Công Trình Kiến Trúc Phật Giáo Borobudur của IndonesiaNguyễn Hoàng Anh Nghành Đông Nam Á học Trường Đại Học Thành Phố Hồ Chí Minh 1854010013anh@ou.edu.vn Tóm tắt: Borobudur hay còn gọi l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA XHH – CTXH – ĐNA
CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO BOROBUDUR Ở INDONESIA
Thực hiện bởi Nguyễn Hoàng Anh MSSV: 1854010013 Giáo viên hướng dẫn Đặng Thị Quốc Anh Đào
TP Hồ Chí Minh
Trang 2Công Trình Kiến Trúc Phật Giáo Borobudur của Indonesia
Nguyễn Hoàng Anh Nghành Đông Nam Á học Trường Đại Học Thành Phố Hồ Chí Minh 1854010013anh@ou.edu.vn
Tóm tắt: Borobudur hay còn gọi là Ba La Phù Đồ là một trong những kỳ quan
Phật giáo lớn nhất thế giới với đường nét chạm khắc tinh xảo mang những giá trị của một công trình kiến trúc tôn giáo từng là niềm tự hào của những con người mang trong mình một lòng hướng Phật Bằng phương pháp chọn lọc thông tin bài viết này sẽ nghiên cứu rõ nét hơn về kiến trúc của Borobudur (Ba
La Phù Đồ) và giá trị văn hóa mà nó mang lại đã ảnh hưởng như thế nào đến tôn giáo.
Từ khóa: Đền Borobudur, kiến trúc Phật giáo, Mandala, Stupa,
1 Giới thiệu:
Cũng giống nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á, Indonesia mang những đặc trưng văn hóa khác biệt cùng sự đa dạng trong tôn giáo Đông Nam Á nằm ở vùng giao lưu văn hóa và ảnh hưởng nhiều văn minh khác nhau, vì vậy mà tôn giáo cũng trở nên đa dạng Nếu Phật giáo ngày càng thịnh ở những quốc gia lục địa như Myanmar, Thái Lan hay Campuchia thì Công giáo dường như được người dân Philppines tôn sùng, ngoài ra Indonesia, Malaysia hay Brunei nổi tiếng là những quốc gia Hồi giáo Thế nhưng, ít ai biết được rằng Indonesia, một đất nước phát triển Hồi giáo lại sở hữu cho mình một phồn thể kỳ quan Phật giáo bậc nhất thế giới – Borobudur, một di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận vào năm 1991 Việc lựa chọn nghiên nghiên cứu đề tài không chỉ dừng lại ở sự yêu thích kiến trúc mà còn là sự khai thác về nghệ thuật điêu khắc trong xã hội cổ đại, về lòng tin tín ngưỡng của người dân thới bấy giờ của một công trình từng bị “lãng quên” và đã được “hồi sinh” như những gì mà những người hướng Phật luôn kỳ vọng
Bài viết này tôi dựa trên những tài liệu và sách từ các nguồn chính thống như Nghệ thuật Đông Nam Á – thuộc viện nghiên cứu Đông Nam Á do tác giả Ngô Văn Doanh
– Cao Xuân Phố - Trần Thị Lý đảm nhiệm đã khái quát cho chúng ta thấy sự ra đời của nền nghệ thuật Java (thế kỷ 7 – thế kỷ 10), thời kỳ mà Borobudur được xây dựng
Trang 3Lược sử kiến trúc thế giới – do tác giả Trần Trọng Chi có viết tổng quát về kiến trúc
khu đền Borobudur với những số liệu cụ thể (tính đến năm 2010)
Sejarah dan Arrsitektur Candi Borobudur được viết bởi ông Deny Yudo Wahyudi,
M.Hum đã khai thác về lịch sử và kiến trúc của đền Borobudur
Ngoài ra còn một số tư liệu được tham khảo từ nguồn Internet và những bài báo được ghi chép về kiến trúc Borobudur
Ngôi đền Borobudur là một trong những công trình Phật giáo lâu đời nhất thế giới và
có sức ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ đối với con dân Phật giáo của Indonesia Bên cạnh đó ngôi đền có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với lịch sử hình thành và phát triển
của Indonesia Nghiên cứu này tập trung ở các khía cạnh như
