Ông cũng tuyên bố rằng để trở nên giàu có, các quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà họ có lợi thế tuyệt đối và tham gia vào thương mại tự do với các quốc gia khác
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
-ĐỀ TÀI:
NHỮNG TƯ TƯỞNG CỐT LÕI CỦA LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI VÀ LỢI THẾ TƯƠNG ĐỐI CŨNG NHƯ NHỮNG ƯU ĐIỂM
HAY HẠN CHẾ CỦA CÁC LÝ THUYẾT NÀY
GVHD: Th.S Nguyễn Phi Hoàng THÀNH VIÊN NHÓM:
Lê Thị Ngọc Qúy – 1921003685
Ma Thùy Trang – 1921003793 Phạm Thị Lan Hương – 1921003511 Nguyễn Hà Hoàng Long – 1921003568 Phạm Mỹ Huyền – 1921000456
Nguyễn Như Quỳnh – 1921003695 Nguyễn Ngọc Thảo – 192100373
Trang 2MỤC LỤC
I LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI CỦA ADAM SMITH 1
1 Hoàn cảnh ra đời 1
2 Nội dung quy luật 2
3 Mô hình thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối 3
4 Những điểm tích cực và hạn chế cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối 6
II LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH CỦA DAVID RICARDO 8
1 Hoàn cảnh ra đời 8
2 Nội dung của quy luật 8
3 Mô hình thương mại dựa trên lợi thế so sánh 8
4 Những điểm tích cực và hạn chế trong lý thuyết lợi thế so sánh 12
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3I LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI CỦA ADAM SMITH
1 Hoàn cảnh ra đời
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối ra đời từ giữa thế kỉ XVIII khi nền kinh tế các nước Tây Âu có nhiều thay đổi đáng kể:
- Cuộc cách mạng công nghiệp tâm điểm từ Anh phát triển mạnh Cuộc cách
mạng công nghiệp đã biến các nước này từ nền kinh tế sản xuất thủ công sang nền kinh tế với công trường, xí nghiệp, nhà máy sử dụng máy móc
- Từ một xã hội nông nghiệp đơn giản phát triển thành một xã hội kinh tế phức
tạp với nhiều ngành nghề khác nhau;
- Hoạt động thương mại quốc tế được mở rộng với nhiều quốc gia trên thế giới,
không chỉ bó hẹp trong phạm vi thuộc địa - chính quốc, không dựa trên cơ sở trao đổi không ngang giá
Các nước Nam Mỹ không còn là thuộc địa của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và các nước châu Âu khác, Hoa Kỳ, Canada không còn là thuộc địa của Anh và các nước châu Âu khác Vì thế, địa vị của các quốc gia này trong thương mại quốc tế cũng thay đổi dẫn đến việc họ không chấp nhận bị thiệt khi trao đổi
- Mặt hàng xuất khẩu đa dạng hơn (thay cho len và lúa mì là những sản phẩm chế
biến như vải dệt, vật dụng bằng sắt, da thuộc, than );
- Hệ thống ngân hàng phát triển, hệ thống thương phiếu ra đời và bắt đầu phát
hành tiền tệ;
- Vai trò của các doanh nghiệp được đề cao và họ có quyền tự quyết các vấn đề
liên quan đến hoạt động sản xuất của mình mà không phải chịu sự kiểm soát của chính quyền địa phương, giáo hội hay quân đội
Trong bối cảnh đó, học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ra đời Các nhà kinh tế học thời kì này, trong đó có Adam Smith chuyển dần đối tượng nghiên cứu
từ lưu thông sang sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Trang 4Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối được giới thiệu lần đầu tiên trong tác phẩm “An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations” năm 1776 bởi nhà kinh
tế học người Scotland, Adam Smith Ông cho rằng, tất cả các quốc gia không thể đồng thời trở nên giàu có theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương - tối đa hóa xuất khẩu
