểm của trường phái Keynes

Đây là các yếu tố phân phối cầu thành nên tăng trưởng từ phía cầu theo quan điểm của trường phái Keynes Theo nhiều chuyên gia kinh tế, đóng góp của những yếu tố này vào tăng trưởng là đúng trong ngắn hạn, tuy nhiên trong dài hạn để đánh giá tăng trưởng kinh tế, thì cần đánh giá các yếu tố cấu thành từ phía cung như đã trình bày ở phần trên Các yếu tố từ phía cầu bao gồm 3 yếu tố chính đó là tiêu dùng cuối cùng (C), đầu tư (I) và xuất khẩu ròng (NX) Ta có phương trình tổng cầu như sau:

GDP = C + I + NX

- Tiêu dùng cuối cùng (C): Tiêu dùng cuối cùng là chi tiêu mua hàng hóa và dịch vụ cuối cùng của các hộ gia đình Đó là các khoản chi tiêu mà các cá nhân thực hiện hàng ngày cho các loại hàng hóa không lâu bền hay các hàng hóa thiết yếu như lương thực thực phẩm, quần áo; các hàng hóa lâu bền như tủ lạnh, TV, xe máy… là các hàng hóa sử dụng trong thời gian dài; các hàng hóa dịch vụ như việc mua các hoạt động của các cá nhân, như thuê bác sĩ, luật sư…

- Đầu tư (I): Vốn muốn tạo ra tăng trưởng kinh tế thì cần phải thông qua quá trình đầu tư phát triển Đầu tư có thể là đầu tư từ các hộ gia đình, các doanh nghiệp hoặc đầu tư từ ngân sách chính phủ; cũng có thể chia ra 2 loại đó là đầu tư từ nguồn vốn trong nước và đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài Giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vốn đầu tư tăng thì sẽ gia tăng mức tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng kinh tế cao sẽ làm cho khả năng tích lũy tăng, kéo theo nguồn vốn để đầu tư sẽ tăng Theo Ngô Doãn Vịnh 4, vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế phát triển cùng chiều, quy mô và mức độ biến động của vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế tương đối song hành, nhưng đến một lúc nào đó tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn tốc độ tăng vốn đầu tư

Trang 20

- Xuất khẩu ròng (NX): Xuất khẩu ròng được tính bằng cách lấy xuất khẩu trừ nhập khẩu Xuất khẩu có thể được hiểu là các hàng hóa sản xuất ở trong nước được người nước ngoài mua Nhập khẩu có thể hiểu là chi tiêu của các tác nhân trong nước cho hàng hóa cho hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài, nhập khẩu không phản ánh mức sản xuất trong nước

Đây là 3 yếu tố cầu thành nên tăng trưởng từ phía cầu Theo Ngô Doãn Vịnh, tăng cầu là giải pháp quan trọng để tăng GDP Tăng tiêu dùng, tăng xuất khẩu, tăng đầu tư chính là tăng “Cầu” Tăng tiêu dùng, tăng xuất khẩu chính là kích thích sản xuất, tăng đầu ra cho nền kinh tế Tăng đầu tư sẽ trực tiếp dẫn đến tăng sản xuất vật liệu, tăng sản xuất máy móc thiết bị xây dựng, tăng chỗ làm, tăng thu nhập cho người lao động

4 Vai trò của việc duy trì một tốc độ tăng trưởng cao và bền vững trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu

4.1 Vai trò của tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao

Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo những

biểu hiện chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội Trong đó tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội Trước hết, tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề

vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo Tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao là vấn

đề có ý nghĩa quyết định đối với một quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục

sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng Tăng trưởng kinh tế tốc độ cao làm cho mức thu nhập của dân cư tăng nhanh, góp phần đáng kể vào việc cải thiện phúc lợi

xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tỷ lệ tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hóa… phát triển Tăng trưởng kinh tế tạo nhiều điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên

nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động Vì vậy tăng trưởng kinh

tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế còn tạo

Trang 21

tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín

và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã hội Đối với các nước chậm phát triển, tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đang phát triển

Như vậy, tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao là mục tiêu thường xuyên của các quốc gia nhưng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá Thực tế cho thấy, không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính 2 mặt Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế “quá nóng”, gây ra lạm phát, hoặc tăng truởng cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng sẽ làm cho sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội tăng lên Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững

4.2 Duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững đối với Việt Nam trong bối cảnh suy thoái toàn cầu

Tăng trưởng cao và bền vững là luôn là khát vọng đối với bất kỳ quốc gia nào,

trong bất kỳ hoàn cảnh nào Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay, khi các nền kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn và tăng trưởng chậm lại, thì đối với Việt

Nam, duy trì một tốc độ tăng trưởng cao lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn Nếu

duy trì một tốc độ tăng trưởng cao và ổn định thì Việt Nam sẽ không chỉ tận dụng các kết qủa của tăng trưởng để giải quyết các vấn đề xã hội (khi mà suy thoái kinh

tế đang làm tình trạng thất nghiệp tăng), mà sẽ còn làm tăng uy tín của nền kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế và quan trọng hơn cả, đây còn là một cơ hội để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển đối với các quốc gia khác Nền kinh tế Trung

quốc mặc dù tăng trưởng chậm lại và dự kiến đạt 8% năm 2009 so với thời kỳ trước khủng hoảng là 2 chữ số, tuy nhiên vẫn đạt mức cao, nếu so với thế giới Còn đối với kinh tế Việt Nam, theo nhiều báo cáo Chính phủ, kinh tế Việt Nam vẫn cố đạt mục tiêu tăng trưởng 5 thậm chí 6% vào năm 2009 Mức 5, 6% mà chính phủ Việt Nam đưa ra cao hơn nhiều so với nhận định của các tổ chức quốc tế và các chuyên

Trang 22

gia kinh tế (IMF là 5% và nay xuống còn 4,75%; WB là 5,5%; và gần đây nhất là EIU, bộ phận tình báo kinh tế thuộc tạp chí uy tín The Economist dự báo là 0,3%) Ngoài ra, nếu so với tăng trưởng của nhiều nước trên thế giới, con số 5 đến 6% có thể coi là niềm mơ ước với nhiều quốc gia khi mà đang trong tình trạng tăng trưởng

