Cũng như nhiềuquốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng.Chính những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam.Trong kho tàng văn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Tiểu luận Môn học: Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
TÊN ĐỀ TÀI
LỄ HỘI VÀ SỰ BIẾN TƯỚNG CỦA LỄ HỘI
TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
MÃ SỐ LỚP HP: IVNC320905_02 GVHD: Trương Thị Mỹ Châu
1 Nguyễn Trần Hoàng Anh – 15141096
Trang 2Bảng phân công
Thứ
1 Nội dung chương 1 Trần Duy PhươngĐặng Hữu Phúc Hoàn thành100%
2 Nội dung chương 2 Nguyễn Trần Hoàng Anh
Võ Gia Thịnh
Hoàn thành70%
3 Mở đầu, kết luận Lại Quang PhátĐặng Hữu Phúc Hoàn thành100%
4 Tổng hợp nội dung vàlàm tiểu luận Trần Nhất Quang Hoàn thành100%
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 1
3 Phương pháp thực hiện đề tài 2
4 Cấu trúc đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: Tư tưởng hồ chí minh về vấn đề dân tộc 3
1.1 Quan điểm về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin 3
1.2 Quan điểm về vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh 3
1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh 3
1.2.2 Thực chất vấn đề dân tộc là vấn đề thuộc địa 6
1.2.3 Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước 8
CHƯƠNG 2: Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về vấn đề dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay 10
2.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay 10
2.2 Tầm quan trọng của quan điểm trong công cuộc đổi mới hiện nay 12
2.3 Vận dụng vào trong công cuộc đổi mới hiện nay 13
2.3.1 Cần quán triệt sâu sắc 13
2.3.2.Quan điểm, đường lối trong việc giải quyết vấn đề dân tộc quốc gia 15
2.3.3 Quan điểm, đường lối giải quyết vấn đề dân tộc trong nước 17
2.3.4. Tiếp tục kiên trì giải quyết một số vấn đề cơ bản liên quan đến dân tộc 17
PHẦN KẾT LUẬN 19
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lễ hội là một trong những nét văn hóa nổi bật không chỉ riêng Việt Nam
mà trên toàn thế giới hầu như nước nào cũng có lễ hội Lễ hội ra đời là sự kếttinh của niềm tin và nét văn hóa lâu đời của các dân tộc trên thế giới Lễ hội đãlàm thay đổi một phần trong cuộc sống của con người trong suốt chiều dài lịch
sử Trải qua hàng ngàn năm phát triển, lễ hội đã không ngừng phát triển theonhiều cách khác nhau Và đồng thời qua đó lễ hội cũng đang dần biến tướngtheo thời gian Hiện nay tại Việt Nam, việc lễ hội bị biến tướng đang dần trởthành một vấn nạn Do đó nhiệm vụ của chúng ta là phải tim ra được nguyênnhân và tìm cách khắc phục nó Hiểu được vấn đề đó nhóm em quyết định chọn
đề tài : “Lễ hội và sự biến tướng của lễ hội trong thời đại ngày nay” làm đề tàitiểu luận của nhóm mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu của tiểu luận là giới thiệu sơ lược về lễ hội tại Việt Nam, làm rõđược sự biến tướng lễ hội và qua đó đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm khắc phụcvấn đề này
Nhiệm vụ của tiểu luận gồm 2 nhiệm vụ chính:
- Giới thiệu được một cách tổng quát và đầy đủ nhất về lễ hội tại Việt Nam
- Nêu lên thực trạng, nguyên nhân và đưa ra giải pháp ngăn chặn sự biếntướng lễ hội hiện nay tại Việt Nam
3 Phương pháp thực hiện đề tài
Tiểu luận được thực hiện dựa trên một số phương pháp cụ thể như: lịch sử logic, phân tích, tổng hợp, quy nạp - diễn dịch…và được tham khảo từ cácnguồn trên sách và internet
Trang 6Chương 2: Sự biến tướng của lễ hội và biện pháp khắc phục
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LỄ HỘI TẠI VIỆT NAM 1.1 Khái niệm lễ hội
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng "Lễ" là
hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con ngườivới thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộcsống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện "Hội" là sinh hoạt văn hóa tôn, giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống
Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng tôn, giáo Con người xưa kia rất tin vào trời đất, thần linh Các lễ hội cổ truyền phảnảnh hiện tượng đó Tôn giáo rất có ảnh hưởng tới lễ hội Tôn giáo thông qua lễhội đê phô trương thanh thế, lễ hội nhờ có tôn giáo đề thần linh hóa những thứtrần tục Nhưng trải qua thời gian, trong nhiều lễ hội, tính tôn giáo dần giảm bớt
và chỉ còn mang nặng tính văn hóa
1.2 Tổng quan về lễ hội tại Việt Nam
Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễhội tôn giáo (chiếm 6,28%), 41 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), cònlại là lễ hội khác (chiếm 0,5%) Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, BắcNinh, Hà Nam, Hải Dương và Phú Thọ
Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử Cũng như nhiềuquốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng.Chính những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam.Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là vùng vănhóa rất đặc trưng Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như có mặt ở khắpmọi miền đất nước Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫnđược duy trì Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêngliêng cần suy tôn là nhân thần hay nhiên thần Đó chính là hình ảnh hội tụ những
Trang 8phẩm chất cao đẹp nhất của con người Giúp con người nhớ về nguồn cội,hướng thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui.
Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và số ítvào mùa Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông cóthời gian nhàn rỗi Trong số các lễ hội Việt Nam thì phải kể đến những lễ hội chiphối hầu hết các gia đình trên mọi miền tổ quốc, đó là Tết Nguyên Đán, Lễ VuLan và tết Trung Thu Gần đây một số lễ hội được nhà nước và nhân dân quantâm như: Lễ hội đền Hùng,Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, Giáng Sinh, Hội Phật Tích.Một số lễ hội lớn ảnh hưởng cả một vùng rộng lớn, tiêu biểu như: hộiGióng (xứ Kinh Bắc), lễ hội đền Hùng (Xứ Đoài), lễ hội chùa Bái Đính, HộiLim(Kinh Bắc) phủ Dày,(xứ Sơn Nam), lễ hội Yên Tử, lễ hội bà chúa Xứ (AnGiang), Lễ hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng)
1.3 Phân cấp lễ hội
Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định,các lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản Có những lễ hội bịbiến tướng, trần tục hoá, mở hội tràn lan nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các
lễ hội trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấp quốc gia,
lễ hội cấp tỉnh, lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng Theo bà Lê Thị Minh Lý Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hoá, điểm yếu trong việc quản lý lễ hội hiệnnay đó là chưa có cơ sở dữ liệu khoa học và quan điểm tiếp cận đúng.[3] Khôngnên đánh đồng giữa lễ hội và festival
-Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ởnhiều cấp khác nhau Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốcgia 5 năm/ lần Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh Các lễhội thường được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim, lễ hội Lam Kinh(Thanh Hóa), lễ hội đền Trần (Nam Định) Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêubiểu như lễ hội đền Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (TháiBình) để tưởng niệm người chiêu dân thành lập huyện Các lễ hội diễn ra ở đìnhLàng là lễ hội cấp nhỏ nhất, chỉ với quy mô làng, xã
Trang 9Đặc biệt, Việt Nam ta đã có rất nhiều lễ hội được công nhận là di sản củaQuốc gia Tính đến hết năm 2014, Việt Nam có 27 lễ hội được đưa vào danhmục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gồm:
- 12 lễ hội được công nhận theo Quyết định số 5079/QĐ-BVHTTDL ngày27/12/2012 là: Hội Gióng đền Phù Đổng và đền Sóc (Hà Nội), hội Lim (BắcNinh), Lễ hội Thổ Hà (Bắc Giang), Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn (HàGiang), Lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương), Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng), Lễhội Cầu Ngư ở Khánh Hòa (Khánh Hòa), Lễ hội Gầu Tào (Lào Cai, Hà Giang),