và giảm thiểu nhập khẩu bởi vì xuất khẩu của một quốc gia này là nhập khẩu của quốc gia khác Và để thay thế quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, Adam Smith đưa ra tuyên bố rằng tất cả các quốc gia đều có lợi nếu tất cả các quốc gia thực hiện thương mại tự do và chuyên môn hóa phù hợp với lợi thế tuyệt đối của họ Ông cũng tuyên bố rằng để trở nên giàu có, các quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa và dịch
vụ mà họ có lợi thế tuyệt đối và tham gia vào thương mại tự do với các quốc gia khác
để bán hàng hóa của họ Điều này giúp cho các nguồn lực của một quốc gia sẽ được sử dụng theo cách tốt nhất có thể cho việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà quốc gia đó
có lợi thế về năng suất so với các quốc gia khác Và từ đó tối đa hóa của cải quốc gia
2 Nội dung quy luật
Theo Adam Smith - người được coi là cha đẻ của kinh tế học hiện đại, các quốc gia chỉ nên sản xuất những mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối Một cá nhân, doanh nghiệp hoặc quốc gia được cho là có lợi thế tuyệt đối nếu nó có thể sản xuất hàng hóa với chi phí thấp hơn so với một cá nhân, doanh nghiệp hoặc quốc gia khác
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối được xây dựng với hai nội dung chính:
- Khẳng định vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế dân doanh Nếu như
các tác giả trọng thương cho rằng buôn bán chỉ có lợi cho một bên tham gia và họ ủng hộ một chính sách bảo hộ mậu dịch, thì Adam Smith lại khẳng định rằng thương mại tự do có lợi cho tất cả các quốc gia, và Chính phủ nên thực hiện chính sách
“không can thiệp” vào hoạt động thương mại quốc tế nói riêng và các hoạt động kinh
tế nói chung
- Khẳng định nguyên tắc phân công lao động để tạo ra nhiều lợi nhuận làm
cơ sở cho sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối Theo Ông, hai quốc gia tham gia
mậu dịch với nhau là tự nguyện và cả hai đều phải cùng có lợi Có nghĩa là quốc gia
A, xét trong tương quan với quốc gia B, có thể tỏ ra có hiệu quả hơn (có lợi thế tuyệt đối) trong việc sản xuất mặt hàng X, và kém hiệu quả hơn (có mức bất lợi tuyệt đối)
Trang 5trong việc sản xuất mặt hàng Y Khi đó B là quốc gia có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng
Y, và bất lợi tuyệt đối trong sản xuất mặt hàng X Như vậy theo Ông, nếu mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối, và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia để đổi lấy mặt hàng mà mình có mức bất lợi tuyệt đối, thì sản lượng của cả hai mặt hàng sẽ tăng lên và cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn
Theo Smith, cơ sở mậu dịch giữa hai quốc gia chính là lợi thế tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối ở đây là chi phí sản xuất thấp hơn (nhưng chỉ có lao động mà thôi)
3 Mô hình thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối
Giả thiết của mô hình bao gồm:
(1) Thế giới chỉ gồm hai quốc gia, chẳng hạn: Nhật Bản và Việt Nam
(2) Các quốc gia trên chỉ sản xuất hai mặt hàng, chẳng hạn: thép và vải
(3) Không có chi phí vận tải
(4) Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong quốc gia nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia
(5) Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trường
Trong điều kiện tự cung tự cấp, mỗi quốc gia tự sản xuất hai mặt hàng để tiêu dùng trong quốc gia
Trang 6Ví dụ 1:
Lợi thế tuyệt đối theo Chi phí lao động (số lượng lao động cần đến ở mỗi quốc gia để sản xuất mỗi một đơn vị thép và vải) như sau:
Nhật Bản Việt Nam
Số lượng lao động cần để sản xuất 1 đơn vị
Số lượng lao động cần để sản xuất 1 đơn vị vải 5 3
1v = 2,5t
1t = 2v 1v = 0,5t
(t: thóc; v: vải)
Có thể thấy rằng Việt Nam là quốc gia có hiệu quả cao hơn (có lợi thế tuyệt đối) trong sản xuất vải vì để làm ra một đơn vị vải chỉ cần 3 lao động, trong khi Nhật Bản phải cần đến 5 lao động Ngược lại, Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về sản xuất thép vì quốc gia này chỉ cần 2 lao động để làm ra 1 đơn vị thép, trong khi Việt Nam phải dùng đến 6 lao động Hai quốc gia tiến hành trao đổi các mặt hàng mình có lợi thế tuyệt đối lấy mặt hàng không có lợi thế tuyệt đối Giả thiết tỉ lệ trao đổi quốc tế là 1:1
Với lập luận như vậy, lúc đó Việt Nam sẽ tập trung toàn bộ số lao động của mình để sản xuất vải, còn Nhật Bản thì thực hiện chuyên môn hoá hoàn toàn trong việc sản xuất thép Sau đó hai quốc gia đem trao đổi với nhau một lượng nhất định các mặt hàng này để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong quốc gia Điều này sẽ dẫn tới gia tăng sản lượng vải và thép của toàn thế giới, và mỗi quốc gia có khả năng tiêu dùng nhiều
Trang 7hơn so với trường hợp tự cung tự cấp Nhật Bản lợi thêm 0,6 vải, Việt Nam lợi thêm 0,5 thép (cả hai quốc gia cùng có lợi nhưng Nhật Bản lợi nhiều hơn)
Ví dụ 2: Lợi thế tuyệt đối theo Năng suất lao động
Giả sử 1 giờ lao động ở Mỹ sản xuất được 6 mét vải, 1 giờ lao động ở Việt Nam chỉ sản xuất được 1 mét vải Trong khi đó 1 giờ lao động ở Mỹ thì chỉ sản xuất được 4
kg lương thực, còn ở Việt Nam thì sản xuất được 5kg lương thực Các số liệu được biểu thị như sau:
Nếu theo quy luật lợi thế tuyệt đối (so sánh cùng 1 sản phẩm về năng suất lao động ở 2 quốc gia Mỹ và Việt Nam) thì Mỹ có năng suất lao động cao hơn về sản xuất vải so với Việt Nam và ngược lại Việt Nam có năng suất lao động cao hơn về sản xuất lương thực so với Mỹ
Do đó, Mỹ sẽ tập trung sản xuất vải để đem trao đổi lấy lương thực của Việt Nam (xuất khẩu vải và nhập khẩu lương thực) Còn Việt Nam sẽ tập trung sản xuất lương thực và xuất khẩu để nhập khẩu vải
Nếu Mỹ đổi 6 mét vải lấy 6kg lương thực của Việt Nam thì Mỹ được lợi 2kg lương thực vì nếu 1 giờ sản xuất trong nước thì Mỹ chỉ sản xuất được 4kg lương thực
mà thôi Như vậy, Mỹ sẽ có lợi 2:4=1/2 giờ lao động
Việt nam sản xuất 1 giờ chỉ được 1 mét vải, với 6m vải trao đổi được Việt Nam phải mất 6 giờ đồng hồ Giả sử Việt Nam tập trung 6 giờ đó vào sản xuất lương thực sẽ được 6 giờ x 5kg/giờ = 30 kg lương thực Mang 6kg đem trao đổi lấy 6 mét vải, còn lại 24kg
Như vậy, Việt Nam sẽ tiết kiệm được 24:5kg/h ~ 5 giờ lao động
Trang 8 Qua ví dụ trên ta thấy thực tế là Việt Nam có lợi nhiều hơn so với Mỹ Tuy nhiên điều này không quan trọng, mà quan trọng hơn là cả hai bên đều có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà họ có thế so sánh và mang đi trao đổi
4 Những điểm tích cực và hạn chế cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối
- Điểm tích cực:
Học thuyết đã được các quốc gia sử dụng trong một số trường hợp, đề cao vai trò của cá nhân trong hoạt động giao thương, ủng hộ một nền thương mại tự do không có sự can thiệp của Chính phủ Thấy được tính ưu việt của chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế
Học thuyết về lợi thế tuyệt đối là bước tiến bộ vượt bậc so với thuyết trọng thương, giải thích bản chất kinh tế và ích lợi trong thương mại quốc tế, giải thích được sự phát triển của thương mại quốc tế hai chiều giữa các quốc gia thời kỳ đầu công nghiệp hóa ở châu Âu