âm Như vậy, việc đạt mục tiêu tăng trưởng cao cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay hoàn toàn không phải không thực hiện được và phải “cố” đạt được mục tiêu đấy Theo đại hội Đảng X, Đảng đã có kỳ vọng đến năm 2020 Việt Nam sẽ “cơ bản” trở thành một nước công nghiệp Vì vậy, nếu Việt Nam không thể vượt qua được cuộc khủng hoảng thì sẽ rất “nguy hiểm” Tuy nhiên, không phải vì thế mà Việt Nam tìm mọi cách để đạt được tốc độ tăng trưởng cao bằng cách sử dụng cạn kiệt nguồn tài nguyên để tăng trưởng Nếu như vậy sẽ ảnh hưởng đến tính bền vững của tăng trưởng Điều quan trọng vào lúc này đối với Việt Nam chính là phải cải tổ, tái cơ cấu và minh bạch hóa hệ thống chính sách, tức là phải đổi mới từ những yếu kém bên trong nền kinh tế, có như vậy Việt Nam mới có thể đạt đuợc tăng trưởng nhanh và dài hạn trong tương lai

II Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao

và bền vững

1 Sử dụng nguồn lực trong tăng trưởng: vốn và lao động

Sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, không để lãng phí, thất thoát chính là cách hiệu quả nhất để duy trì một tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn; nguồn lực ở đây chính là vốn, lực lượng lao động

1.1 Yếu tố vốn

Sở dĩ vốn có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế chính là nhờ quá trình đầu tư phát triển Muốn phát huy các nguồn vốn trên một cách hiệu quả cần xây dựng một cơ cấu đầu tư hợp lý ở mức đầu tư và cách thức đầu tư Một chính sách đầu tư, kế hoạch đầu tư không cân đối, hay đầu tư thiên lệch sẽ không phát huy hiệu quả của các nguồn vốn và nhu vậy sẽ ảnh hưởng đến khả năng đạt được một tăng trưởng như mong đợi cùng với việc duy trì tăng trưởng trong dài hạn Trước đây có nhiều

Trang 23

quan điểm cho rằng chỉ cần đầu tư cho vốn vật chất nhiều có thể đạt được một tăng trưởng như mong muốn, nhưng thực ra không phải như vậy Nếu quá chú trọng vào đầu tư vốn vật chất, sẽ gây ra sự mất cân đối và sẽ hạ thấp vai trò của các nguồn vốn khác, ảnh hưởng đến tính bền vững của tăng trưởng

Việc sử dụng vốn tài nguyên đóng góp vào tăng trưởng kinh tế cũng cần được xem xét cẩn thận Vốn tài nguyên đóng góp vô cùng lớn vào tăng trưởng, có nhiều quốc gia nhờ có nguồn vốn tài nguyên dồi dào có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn dài, và nhờ kết quả tăng trưởng đấy họ có thể tăng nguồn vốn vật chất, vốn con người Tuy nhiên, việc sử dụng một cách bừa bãi, không hiệu quả nguồn vốn tài nguyên nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng như mong muốn sẽ tác động xấu đén tính bền vững của tăng trưởng Có nhiều quốc gia khai thác tài nguyên quá mức, phát triển các ngành tập trung nhiều tài nguyên nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, hoặc nhằm đạt được tăng trưởng cao, điều này làm giảm chất lượng và số lượng của tài nguyên từ đó ảnh hưởng đến khả năng duy trì tăng trưởng trong tương lai Đối với các quốc gia không có lợi thế về tài nguyên, việc sử dụng tài nguyên một cách lãng phí (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước) sẽ

có tác động xấu đến những người nghèo Do cơ hội thay thế vốn tài nguyên bằng các nguồn vốn khác của người nghẻo là rất thấp trong khi phần lớn các hoạt động của họ lại dựa vào vốn tài nguyên

Giảm sự phụ thuộc vào vốn tài nguyên vào tăng trưởng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn Một chính sách đầu tư hợp lý vào khoa học công nghệ, con người sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng của các yếu

tố đầu vào Mà như chúng ta đã biết, yếu tố khoa học công nghệ đóng một vai trò rất quan trọng, nhất là với các nước đang phát triển Tiến bộ công nghệ có được trong quá trình mà quốc gia đó nhập khẩu vốn và hàng hóa Công nghệ làm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố còn lại của tăng trưởng Không chỉ đối với các nước đang phát triển, mà đối với các nước phát triển, công nghệ cũng là động lực chính duy trì tăng trưởng ở các quốc gia này khi mà các yếu tố vốn khác đã được khai thác và sử dụng ở mức cao

Trang 24

Vốn con người hay vốn nhân lực là nhân tố quyết định đối với sự phát triển lâu dài của một quốc gia Một lực lượng lao động có trình độ sẽ có thể phát huy những lợi thế mà tiến bộ công nghệ đem lại Tuy nhiên để làm sao sử dụng lực lượng lao động đó một cách hiệu quả, để thực sự biến lực lượng lao động đó trở thành nguồn vốn nhân lực và nguồn vốn đó được phân bổ một cách hợp lý thì không phải là dễ Muốn có nguồn vốn nhân lực có chất lượng thì cần có cơ chế đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp hợp lý vào phát triển nguồn nhân lực Đầu tư vào con người chính là cách

để phát triển đất nước Đầu tư ở đây cần hiểu theo nghĩa kinh tế, nghĩa là nâng cao khả năng làm việc của người lao động (Ví dụ: như Việt Nam, cũng tỷ lệ chi đào tạo/GDP khá cao, tuy nhiên hiệu quả lại thấp vì đào tạo ra không làm được việc) Đầu tư phát triển một hệ thống giáo dục đào tạo tốt, đạt chuẩn quốc tế ở các cấp giáo dục, đặc biệt là đào tạo bậc đại học cao đẳng và công nhân lành nghề là yêu cầu tối quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào Sở dĩ tôi muốn nhấn mạnh “chuẩn quốc tế” ở đây, vì trong bối cảnh hội nhâp quốc tế hiện nay, một lực lượng lao động không đạt chuẩn quốc tế, không được quốc tế thừa nhận sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư nước ngoài do không đủ khả năng sử dụng các công nghệ từ nước ngoài và một lẽ dĩ nhiên điều này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