Lễ hội Kỳ Yên ở đình Gia Lộc (Tây Ninh), Lễ hội Tháp Bà (Ponagar) Nha Trang(Khánh Hòa), Lễ hội Lồng Tông của người Tày (Tuyên Quang)
- 4 lễ hội được công nhận theo Quyết định số 3084/QĐ-BVHTTDL ngày9/9/2013: Lễ hội Phủ Dầy, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; Lễhội chùa Vĩnh Nghiêm, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang và Lễ hộiNghinh Ông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh,hội làng Đồng Kị(BắcNinh)
- 2 lễ hội được công nhận theo Quyết định số 3820/QĐ-BVHTTDL ngày31/10/2013: Lễ hội Roóng poọc của người Giáy (Tả Van, Sa Pa, Lào Cai) và LễPút tồng của người Dao đỏ (Sa Pa, Lào Cai)
- 10 lễ hội được công nhận theo Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL ngày22/12/2014: Lễ hội Đền Trần Nam Định, Lễ hội Hoa Lư Ninh Bình, Lễ hội miếu
Bà Chúa Xứ núi Sam An Giang, Lễ hội Lồng tồng Ba Bể Bắc Kạn, Lễ hội làng
Lệ Mật Hà Nội, Lễ hội Khô già của người Hà Nhì đen, Đại lễ Kỳ Yên đình TânPhước Tây - Long An, Lễ hội vía Bà Ngũ hành Long An, Lễ làm chay (LongAn), Lễ hội Rước cộ Bà chợ Được (Quảng Nam)
1.4 Một số lễ hội tiêu biểu của Việt Nam
1.4.1 Lễ hội tại vùng Tây Bắc và Việt Bắc
Lễ hội Lồng Tồng: Là lễ hội truyền thống đặc trưng của cộng đồng người
Tày, được tổ chức thường niên vào tháng Giêng, tháng Hai âm lịch theo từng địaphương Lễ hội là dịp để bà con khắp nơi cầu phúc lộc, mùa màng bội thu, cuộc
Trang 10sống bình yên, no ấm hạnh phúc Nhiều trò chơi dân gian cổ truyền như némcòn, bịt mắt bắt dê, hát lượn… được tổ chức trong lễ hội này.
Lễ hội cầu an bản Mường: Là lễ hội truyền thống của bà con dân tộc Thái
ở Mai Châu, Thuận Châu, Mộc Châu và đồng bào dân tộc Mường Lễ hội cầu anbản Mường là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ý nghĩa quan trọng đối với cộngđồng các dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc Lễ hội thường được tổ chức vào cuốitháng Giêng, đầu tháng Hai âm lịch hằng năm; được gắn với tục giết trâu và tạthần linh thể hiện qua hình tượng thủy thần, thuồng luồng… Lễ hội có nhiềuhoạt động liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần, tâm linh, mùa màng haysức khỏe của cả cộng đồng trong năm diễn ra lễ hội
Lễ hội hoa ban: Hay còn được gọi là hội Xên bản, Xên mường – một lễ hội
của đồng bào dân tộc Thái Lễ hội được tổ chức vào mùa hoa ban nở trắng núirừng Tây Bắc, tức là vào dịp tháng Hai âm lịch Lễ hội hoa ban được mệnh danh
là ngày hội của tình yêu đôi lứa, ngày hội của hạnh phúc gia đình, hội cầu mùamàng tươi tốt, cuộc sống no ấm nơi bản mường, và cũng là dịp để bà con và dukhách tham gia các trò chơi, thi tài, hát giao duyên trong những đêm trăng sáng
1.4.2 Lễ hội tại vùng Châu thổ Bắc Bộ
Lễ hội Đền Hùng: Hẳn chúng ta đều đã quá quen thuộc với câu ca dao: “Dù
ai đi ngược về xuôi – Nhớ ngày Giỗ tổ mùng mười tháng ba”, và hễ nhắc đếncâu ca dao này là ai ai cũng nhớ đến ngày Giỗ tổ Hùng Vương Đây là một trongnhững lễ hội lớn mang tính chất quốc gia, được tổ chức hàng năm nhằm đểtưởng nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước Không biết từ bao giờ, phongtục giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành một truyền thống văn hoá ở nước ta Cứvào mùa xuân là lễ hội diễn ra và kéo dài từ mùng 8 – 11/03 âm lịch, trong đómùng 10 là chính hội Lễ hội hàng năm thu hút rất đông lượt khách du lịch trongnước và quốc tế thành tâm về chiêm bái
Lễ hội chùa Hương – Hà Nội (Mỹ Đức, Hà Tây cũ): Mùa xuân đi trảy hội
chùa Hương đã không còn xa lạ với nhiều người dân Việt Nam nói chung vàngười dân miền Bắc nói riêng Khi hội chùa Hương không phải chỉ để đi lễ Phật,
Trang 11mà còn để thưởng ngoạn những cảnh đẹp của sông núi nơi đây, để cảm nhậnnhững sự tuyệt vời đến bình yên của thiên nhiên mang lại cho mỗi chúng ta ởvùng đất này Lễ hội Chùa Hương hàng năm đều diễn ra từ 6 tháng Giêng chođến hết tháng Ba âm lịch Được đánh giá là một trong những lễ hội diễn ra trongthời gian dài nhất, thu hút đông đảo du khách đổ về đây đề đi lễ cầu tài, cầu lộckết hợp với du lịch thưởng ngoạn.