Học thuyết khuyến khích tự do thương mại, tự do định giá trao đổi, có tác dụng lành mạnh hóa và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển
Lợi ích của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith là nó có thể giúp các quốc gia tối đa hóa năng suất và hiệu quả sản xuất hàng hóa, dịch vụ của mình Nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối so với các quốc gia khác khi sản xuất một sản phẩm, thì việc quốc gia đó tập trung tất cả các nguồn lực của mình để tạo ra sản phẩm
đó sẽ mang lại lợi ích không chỉ riêng cho quốc gia đó mà còn cho tất cả các quốc gia khác trên thế giới: Quốc gia sản xuất nhận được nhiều giá trị nhất cho sức lao động của mình bằng cách bán sản phẩm đó cho các quốc gia khác và nhập khẩu về bất kỳ hàng hoá nào mà quốc gia đó cần
- Điểm hạn chế:
Thương mại quốc tế chỉ xảy ra khi mỗi quốc gia đều có lợi thế tuyệt đối
về một trong hai mặt hàng => Hạn chế lớn nhất
Học thuyết được xây dựng dựa trên cơ sở thương mại hàng hóa: hàng đổi hàng giản đơn, trong khi thương mại quốc tế ngày nay còn gồm cả thương mại dịch
vụ
Trang 9 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối giả định thương mại chỉ liên quan đến hai bên
và hai hàng hóa Trên thực tế, trao đổi quốc tế phức tạp hơn nhiều, với hầu hết các quốc gia giao dịch với hàng chục quốc gia khác và trao đổi hàng trăm hoặc hàng nghìn thứ khác nhau
Tuy nhiên lại đồng nhất sự phân công lao động quốc tế với sự phân công lao động trong quốc gia mà không tính đến sự khác biệt rất lớn giữa các quốc gia về thể chế chính trị, phong tục tập quán Mô hình này không giải thích được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi có mức bất lợi tuyệt đối (hoặc lợi thế tuyệt đối) về tất cả các mặt hàng Liệu trong những trường hợp đó, các quốc gia có còn giao thương với nhau nữa không và lợi ích từ mậu dịch sẽ nằm ở chỗ nào?
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối dựa trên thương mại tự do thực sự giữa các quốc gia Trên thực tế, điều này hiếm khi xảy ra do thuế quan, hạn ngạch và các yếu tố khác gây trở ngại cho thương mại giữa các khu vực Ngay cả khi một quốc gia có thể sản xuất một sản phẩm với chi phí thấp hơn các quốc gia khác, thì các hạn chế thương mại có thể khiến các quốc gia khác tự sản xuất sản phẩm vẫn mang về hiệu quả kinh tế cao hơn Thậm chí các quốc gia còn có thể cố tình áp dụng thuế quan để bảo vệ các doanh nghiệp trong nước trước lợi thế của nước khác
Việc tập trung tất cả sản xuất của một quốc gia vào một hàng hóa duy nhất là không thực tế và tiềm ẩn nhiều nguy cơ Mặc dù một khu vực có thể có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất một sản phẩm, nhưng nếu sản phẩm đó không có nhu cầu cao, thì việc tập trung toàn bộ nguồn lực để sản xuất nó là một ý tưởng không mang lại nhiều lợi ích kinh tế
Một ví dụ điển hình có thể kể đến trong trường hợp này là việc khai thác uranium: Uranium rất hữu ích cho các nhà máy điện hạt nhân, nhưng chỉ có khoảng
440 lò phản ứng trên thế giới Nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối tập trung toàn bộ nguồn lực vào khai thác uranium, thì quốc gia đó có thể nhanh chóng vượt quá nhu cầu, để lại rất nhiều uranium mà họ không thể bán được
Trang 10II LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH CỦA DAVID RICARDO
1 Hoàn cảnh ra đời