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài viết sẽ nghiên cứu xoay quanh về quá trình hình thành của ngôi đền cũng như làm
rõ nét về lịch sử phát triển và khai thác kiến trúc và ý nghĩa của từng chi tiết, tầm quan trọng của đền đối với người dân
Về phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu kiến trúc ngôi đền Borobudur nằm
ở Trung Java, ở Indonesia Bên cạnh đó, Borobudur còn là cái nôi của Phật giáo góp mang giá trị tín ngưỡng cũng như là địa điểm thu hút khách du lịch trong những năm gần đây của Indonesia
+ Phạm vi thời gian: đề tài này sẽ được nghiên cứu từ thởu hình thành đền vào thế kỷ
IX đến thời điểm hiện đại
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Khái quát lịch sử hình thành Borobudur
Dựa vào những ghi chép bằng chữ được khắc Karangtengah và Kahulunan trên những phiến đá của di tích, nhà sử học JG de Casparis đã cho rằng người sáng lập Borobudur
là vị vua cổ đại Mataram của triều đại Syailendra tên là Samaratungga và đã cho xây dựng ngôi đền vào khoảng năm 824 sau Công nguyên Công trình khổng lồ này đã
Trang 4chính thức hoàn thành vào thời con gái của ông, Ratu Pramudawardhani, có lẽ việc xây dựng công trình này đã mất tận nửa thế kỷ Việc xây dựng đã đòi hỏi rất nhiều nhân lực mới có thể vận chuyển đá, có lẽ lên đến 60.000 mét khối đá núi lửa từ các vách của sông Elo và sông Progo nằm cách đền 2 km về phía đông, ở thời điểm đó việc đo lượng đơn vị chiều dài để xây dựng công trình này được tính bằng cách kéo dài ngón tay cái và ngón tay giữa hoặc đo bằng chiều dài của khuôn mặt người từ chân tóc ở trán đến đỉnh cằm Khi mà những khối đá được đặt khớp vào vị trí và được bao phủ bằng một loại thạch cao trắng được gọi là vajalaypa, những thợ thủ công “lành nghề” nhất thời kỳ sẽ chạm khắc kỹ thuật lên những viên đá và tạo hoa văn đường nét tinh xảo lên bức tường của đền
Về cái tên Borobudur có nghĩa là gì? Nhà khảo cổ NS Poerbotjoroko giải thích rằng
nó xuất phát từ hai từ “Bara” và “Budur” Từ “Bara” là từ tiếng Phạn có nghĩa là tu viện hoặc khu phức hợp đền thờ, trong khi từ “Budur” được lấy từ chữ “Bali Beduhur” Chứng cứ này đã được GS NS WF Stutterheim cho rằng Borobudur có
nghĩa là “Tu viện trên đồi Nhưng cũng có ý kiến cho rằng cái tên Borobudur được”.
tìm ra trong dòng chữ “Bhumisambharabhudhara”, có nghĩa là “Ngọn đồi của mười
vị đức hạnh của Bồ tát” Ngoài ra, theo các nguồn khác nó còn có nghĩa là núi có ruộng bậc thang (budhara)
Sử sách ghi lại, trong thế kỷ 7 và thế kỷ 8, nơi đây trở thành một trong những trung tâm học thuật nổi tiếng của giới Phật giáo Nhà sư Nghĩa Tính (635 – 731) của thời Đường, ông đã hành hương từ Trung Hoa đến Sumatra vào năm 671, và ở lại đây 6 tháng học để tiếng Sanskrit Trong cuốn Đại Đường Tây Vực cầu pháp cao tăng truyện của ông cho biết vùng đất này vào thời đó thu hút những tu sĩ, học giả Ấn Độ đến hoằng pháp và nhiều khách hành hương Trung Hoa đến để tu học, rất nhiều tiền xu và
đồ gốm của Trung Quốc đã được tìm thấy tại Borobudur Từ giữa thế kỷ 9 đến thế kỷ
11, đền Borobudur đã trở thành địa điểm cho những người hành hương Phật giáo không chỉ đến từ Trung Quốc mà còn có Ấn Độ, Tây Tạng, Campuchia Đền còn là một trong những dấu tích lịch sử Phật giáo quan trọng nhất trong quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại ở miền Trung Java trong thời gian ngắn dù chỉ khoảng