1.2 Yếu tố lao động

Đối với lực lượng lao động, quan tâm đầu tư vốn giúp họ phát triển tay nghề, tăng vốn kiến thức, nâng cao tính kỷ luật xong vẫn chưa đủ Lao động chỉ có thể phát huy hết khả năng, kiến thức họ có được khi được phân bổ ở những ngành, lĩnh vực phù hợp với khả năng của họ Nếu một người lao động có trình độ cao, tuy nhiên lại làm việc trong lĩnh vực không phù hợp với khả năng của họ, dẫn đến năng suất làm việc thấp và lãng phí nguồn nhân lực Vì vậy, xây dựng một cơ cấu lao động hợp lý là rất cần thiết, nhất là đối với các nước đang phát triển Cơ cấu lao động của các nước đang phát triển cần chuyển dịch nhanh theo hướng tăng nhanh lao động trong các khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần lao động ở khu vực nông nghiệp Chính công nghiệp và dịch vụ mới là những ngành quyết định khả năng tăng trưởng có nhanh và có được duy trì trong dài hạn hay không chứ không

Trang 25

phải nông nghiệp Theo nhiều chuyên gia, một cơ cấu lao động hợp lý là có đến 85% lao động làm việc ở khu vực phi nông nghiệp khi có lực lượng đông lao động làm việc trong khu vực này, giá trị gia tăng nền kinh tế có được sẽ cao hơn do đây

là khu vực có năng suất cao hơn nhiều khu vực nông nghiệp

Đối với cơ cấu lao động đã qua đào tạo cũng làm sao phải phù hợp với từng giai đoạn của quốc gia, tránh tình trạng thừa thầy thiếu thợ Trong các chương trình đào tạo cũng cần quan tâm đến việc tuyển chọn đầu vào và đầu ra của các cấp bậc đào tạo, một cơ chế tuyển chọn yêu cầu thấp ở đầu vào và yêu cầu cao ở đầu ra sẽ giúp cho lao động giảm sự chú trọng vào bằng cấp Bên cạnh đó, thu hút các lao động đã qua đào tạo vào các ngành có hàm lượng chất xám cao, các ngành mũi nhọn của địa phương, quốc gia là rất cần thiết đối với tăng trưởng của quốc gia và địa phương đó

2 Tính hiệu quả và hiệu suất của tăng trưởng

Một diều dễ nhận thấy rằng, một quốc gia cho dù tăng trưởng cao tuy nhiên hiệu quả trong sử dụng nguồn lực thì thấp, dẫn đến lãng phí nguồn lực thì tốc độ tăng truởng cao đó cũng không thể được duy trì trong thời gian dài Ví dụ một quốc gia cần đến 5 Kwh điện để tạo ra một đồng GDP, trong khi đây quốc gia khác chỉ mất có 2 Kwh điện để tạo ra một đồng GDP, như vậy rõ ràng, quốc gia sử dụng nhiều điện năng hơn sủ dụng điện năng với một hiệu quả không cao, gây lãng phí tài nguyên và đến một lúc nào đó tăng trưởng sẽ không còn được duy trì nữa Hiệu quả và hiệu suất của tăng trưởng thể hiện ở: sự so sánh giữa kết quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng với chi phí bỏ ra, thứ hai là sự so sánh giữa kết quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng với các chỉ tiêu thể hiện mục tiêu cuối cùng của hoạt động kinh tế đó là sự gia tăng thu nhập, và nâng cao mức sống Có thể nói, đánh giá tính hiệu quả và hiệu suất của tăng trưởng, chính là đánh giá nhân tố TFP, Ở đây tôi xin đưa ra 4 tiêu chí chính để đánh giá hiệu quả và hiệu suất của tăng trưởng, đó là: hiệu quả đầu tư, hiệu quả sử dụng điện năng, năng suất lao động xã hội và tiến bộ công nghệ

Trang 26

2.1 Hiệu quả đầu tư

Hiệu quả đầu tư phát triển là một phạm trù kinh tế - xã hội, nó phản ánh tương quan giữa cái lợi đối với cả nền kinh tế hay lợi nhuận đối với doanh nghiệp thu được trên tổng đầu tư đã thực hiện Đối với toàn bộ nền kinh tế, hiệu quả đầu tư được xét đến dưới 2 góc độ hiệu quả kinh tế vá hiệu quả xã hội 5

Chỉ tiêu thường dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư là hệ số ICOR Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp phản ánh mối quan hệ

so sánh giữa vốn đầu tư thực hiện và kết quả sản xuất đạt được ICOR có trị số càng thấp nghĩa là hiệu quả càng cao và ngược lại

Có 2 phương pháp tính hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

* Phương pháp 1:

ICOR = I V (%) / I G (%)

Trong đó: IV: Tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước;

I G: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Hệ số ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: Để tăng thêm 1% tổng sản phẩm trong nước đòi hỏi phải tăng bao nhiêu % tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP

* Phương pháp 2:

ICOR = V 1 / (G 1 – G 0 )

Trong đó: V1: Tổng vốn đầu tư của năm báo cáo;

G 1: Tổng sản phẩm trong nước của năm báo cáo;

G 0: Tổng sản phẩm trong nước của năm trước năm báo cáo

ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: Để tăng thêm đơn vị tổng sản phẩm trong nước, đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện

Để tính ICOR theo phương pháp 2 cấn tính V1, G1, G0 theo giá so sánh năm

1994 hoặc giá hiện hành

* Tính ICOR trong dài hạn (đây là cách tính của WB):

ICOR 0,t = ∑V 0,t-1 / (G t – G 0 )

Trong đó: V0,t-1: Tổng vốn đầu từ năm đầu giai đoạn đến năm trước năm báo cáo 1 năm;

Trang 27

G t: Tổng sản phẩm trong nước của năm báo cáo;

G 0: Tổng sản phẩm trong nước của năm bắt đầu giai đoạn

Ví dụ: tính ICOR giai đoạn 2000 – 2005:

ICOR = ∑V 00,04 / (G 05 - G 00 )