Theo lý thuyết trước đó của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối, trong thương mại quốc tế, mỗi quốc gia sẽ tìm cho mình một số sản phẩm mà nó có lợi thế tuyệt đối, tức
là nó sẽ thu lợi nhờ việc chuyên môn hoá và những sản phẩm mà nó sản xuất hiệu quả nhất và trao đổi với các quốc gia khác Như vậy phải chăng những nước không có lợi thế tuyệt đối về bất cứ sản phẩm nào thì không thể thu được lợi ích từ thương mại quốc tế? Để trả lời cho câu hỏi đó, trong Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, năm
1817 David Ricardo xuất bản cuốn “Những nguyên tắc Chính trị và Thuế” trong đó Ông đề cập đến lợi thế so sánh Với lý thuyết lợi thế so sánh, ông đã chứng minh rằng những nước không có lợi thế tuyệt đối vẫn có thể có chỗ đứng trong thương mại quốc tế
2 Nội dung của quy luật
- Lợi thế so sánh xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối
- Lợi thế so sánh có thể đạt được ở mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế nếu như quốc gia nào đó tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có ít bất lợi hơn và nhập khẩu những mặt hàng mà mình có nhiều bất lợi hơn
3 Mô hình thương mại dựa trên lợi thế so sánh
David Ricardo tiếp tục sử dụng mô hình thương mại giản đơn tương tự như Adam Smith để giải thích quan hệ thương mại giữa các quốc gia tham gia Lý thuyết của Ricardo được xây dựng trên một số giả thiết, nhằm làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên đơn giản và trực tiếp hơn
Trong mô hình của mình, ông vẫn giả thiết:
(1) Thế giới chỉ gồm hai quốc gia, chẳng hạn: Nhật Bản và Việt Nam
(2) Các quốc gia trên chỉ sản xuất hai mặt hàng, chẳng hạn: lúa mỳ và rượu vang
(3) Không có chi phí vận tải
Trang 11(4) Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong quốc gia nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia
(5) Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trường
Ví dụ:
Nh t B n ậ ả Vi t Nam ệ
Sốố l ượng lao đ ng cầần đ s n xuầốt 1 đ n v ộ ể ả ơ ị
Sốố l ượng lao đ ng cầần đ s n xuầốt 1 đ n v ộ ể ả ơ ị
Các số liệu trên cho thấy Nhật Bản đang có lợi thế tuyệt đối cả hai loại mặt hàng là thép và vải, cụ thể số lượng lao động cần thiết để sản xuất của Nhật Bản ít hơn
so với Việt Nam Theo suy nghĩ thông thường, trong trường hợp này Nhật Bản sẽ không nên nhập khẩu mặt hàng nào từ Việt Nam cả thế nhưng phân tích của Ricardo
đã dẫn đến kết luận hoàn toàn khác Theo Ricardo, hai quốc gia này vẫn có thể tiến hành giao thương được với nhau và cả hai cùng có lợi
Ta nhận thấy tuy Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng do mức độ lợi thế về sản xuất thép lớn hơn mức lợi thế về sản xuất vải (qua số liệu so sánh giữa hai tỷ số 2/12 < 5/6) do đó Nhật Bản có lợi thế so sánh về mặt hàng thép Việt Nam bất lợi tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng do mức bất lợi về sản xuất vải ít hơn mức bất lợi về sản xuất thép (qua số liệu so sánh giữa hai tỷ số 6/5 < 12/2)
Do đó Việt Nam có lợi thế so sánh về mặt hàng vải
Như vậy, mặc dầu cả thép và vải ở Nhật Bản được sản xuất với hiệu quả tuyệt đối cao hơn, nhưng thép lại là mặt hàng mà Nhật có mức lợi thế tương đối lớn hơn so với vải Trái với lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh là một khái niệm có tính tương đối có nghĩa là một thế giới bao gồm hai quốc gia, hai mặt hàng, khi đã xác định được
có lợi thế so sánh về một mặt hàng nào đó thì có thể rút ra kết luận là quốc gia thứ hai
sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng kia