150 năm nhưng nó cũng đã rất hưng thịnh
Trang 5Trong khoảng 10 thế kỷ lịch sử , đền Borobudur đã bị bỏ hoang cho thiên nhiên hoang dã Không một dữ kiện nào rõ chính xác khi nào hoặc tại sao điều này lại xảy ra Có vài giả thuyết cho rằng có thể vào thế kỷ các nhà cai trị Java đã dời thủ đô đến một phần khác của hòn đảo do nơi đây luôn xảy ra thiên tai và núi lửa, hoặc có thể gần thế kỷ 15 khi Hồi giáo trở thành tôn giáo thống trị trong khu vực , ngôi đền này đã không còn được trọng dụng như xưa,
Mãi đến năm 1814, khi Java nằm dưới sự kiểm soát của Anh, thống đốc người Anh -Thomas Stamford Raffles, mới nghe những câu chuyện từ dân làng địa phương về một cấu trúc bí ẩn bị bỏ hoang Ông đã cử người của mình đi điều tra và trong hai tháng, một đội gồm 200 người đã phải chặt cây, đốt thực vật và đào bới đất để lộ ra ngôi đền Borobudur tận sau bên trong rừng sâu Nhưng khám phá này lại không hoàn toàn được quan tâm vào thời điểm đó , mọi người chỉ biết đến Borobudur như một ngôi đền Phật giáo bị bỏ hoan lâu năm và đến tận 160 năm nữa mới có sự nỗ lực phối hợp thực sự để bảo vệ và khôi phục kiệt tác Phật giáo lớn nhất thế giới này
Ngôi đền vẫn tồn tại vững chắc dù trải qua mười thế kỷ bị bỏ quên Nó được phát hiện lại vào năm 1815 Vào những năm 1982 và 1975, chính phủ Indonesia và UNESCO đã làm việc cùng nhau để khôi phục Borobudur “sống lại” vẻ hùng vĩ trước đây của nó Quá trình trùng tu mất tám năm để hoàn thành và ngày nay Borobudur là một trong những kho báu có giá trị nhất của Indonesia và thế giới Sau đó, ngôi đền đã được liệt kê vào danh sách Di sản Thế giới vào năm 1991 ( kỳ hợp thứ 15 )
3.2 Kiến trúc Borobudur
Thiết kế của Borobudur được hình thành bởi nhà thơ, nhà tư tưởng, kiến trúc sư
Gunadharma mang hơi hướng kiến trúc Gupta (thời kỳ Ấn Độ vào thế kỷ 6 – thế kỉ 9), về cấu trúc cơ bản nó giống như một kim tự tháp, nhưng nó vẫn được gọi là đền thờ hoặc là bảo tháp hay là ngọn núi linh thiêng Hầu hết, hình thức xây dựng đền thờ
mô phỏng nơi ở của các vị thần có thật, đó là núi Mahameru Do vậy mà nghệ thuật kiến trúc được trang trí bằng các loại hình chạm khắc và điêu khắc dưới dạng hoa văn
mô tả thiên nhiên của núi Mahameru
Trang 63.2.1 Kiến trúc Stupa
Nhiều người cho rằng Borobudur đã tạo dựng nên một mandala vĩ đại Bình đồ Borobudur hiện ra rỡ ràng một mô hình vũ trụ thu nhỏ biểu hiện trí tuệ viên mãn, trí tuệ sở chứng của bậc giác ngộ Điều này dễ hiểu trong bối cảnh Phật giáo của Java đậm màu sắc Mật tông
Nhiều người cho rằng Borobudur chủ yếu là một stupa Stupa vốn có nghĩa gò đất mai táng đã trở thành loại hình kiến trúc đặc trưng Phật giáo từ khi vua Ashoka xây hàng loạt ngôi tháp tôn thờ xá lợi Phật Từ tầm nhìn xa, toàn bộ công trình Borobudur in bóng trên nền trời một ngọn tháp khổng lồ Một Stupa to lớn ở trung tâm trên tầng cao nhất được vây quanh bởi 72 stupa nhỏ hơn ở ba tầng phía dưới Ngoài ra, các hốc đá bài trí tượng Phật ở những tầng vuông phía dưới cũng sử dụng các motif trang trí hình stupa
Dấu vết kiến trúc Phật giáo cổ nhất của stupa là ở Ấn Độ vào thế kỉ 4 đến thế kỷ 1 TCN, có dạng bán cầu, xung quanh có lan can và được trang trí bằng những hoạt cảnh