Lễ hội Yên Tử – Quảng Ninh: Nhắc đến Yên Tử người ta lại nhớ đến câu:
“Trăm năm tích đức tu hành – Chưa đi Yên Tử chưa thành quả tu” quả khôngsai Đến Quảng Ninh, ngoài vịnh Hạ Long là một trong 7 kỳ quan thiên nhiêncủa thế giới, thì không thể không nhắc đến Thiền Viện Trúc Lâm – chốn linhthiêng mà bất cứ Phật tử nào cũng mong muốn được viếng thăm dù chỉ một lần.Tương truyền, Yên Tử là trung tâm Phật giáo của nước Ðại Việt xa xưa, là nơiphát tích của thiền phái Trúc Lâm Đến lễ hội chùa Yên Tử, du khách sẽ có cơhội được thoát ra khỏi thế giới trần tục, để thực hiện cuộc hành hương tôn giáođộc đáo giữa chốn thiên nhiên hùng vĩ Hàng năm, lễ hội kéo dài từ ngày 10tháng Giêng đến hết tháng Ba âm lịch, thu hút nhiều du khách thập phương đếnviếng Chùa vào mùa du lịch lễ hội tại Việt Nam
1.4.3 Lễ hội tại vùng Trung Bộ
Lễ hội cầu Ngư: Là lễ hội của nhân dân làng Thái Dương hạ (thuộc thị trấn
Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế), được tổ chức vào ngày 12tháng Giêng âm lịch hàng năm Ba năm một lần làng lại tổ chức đại lễ rất linhđình Lễ hội để tưởng nhớ Trương Quý Công (biệt danh là Trương Thiều) – vịthành hoàng của làng Ông là người gốc Thanh Hoá, đã có công dạy cho dânnghèo cách đánh cá và buôn bán ghe mành
Lễ hội cầu Ngư có các trò chơi mô tả cảnh sinh hoạt của nghề đánh cá, đặcsắc là hình ảnh “bủa lưới” mang ý nghĩa trình nghề, khắc họa đậm nét nghi lễdân gian của cư dân vùng ven biển
Lễ hội Lam Kinh: Diễn ra tại khu di tích Lam Kinh (thuộc địa bàn xã Xuân
Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), mảnh đất quê hương của vị anh hùng
Trang 12dân tộc Lê Lợi và nhiều danh tướng nổi tiếng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Địadanh Lam Kinh còn là khu di tích có quy mô lớn về các đời vua, hoàng tộc củathời nhà hậu Lê và các danh tướng đương thời.