* Để thống nhất phương pháp tính: Đề tài sẽ tính theo phương pháp 1 với ICOR cho

từng năm

2.2 Hiệu quả sử dụng điện năng

Năng lượng đóng một vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, đó là điều chúng ta không thể phủ nhận Một quốc gia nếu sử dụng năng lượng hợp lý, tiết kiệm sẽ có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao và quan trọng hơn là có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng cao đó trong dài hạn Nếu một quốc gia sử dụng năng lượng không hợp lý, gây lãng phí, đạt hiệu quả không cao thì sẽ ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tăng trưởng cũng như duy trì tăng trưởng của quốc gia đó Năng lượng tồn tại dưới rất nhiều dạng, trong đó có năng lượng điện năng Có thể dễ dàng nhận thấy vai trò của điện năng, điện năng giúp cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục, đạt hiệu quả cao, không chỉ có vậy điện năng còn là cơ sở, duy trì đáp ứng các hoạt động sinh hoạt Quá trình sản xuất đạt hiệu quả, diễn ra liên tục; đời sống sinh hoạt của người dân được đáp ứng, đấy chính là cơ sở tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế Sử dụng năng lượng điện một cách có hiệu quả cũng có thể coi là sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên của quốc gia Để đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng điện năng trong tăng trưởng kinh tế, các chuyên gia kinh tế thường sử dụng tỷ lệ tương quan giữa tốc độ tăng điện tiêu thụ trên tốc độ tăng GDP (gĐiện/gGDP) Tỷ

lệ này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng điện càng cao Theo kinh nghiệm nhiều nước phát triển, trong thời kỳ đầu tốc độ tăng điện tiêu thụ thường lớn hơn tốc độ tăng GDP, nhưng về sau tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng điện gần như bằng nhau, thậm chí có thời kỳ tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng điện Hoặc cũng có thể lấy tỷ lệ giữa lượng điện tiêu thụ trên GDP (KWh/GDP) để tính lượng điện cần tiêu thụ để tạo ra một đồng GDP Con số này càng nhỏ thì đồng nghĩa với việc sử dụng điện đạt hiệu quả cao

Trang 28

2.3 Năng suất lao động xã hội

Năng suất lao động được coi là một thước đo quan trọng nhất để đánh giá sự

phát triển của một doanh nghiệp, một quốc gia Năng suất lao động là chỉ tiêu rõ ràng nhất để thấy được chất lượng tăng trưởng kinh tế của một quốc gia Để có thể biết được doanh nghiệp, quốc gia đó có khả năng cạnh tranh hay không, người ta sẽ nhìn vào năng suất lao động của doanh nghiệp, quốc gia đó Lênin đã quan điểm

“năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho sự thắng lợi của một chế độ xã hội mới Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng có dưới chế độ nông nô Chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại và sẽ bị đánh bại hẳn khi chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao động mới, cao hơn nhiều” Như vậy năng suất lao động có ý nghĩa rất quan trọng, có thể coi nó như thước đo tăng trưởng kinh

tế của một quốc gia Vậy năng suất lao động là gì?

Năng suất lao động là “Sức lao động của lao động cụ thể có ích” (theo K.Marx,

tư bản, NXB Sự thật, 1960, tr.26) Nó nói lên kết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một dơn vị thời gian nhất định Năng suất lao động được

đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian; hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Đối với một quốc gia hay toàn bộ nền kinh tế, năng suất lao động được hiểu dưới khái niệm năng suất lao động xã hội Năng suất lao động xã hội là tương quan giữa tổng thu nhập của toàn

xã hội trên tổng số lượng lao động xã hội Để tính năng suất lao động xã hội của một quốc gia, người ta sử dụng biểu thức:

NSLĐXH t = G t / L t

Trong đó: G t: Tổng sản phẩm quốc nội năm cần tính;

L t: Tổng số lao động vào năm cần tính

Dưới góc độ từng ngành, ta tính theo Gt và Lt của các ngành Ngoài ra, để tính mức đóng góp của năng suất lao động vào phần gia tăng GDP, ta sử dụng biểu thức sau:

Đ L = (1 – g L / g) * 100 (%)

Trong đó: Đ L: Tỷ trọng phần GDP do năng suất lao động tạo ra trong tổng GDP;

g L: Tốc độ tăng số lao động;

Trang 29

g: Tốc độ tăng của GDP

Tăng năng suất lao động có thể được coi là yêu cầu sống còn đối với mỗi một quốc gia Tăng năng suất lao động có thể được hiểu là: “sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, sao cho số lượng lao động là ít hơn mà lại có được sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn” (trích trong K.Marx, Tư bản, 1960, tr.70) Nâng cao năng suất lao động là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế đến việc tạo ra giá trị thặng

dư, tạo điều kiện cho tích lũy tái đầu tư và nâng cao thu nhập, sức mua có khả năng thanh toán và cải thiện đời sống

nghệ là những yếu tố tạo ra sự thay đổi về công nghệ Công nghệ là yếu tố thúc đẩy,

giúp cho sử dụng các yếu tố đầu vào khác hiệu quả hơn, công nghệ giúp tăng năng suất của người lao động, giúp nâng cao hiệu quả đầu tư Có thể coi công nghệ là yếu tố cốt lõi, quan trọng nhất trong các nhân tố tổng hợp, nó phát triển sẽ kéo theo những nhân tố khác cùng phát triển

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, công nghệ và những tiến bộ của nó đang đóng một vai trò quan trọng đối với các quốc gia trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Không chỉ đối với các nước đang phát triển, tiến bộ công nghệ chính

là yếu tố để tạo ra tăng trưởng nhanh, bắt kịp các quốc gia khác thì đối với các nước phát triển, tiến bộ công nghệ cũng chính là yếu tố duy trì tăng trưởng, khi mà các

Trang 30

yếu tố tăng trưởng khác đã được sử dụng ở mức cao Tiến bộ công nghệ của quốc gia không chỉ có được nhờ khả năng tự sáng tạo công nghệ của chính quốc gia đó

mà còn có thể dựa vào sự chuyển giao công nghệ, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển Để có thể tự đổi mới công nghệ, không thể có cách nào hơn ngoài việc quốc gia đó tăng chi đầu tư cho nghiên cứu, giáo dục, đào tạo kỹ thuật Tuy nhiên, nhà nước cần xây dựng những hình thức bảo hộ, bảo vệ quyến sở hữu đối với mỗi phát minh, có như vậy mới khuyến khích, thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ

3 Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Một quốc gia, nếu tận dụng tốt các lợi thế mà quá trình hội nhập đem lại về thương mại, về đầu tư nước ngoài…sẽ có thể tăng trưởng với một tốc độ cao và được duy trì ổn định Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, quá trình hội nhập kinh tế luôn đem lại những thách thức đối với mỗi quốc gia, đặc biệt khi kinh tế thế giới có nhiều biến động xấu thì những thách thức là lớn hơn bao giờ hết Nếu một quốc gia

tự xây dựng cho mình một định hướng hội nhập đúng đắn thì quốc gia đó sẽ không chỉ tăng trưởng tốc độ cao mà còn sẽ vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng đó khi nền kinh tế thế giới có nhiều biến động xấu

Để đánh giá khả năng hội nhập của một nền kinh tế, chúng ta có thể nhìn vào

độ mở cửa của nền kinh tế đó Nền kinh tế hội nhập sâu rộng thể hiện ở độ mở cửa lớn và ngược lại Giữa độ mở cửa của nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, một quốc gia có độ mở cửa càng lớn thì tăng trưởng với tốc độ càng cao và ngược lại Ngoài ra, để đánh giá khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia, diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã đưa ra 2 chỉ số: chỉ số cạnh tranh tăng trưởng (GCI) và chỉ số cạnh tranh thương mại (BCI) dựa trên các 8 nhóm chỉ tiêu

và hơn 500 tiêu chí khác nhau Có 8 nhóm chỉ tiêu như sau: Độ mở cửa (thuế quan

và các hàng rào cản trỏ nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu, tỷ giá hối đoái); Chính

phủ (mức độ can thiệp, năng lực và quy mô Chính phủ, các chính sách); Tài chính

(Phạm vi làm trung gian, tiết kiệm và đầu tư, độ rủi ro tài chính); Kết cấu hạ tầng

(điện thoại, giao thông, các hỗ trợ kếtcấu hạ tầng khác); Công nghệ (năng lực phát

triển công nghệ trong nước, công nghệ thông qua chuyển giao của nước ngoài và

Trang 31

FDI); Quản trị (những yếu tố lien quan đến nhân lực, quản trị nguồn nhân lực); Lao

động (kỹ năng và trình độ,các quan hệ lao động theo nghành); Thể chế (các chỉ số

cạnh tranh, chất lượng thể chế pháp luật, hiệu năng phòng chống tội phạm có tổ chức của cảnh sát) Hiện nay, các chuyên gia kinh tế giới hạn lại dưới 3 nhóm chỉ tiêu chính: môi trường kinh tế vĩ mô, chất lượng các định chế công và khoa học công nghệ Có thể thấy rằng, 2 chỉ số là kết quả của hàng trăm các tiêu chí đánh giá, tuy không thể đi sâu vào từng tiêu chí nhưng cũng có thể giúp chúng ta nhìn nhận

và đánh giá chung về khả năng duy trì tăng trưởng trong trung hạn và dài hạn của mỗi quốc gia so với thế giới

4 Thể chế, cơ chế chính sách

Muốn duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, trong dài hạn không thể không nhắc

đến năng lực của bộ máy nhà nước trong xây dựng thể chế và thực hiện vai trò quản

lý của mình Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, vai trò của nhà nước trong việc giữ nhịp độ tăng trưởng lại càng quan trọng Nhà nước cần xây dựng cho mình một cơ chế thu chi minh bạch, đảm bảo tính bền vững của ngân sách Cơ chế thu ngân sách dựa vào các nguồn thu có tính dài hạn, lâu bền; giảm dần sự phụ thuộc vào các nguồn thu mang tính không bền vững Chi ngân sách cũng cần giảm dần các khoản chi xây dựng cơ bản, là các khoản chi có thời gian thu hồi vốn chậm; tăng chi cho các lĩnh vực phát triển khoa học công nghệ, con người Đây mới thực

sự là những khoản chi phát huy hiêu quả trong dài hạn Một nhà nước nếu không có một cơ chế thu chi hợp lý, ảnh hưởng đến ngân sách thì cũng sẽ kém hiệu quả trong vai trò quản lý của mình và hạn chế đến khả năng duy trì tăng trưởng Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần ban hành những chính sách về phân bổ, sử dụng vốn, lao động hợp lý Có vốn nhiều, có lao đông quy mô lớn, nhưng nếu chúng ta không đưa ra những chính sách giúp sử dụng những nguồn lực trên một cách có hiệu quả thì cũng

sẽ không thể phát huy tối đa những lợi thế của chúng vào tăng trưởng kinh tế, nhất

là duy trì trong dài hạn

Trang 32

III Khái quát tình hình cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 6

1 Diễn biến cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng toàn cầu diễn ra vào cuối năm 2007 cho đến nay được coi là

cuộc khủng hoảng tồi tệ: “hàng trăm năm mới có một lần”, theo lời ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (FED) Nguyên nhân trực tiếp của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng và nhà đất tại Mỹ Bong bong bất động sản càng lúc càng phình to đã đặt thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia Châu Âu vào thế nguy hiểm Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bong tại thị trường nhà đất Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà không quan tâm tới khả năng chi trả của

khách hàng Dư nợ trong lĩnh vực này tăng mạnh từ 160 tỷ USD năm 2001 lên 540

tỷ USD vào năm 2004 và bùng nổ thành 1300 tỷ USD vào năm 2007 Theo ước tính vào cuối quý III năm 2008, hơn một nửa giá trị thị trường nhà đất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản này là nợ khó đòi Trước đó để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm

2006 khiến lãi suất phải trả nợ thành áp lực quá lớn với người mua nhà Họ không thể trả nợ vay và nhà thì bị tịch thu Thị trường bất động sản bắt đầu đóng băng và giá nhà đất sụt giảm mạnh Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động sản sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ và tràn sang nhiều nước Châu Âu, khiến nhiều công ty lớn phá sản

Nạn nhân đầu tiên của cơn bão tài chính là Countrywide Financial, tập đoàn tài chính từng nắm giữ 20% thị trường cho vay bất động sản Mỹ, chỉ trong vài tháng,

đã bị đẩy đến bờ vực phá sản do nợ khó đòi vào tháng 8/2007 Đến tháng 1/2008, ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về giá trị vốn hóa và tiền gửi, Bank of America, đã mua lại Country Financial với giá 4 tỷ USD Sau đó 1 tháng đến lượt Northern Rock, ngân hàng lớn thứ năm tại Anh, sau khi mất thanh khoản nghiêm trọng do thua lỗ từ cho vay thế chấp bất động sản, đã phải cầu cứu ngân hàng TW Anh Ngày 17/2/2008, Nothern Rock chính thức bị quốc hữu hóa Sự kiện Country Financial và Nothern là dấu hiệu báo hiệu cơn bão sắp đổ xuống thị trường tài chính toàn cầu

Trang 33

Đến ngày 28/2/2008, ngân hàng DZ Bank của Đức trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng Chưa đầy một tháng sau, ngày 17/3/2008, Tập đoàn môi giới chứng khoán Bear Stearns của Mỹ tê liệt và chấm dứt hoạt động sau 85 năm tồn tại Chưa dừng lại ở đó, đến ngày 29/4/2008, Deutsche Bank lần đầu tiên sau 5 năm công bố một khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bới các khoản thế chấp bất động sản Đến ngày 31/7/2008, ngân hàng này công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD và trở thành 1 trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu Cơn địa chấn thực sự bùng nổ vào ngày 7/9/2008 khi 2 tập đoàn chuyên cho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được chính phủ tiếp quản để tránh khỏi nguy cơ phá sản Ngày 15/9/2008, ngân hàng đầu tư lớn thứ tư nước Mỹ Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản Đúng 10 ngày sau, Washington Mutual Inc., một trong những ngân hàng lớn nhất nước Mỹ, đã phá sản với tổng giá trị tài sản thiệt hại lên tới 307

tỷ USD Bên cạnh đó, ngân hàng đầu tư số 1 nước Mỹ, Merill Lynch bị thâu tóm bởi Bank ò America và chính phủ đã phải bơm 85 tỷ USD vào AIG

Tháng 9 và 10/2008, thị trường chứng khoán bắt đầu chịu ảnh hưởng, đầu ti ên tại phố Wall, chỉ số Dow Jones sụt giảm 25% giá trị sau một tháng Cùng với nó, từ tuần lễ thứ 15 đến 21/9/2008, các thị trường chứng khoán từ Tokyo, Thượng Hải, Seoul, Hong Kong bắt đầu tuột dốc mạnh Tại châu âu, các thị trường chứng khoán Pais, London, Franfurt, Amsterdam cũng chung số phận Cùng với những sự kiện trong lĩnh vự tài chính bất động sản, tín dụng, chứng khoán, trong 9 tháng đầu năm

2008, chứng kiến cơn sốt giá dầu, lương thực và lạm phát làm khuynh đảo nền kinh

tế toàn cầu Đặc biệt là giá dầu từ mức 90 USD 1 thùng vào đầu năm 2008 leo lên

100 USD 1 thùng vào 20/2/2008 và lập kỷ lục trên 147 USD vào 11/7/2008 Giá vàn cũng tăng theo, 1000 USD 1 ounce vào ngày 17/3/2008 Lương thực cũng tăng giá; lạm phát cũng xảy ra ở nhiều quốc gia Tháng 7/2008, sau khi đạt đỉnh, giá dầu bất ngờ tuột dốc Nguyên nhân của hiện tượng này là do nhu cầu sử dụng dầu của một số nước giảm mạnh, do khó khăn kinh tế

Trang 34

Quay trở lại với diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính, tình trạng thị trường tài chính đóng băng ngày càng tồi tệ đã khiến ngân hàng TW Mỹ, Anh, Nhật, EU và nhiều quốc gia khác phải cắt giảm lãi suất để khơi thông dòng vốn Mỹ kể từ đầu năm 2008 đến nay đã 8 lần cắt giảm lãi suất, lãi suất cơ bản từ 5% đã xuống chỉ còn 0,25% Trong 3 tháng, tính từ đầu quý IV/2008, đã có hơn 30000 doanh nghiệp Mỹ phá sản Trong đó, ba nhà sản xuất xe hơi hàng đầu là Ford, General Motors (GM),

và Chrysler tuyên bố phá sản Đến cuối ngày 11/12/2008, cả thế giới chấn động khi nhà chức trách Mỹ bắt giữ cựu chủ tịch thị trường chứng khoán Nasdaq, ông Bernard Madoff

Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, kinh tế Mỹ nói riêng và thế giới sẽ tiếp tục đi xuống tới giữ năm 2009 Cường quốc số một thế giới và nhiều nền kinh tế lớn khác có xu hướng dần chuyển từ lạm phát sang giảm phát, trạng thái báo hiệu sự suy giảm kéo dài của nền kinh tế, biểu hiện sự đi xuống của thị trường tín dụng, nhà đất, lao động và hoạt động tiêu dùng

2 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này

là sự suy sụp của thị trường bất động sản Có 3 yếu tố chính tạo nên bong bong thị trường bất động sản ở Mỹ:

Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của FED là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này lien tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%

Thứ hai, về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ hồi đầu những năm 2000 là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nha nhà Việc này phần lớn được thực hiện thông qua hai tập đoàn được bảo trợ của chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mae Hai tập đoàn này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các

Trang 35

loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp, rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch

Thứ ba, vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành các công cụ đầu tư, cho nên thị trường tín dụng không chỉ còn là sân chơi cho các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa mà trở thành sân chơi mới cho các nhà đầu tư

Việc hình thành, mua bán và bảo hiểm MBS là vô cùng phức tạp cho nên nó diễn ra ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ Bởi vì thiếu sự kiểm soát cho nên long tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu tư Bên cạnh

đó có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty khác biến chúng thành MBS, cho nên các ngân hang thương mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay Vì dễ vay cho nên nhu cầu nhà lên rất cao, kéo theo sự lên giá bất động sản Giá nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng 4 năm từ 2002 đến 2005 Việc này đã dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá nhà

sẽ tiếp tục lên Hệ quả là người ta sẵn sang mua nhà với giá cao và nếu không có khả năng trả nợ họ có thể bán lại cho ngân hàng Điều này kéo theo những nhà đầu

tư có tiền ở nhiều nơi trên thế giới đều mua MBS ở Mỹ, trong đó có cả các nhà đầu

tư đến từ Đông Nam Á Cho đến giữa năm 2006, khi FED tăng lãi suất để đề phòng lạm phát, thì bong bong bất động sản bắt đầu vỡ vì nhiều người vay tiền mua nhà không có khả năng trả nợ, nhà bị tịch biên Giá bất động sản sụt giảm mạnh, thị trường bất động sản đóng băng Và cuộc khủng hoảng bắt đầu lan từ thị trường bất động sản sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu

Những nguyên nhân trên đây là những nguyên nhân trực tiếp Còn theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, có 2 lý do dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế Một là, hiện nay không có thể chế phù hợp để quản lý hệ thống tiền tệ và tài chính toàn cầu, các định chế IMF, WB đã bất cập Hai là, kết cấu kinh tế của các nước phưong tây hiện nay cơ bản vẫn dựa trên nền tảng công nghiệp với kỹ thuật lạc hậu

Trang 36

Nếu dầu tư vào công nghiệp thì gặp vấn đề là hiệu quả, năng suất thấp, đầu tư vào công nghệ cao thì vẫn chưa đủ trình độ Vậy tiền vốn đầu tư phải đổ vào bất động sản và dẫn đến sự hình thành bong bong bất động sản

3 Hệ lụy của cuộc khủng hoảng đối với một số nền kinh tế lớn và các nước đang phát triển

Bước vào quý IV/2008, suy thoái toàn cầu bắt đầu biểu hiện rõ Truớc tiên là kinh tế Mỹ lâm vào suy thoái, tăng trưởng âm 0,3% trong quý III/2008 Mức chi tiêu của người tiêu dùng, vốn đóng góp vào hai phần ba sự tăng trưởng của Mỹ đã suy giảm mạnh Thâm hụt ngân sách liên bang trong năm 2008 tăng mạnh với mức

kỷ lục 454,8 tỷ USD, cao gấp 3 lần mức thâm hụt 161,5 tỷ USD trong năm 2007

Dự báo thâm hụt ngân sách liên bang trong năm 2009 có thể lên tới 1000 tỷ USD Theo bộ lao động Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay của nước này là 6,5% cao nhất trong vòng 14 năm qua Theo dự báo kinh tế Mỹ sẽ còn tiếp tục suy thoái trong năm

2009, tỷ lệ thất nghiệp có thể lên 8% cùng với các khoản tiền dự trữ và giá trị bất động sản giảm mạnh

Tiếp theo đó, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới là Nhật Bản cũng bước vào suy thoái Nhật bản tăng trưởng âm liên tục trong hai quý II và III/2008 Đây là lần đầu tiên kể từ năm 2001, kinh tế Nhật Bản rơi vào suy thoái Khu vực đồng tiền chung Châu Âu (EU) cũng tăng trưởng âm liên tiếp trong hai quý II và quý III/2008 Đứ c, nền kinh tế lớn thứ ba thế giới cũng chính thức rơi vào suy thoái sau 12 năm, kinh tế Anh cũng lâm vào suy thoái, theo dự báo 2009 kinh tế Anh sẽ chịu sự sụt giảm mạnh nhất kể từ gần hai thập kỷ qua, số người thất nghiệp có thể lên tới 3 triệu người vào năm 2010

Ở Nga, tình hình cũng rất bi quan, đồng rúp mất giá mạnh, chính phủ đã phải chi 58 tỷ USD để giữ giá đồng tiền này Nguy cơ thâm hụt ngân sách ở Nga lớn, nguồn thu nhờ giá dầu lửa cao đã không còn nữa Chính phủ Nga đang dự định chi khoảng 190 tỷ USD nhằm hỗ trợ hệ thống tài chính và ngân hàng, các ngành kinh tế then chốt và doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đối với các nước đang phát triển, mà đầu tiên là Trung Quốc cũng chịu những

Trang 37

tác động không nhỏ của cuộc khủng hoảng Kinh tế Trung Quốc vốn được coi là động lực của tăng trưởng thế giới, sau nhiều năm tăng trưởng ở mức hai con số, đã giảm chỉ còn 9% trong quý III/2008 Theo WB, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chỉ đạt 7,5% trong năm 2008, mức thấp nhất trong 19 năm qua Tốc độ tăng trưở ng công nghiệp giảm sút nghiêm trọng từ 16% trong tháng 6 xuống còn 8,2% trong tháng 10/2008, thấp nhất trong vòng 7 năm qua Xuất khẩu suy giảm do khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Không chỉ có Trung Quốc, các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á do đều định hướng xuất khẩu và phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế, đầu tư nước ngoài nên cũng rơi vào suy thoái, Singapore là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á rơi vào suy thoái trong năm 2008, ba lĩnh vực trụ cột của kinh tế nước này là xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo, dịch vụ tài chính – ngân hàng và du lịch đều bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng, dự báo tốc

độ tăng trưởng kinh tế cả năm của Singapore khoảng 3% Chính phủ đã phải tạm thời đình chỉ kế hoạch từng bước tăng giá đồng nội tệ SGD Các biện pháp kích thích cả gói có thể làm cho thâm hụt ngân sách năm 2008 tăng lên gấp 3 lần Cùng với Singapore, Hàn quốc cũng không khá hơn là mấy, đồng Won mất giá hơn 40%

và ở mức thấp nhất kể từ năm 1997 Chính phủ Hàn Quốc đã phải thực hiện một số biện pháp khẩn cấp như cắt giảm lãi suất và bơm tiền vào hệ thống tài chính Thái Lan cũng có những biểu hiện của suy thoái Pakistan là nước châu Á đầu tiên kêu gọi IMF trợ giúp 6,5 tỷ USD

Trang 38

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG DUY TRÌ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CAO VÀ BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU

I Phân tích và đánh giá tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra (giai đoạn 2000 - 2007)

1 Phân tích tăng trưởng giai đoạn 2000 – 2007

Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 2000 - 2007

2004 rồi tăng nhanh vào 3 năm còn lại với tốc độ tăng trên 8% Đặc biệt vào năm

2007, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong cả giai đoạn là 8,48%, cao hơn mức trung bình giai đoan 2000 – 2006 là 7,5% và đạt mức kế hoạch đề ra Với tốc độ tăng nhanh như vậy, quy mô GDP của nền kinh tế được mở rộng gấp 2,4 lần

và 1,7 lần so với các năm 1995, 2000 nếu tính theo giá so sánh năm 1994 Với một tốc độ tăng trưởng nhanh như vậy, Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những nước