Vào ngày 22 tháng 8 âm lịch hàng năm, nhân dân các vùng ở miền Bắc nônức kéo về điện Lam Kinh để dự lễ tưởng niệm Lê Lợi và các danh tướng nhà
Lê – những người đã có công lao đánh tan giặc Minh xâm lược, giành độc lậpcho dân tộc, và xây dựng đất nước
Trong lễ hội, phần nghi thức rước kiệu từ lăng vua Lê Thái Tổ về đền thờđược tổ chức rất trang trọng, uy nghiêm Kết thúc phần lễ dâng hương tưởngniệm, du khách sẽ có dịp tham quan quần thể di tích Lam Kinh, xem các điệumúa như múa Xuân Phả hay chơi các trò chơi dân gian truyền thống như BìnhNgô phá trận…
Lễ hội Dinh Thầy – Thím: Từ lâu, lễ hội này đã trở thành nét văn hóa đặc
sắc riêng biệt của tỉnh Bình Thuận Vào ngày 14 đến 16 tháng 9 âm lịch hàngnăm, ngay chính tại khu di tích lịch sử – văn hóa Dinh Thầy – Thím (xã TânTiến, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận) lại diễn ra lễ hội lớn nhân ngày giỗ của Thầy– Thím
Vào dịp lễ hội, đông đảo người dân địa phương và du khách đến cầunguyện sức khỏe, hạnh phúc cho gia đình, họ hàng và công việc làm ăn hanhthông Ngoài các nghi lễ xưa vẫn được bảo tồn, trong phần hội còn có nhiều tròchơi dân gian thu hút như: chèo Bả Trạo, diễn xướng tích Thầy, biểu diễn võthuật, thi lắc thúng, gánh cá đi bộ, múa rồng… tạo nên không khí lễ hội sôiđộng
1.4.4 Lễ hội tại vùng Tây Nguyên
Lễ cơm mới: Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên, thần lúa
là được tôn trọng không kém các thần khác Sau khi thu hoạch hàng năm, người
ta tổ chức lễ ăn cơm mới, để tạ ơn thần, và thể hiện sự vui mừng chung hưởngkết quả của một quá trình mệt nhọc
Trang 13Lễ mừng thu hoạch của người Mạ là lễ hội lớn nhất trong năm và thườngkéo dài 7 ngày Lễ ăn cơm mới của người Bana chỉ diễn ra trong ba ngày, khi đãbắt đầu thu hoạch Và lễ Sơmắh Kek diễn ra khi gặt lúa đại trà Cuối cùng là lễđóng cửa kho.
Hội đua voi: Được tổ chức hằng năm vào tháng Ba âm lịch, hội diễn ra ở
Buôn Đôn hoặc ở những cánh rừng thưa nằm ven dòng sông Sêvepốc.Trước khi vào cuộc đua, một tiếng tù và cất lên, từng tốp voi được nhưng ngườiquản tượng điều khiển đứng vào vị trí xuất phát Khi có lệnh xuất phát, nhữngchú voi sẽ thi nhau phóng về phía trước trong tiếng chiêng, trống, hò reo cổ vũvang cả núi rừng
1.4.5 Lễ hội tại vùng Nam Bộ
Lễ hội Bà Chúa Xứ: Là lễ hội dân gian lớn nhất ở Nam Bộ Lễ hội được tổ
chức từ đêm ngày 23 đến 27 tháng Tư âm lịch hàng năm Trong những ngày lễdiễn ra tại miếu Bà Chúa xứ ở núi Sam (tỉnh An Giang), nhiều hoạt động vănhóa như múa bóng, hát bội diễn ra
Đêm ngày 23, nghi thức tắm Bà diễn ra thu hút đông đảo người xem Sau
đó tượng Bà được đưa xuống và dùng nước mưa pha với nước hoa để tắm Lễvía Bà hàng năm thu hút du khách thập phương đến tham dự lễ hội dân gian, cầutài lộc, và cũng là dịp chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp ở núi Sam vàcác di tích lịch sử xung quanh như: Lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Tây An…
Lễ hội Ok Om Bok: Lễ hội có tên khác là lễ cúng Trăng của đồng bào dân
tộc Khmer Nam Bộ, được tổ chức vào đúng hôm rằm và được bắt đầu từ khitrăng lên
Xuất phát từ tín ngưỡng dân gian, mặt trăng được biết là thần bảo vệ mùamàng, nên người Khmer thường tổ chức lễ hội Ok Om Bok vào ngày rằm tháng
10 âm lịch hằng năm như để cảm ơn các vị thần đã cho mưa thuận, gió hòa vàmùa bội thu… Theo phong tục của người Khmer, sau lễ cúng Trăng sẽ là hội đuange ngo, thu hút hàng chục vạn người tham gia hưởng ứng