Trang 39

có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam cao nhiều so với tốc độ tăng trưởng của thế giới năm 2006 là 5,4%, cao hơn mức bình quân của khu vực Đông Á là 7% Theo các số liệu thống kê báo cáo,

từ năm 2001 – 2007 Việt Nam có mức tăng trưởng đứng thuộc nhóm cao nhất trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương chỉ sau Trung Quốc (biểu 2.1)

Biểu 2.1: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam với một số nước trong

Nguồn: Nguyễn Văn Thường, 2006

2 Đóng góp của một số yếu tố phân phối tới tăng trưởng

Trong phần này, nghiên cứu sẽ phân tích các yếu tố có ảnh hưởng lớn và tích cực đến tốc độ tăng trưởng của Việt Nam trong những năm gần đây (trong ngắn hạn) như: tiêu dùng cuối cùng (C), đầu tư (I), xuất khẩu ròng (NX)

- Thành tích tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2000 – 2007 có sự đóng góp lớn

của mức tăng tiêu dùng cuối cùng của toàn bộ nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng tiêu

dùng cuối cùng là 4,67% và tăng nhanh kể từ năm 2002 đến năm 2005 ở mức trên 7%, từ năm 2006 giảm đi xuống còn 3,65% Từ năm 2000 tới năm 2007, tiêu dùng cuối cùng thường chiếm tỷ trọng khoảng 70% GDP và đóng góp từ 5,3 tới 6,8 điểm

% vào tăng trưởng GDP Trong đó tiêu dùng tư nhân chiếm trên 64%, đóng góp 5,5 điểm % vào tăng trưởng năm 2007

Trang 40

Biểu 2.2: Đóng góp của yếu tố tiêu dùng tư nhân vào tăng trưởng kinh tế 2001 –

- Đầu tư trong giai đoạn 2000 – 2007 cũng tăng trưởng mạnh với tốc độ tăng trưởng

khá cao (trên 10%), cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP

từ năm 2004 đến nay đều đã vượt qua mốc 40% (năm 2004 đạt 40,7%, 2005 đạt 40,9%, năm 2006 đạt 41%, cho đến năm 2007 con số này là 40,4) và kế hoạch năm

2008 còn cao hơn, lên đến 42% Đây là tỷ lệ thuộc loại cao nhất thế giới, chỉ sau tỷ

lệ trên dưới 44% của Trung Quốc - một tỷ lệ làm cho tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đạt cao nhất thế giới, đã nhiều năm liền tăng hai chữ số, hiện đang giữ kỷ lục thế giới về số năm tăng trưởng liên tục (28 năm) Đóng góp của đầu tư vào tăng trưởng theo điểm phần trăm (xét theo phương trình tổng cầu) từ 3,23% vào năm

2000 đã tăng lên khoảng 7,54% điểm phần trăm vào năm 2007 (tốc độ tăng trưởng năm 2007 là 8,48%), một tỷ lệ rất cao Nếu xét theo 3 yếu tố đầu vào đó là vốn, lao động, TFP thì yếu tố vốn đang đóng góp đến hơn 57% vào tăng trưởng GDP của Việt Nam

Trong cơ cấu vốn đầu tư theo ngành trong giai đoan này, một diều đễ nhận thấy

đó là tỷ lệ vốn đầu tư trong cơ cấu đầu tư toàn xã hội cho ngành nông nghiệp đang giảm dần từ 24,53% năm 2000 xuống còn 20,30% vào năm 2007, tức là trung bình mỗi năm giảm 0,6% Trong khi đó vốn đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ, 2 ngành

Ngày đăng: 03/12/2022, 05:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. “Tài liệu nghiên cứu phân tích chất lượng tăng trưởng”, PGS.TS. Ngô Doãn Vịnh, ThS. Nguyễn Hoàng Hà, Viện chiến lược phát triển, 4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu phân tích chất lượng tăng trưởng”
4. “Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam”, Trung tâm Thông tin Kinh tê - Xã hội và dự báo quốc gia, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam”
5. “Chất lượng tăng trưởng kinh tế, một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam”, Nguyễn Thị Tuệ Anh, Lê Xuân Bá, và các cộng sự, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng tăng trưởng kinh tế, một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam”
6. “Kinh tế Việt Nam 2006: Chất lượng tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế”; GS.TS Nguyễn Văn Thường, GS.TS Nguyễn Kế Tuấn và các cộng sự, Nhà Xuất Bản ĐH Kinh Tế Quốc Dân, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 2006: Chất lượng tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế”
Nhà XB: Nhà Xuất Bản ĐH Kinh Tế Quốc Dân
7. Bài Thảo luận chính sách số 4, “thay đổi cơ cấu: giải pháp kich thích có hiệu lực duy nhất”; Đại học Harvard và chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: thay đổi cơ cấu: giải pháp kich thích có hiệu lực duy nhất”
8. “Kinh tế Việt Nam tăng trưởng duới mức tiềm năng”, TS. Vũ Thành Tự Anh, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam tăng trưởng duới mức tiềm năng”
9. Thông tin chuyên đề: “Thu hút đầu tư nước ngoài – kết quả, thách thức và giải pháp”, Trung tâm Thông tin – Tư liệu, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW, 1/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút đầu tư nước ngoài – kết quả, thách thức và giải pháp”
10. Thông tin chuyên đề: “Khủng hoảng tài chính suy thoái kinh tế toàn cầu và việc chủ động ứng phó của Việt Nam”, Trung tâm Thông tin – Tư liệu, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW, 2/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính suy thoái kinh tế toàn cầu và việc chủ động ứng phó của Việt Nam”
11. “Những vấn đề chủ yếu về Kinh tế phát triển”, PGS.TS Ngô Doãn Vịnh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chủ yếu về Kinh tế phát triển”
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
12. “Quan niệm và thực tiễn: Phát triển Kinh tế - Xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam”, TS. Đinh Văn Ân, NXB Thống Kê, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm và thực tiễn: Phát triển Kinh tế - Xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam”
Nhà XB: NXB Thống Kê
13. “Động thái và thực trạng Kinh tế - Xã hội 2001 – 2005”, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động thái và thực trạng Kinh tế - Xã hội 2001 – 2005”
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
14. “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW & UNDP.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”", Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW & UNDP

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ các yếu tố cấu thành tăng trưởng - Luận văn tốt nghiệp :GIẢI PHÁP DUY TRÌ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CAO VÀ BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU
Hình 1.1 Sơ đồ các yếu tố cấu thành tăng trưởng (Trang 15)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w