về cuộc đời Đức Phật, trên đỉnh là hình tượng chiếc lọng Ở các nước như Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, stupa có dạng bán cầu và đỉnh nhọn Ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, stupa được gọi là tháp hay tháp-bà, là nơi đựng tro cốt của Phật (xá lợi) hay của sư tổ trụ trì chùa Tháp có chiều cao lớn hơn cạnh đáy, chia thành nhiều tầng, thường càng lên cao càng thu nhỏ dần, phía trên cùng có mái cong
Chịu ảnh hưởng nhiều từ nghệ thuật kiến trúc truyền thống Ấn Độ, Borobudur là một dạng stupa lớn hình chuông, không hề mang chức năng thờ cúng mà là công trình tưởng niệm của Phật giáo Trong những ngày nước lũ lụt, ngôi đền núi này trông như một đóa sen nổi trên mặt nước Kiến trúc đền gồm những lộ đài hình vuông, hình tròn
và 73 vòm bát úp như hình những quả chuông, bên trong có đặt tượng Phật Toàn bộ ngôi đền cao 42m tương đương với tòa nhà 10 tầng, được xây trên một đài hình vuông Mặt bằng công trình chia làm 2 phần chính Phần phía trong của núi này trên cao bao gồm 3 vòng tròn đồng tâm, ở vòng trong trong cùng gồm 16 stupa, vòng tròn tiếp theo 24 stupa, vòng trong ngoài cùng 36 stupa, chính giữa tâm là stupa cao nhất
và lớn nhất, phần tròn này tượng trưng cho trời
Trang 7Phía ngoài trái của núi là những tầng cấp hình vuông có tường và lan can, được trang trí bằng các phù điêu xen kẻ với tượng phật tượng trưng cho đất, trời tròn, đất vuông
là quan niệm của nhà Phật
Một Stupa lớn ở trung tâm trên tầng cao nhất được vây quanh bởi 72 stupa nhỏ hơn ở
ba tầng phía dưới, theo các học giả Paul Mus và J.J Boeles, thể hiện một trích đoạn trong kinh Liên hoa Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi nhập định trên núi Linh Thứu, Người giảng cho các đệ tử rằng đạt đến Niết Bàn cũng giống như đạt thành Phật quả “Vào lúc đó, một bảo tháp bảy của báu vĩ đại xuất hiện, bay lên khỏi mặt đất
và đứng giữa không trung, tung rải nhiều báu vật…” Đại stupa chứa một vị Phật quá khứ từng thuyết giảng kinh Liên hoa rồi nhập Niết Bàn này tái xuất hiện bất cứ khi nào kinh Liên hoa được thuyết giảng Vô lượng các vị Phật cùng các vị Bồ Tát thấy họ ngồi dưới các cây ngọc báu và thấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi bên Phật quá khứ trong Đại stupa Tục truyền rằng, khi Phật sắp qua đời, môn đồ của Người - Ananda hỏi: '' Xin Người dạy nên giữ thánh tích của Người như thế nào? '' Phật không nói, chỉ lấy áo cà sa gấp lại trải trên đất, rồi lấy bát khất thực úp lên áo và đặt gậy chống lên trên Ý Phật như thế nào không ai biết rõ Nhưng dựa vào truyền thuyết này người đời
đã xây bảo tháp , nơi thờ thánh tích của Phật trong vũ trụ, đặt trên một nền cao, trên đỉnh có đài hình vuông Do đó, 72 bức tượng trong các stupa nhỏ hơn ở ba tầng phía dưới hướng mặt ra ngoài hơn là hướng về đại stupa ở trung tâm trên cao: các vị Phật
và Bồ Tát đang thuyết giảng kinh Liên hoa như họ đã thề hứa trước Thích Ca Mâu
Ni
3.2.2 Kiến trúc ở các tầng
Về phần chân của Borobudur là tầng thứ nhất (gồm 2 tầng dưới cùng), tầng này được gọi là bhurloka trong Phật giáo nó còn được gọi là kamadhatu gồm hai tầng dưới cùng tượng trưng cho thế giới của linh hồn ma quỷ, động vật cũng nơi ở của những con người bị cám dỗ bởi những ham muốn trần tục thấp kém Tầng được xây dựng có dạng bình đồ hình vuông, bốn cạnh được căn chiếu theo bốn hướng đông – tây – nam – bắc, mỗi cạnh có lối đi lên tầng trên nằm chính giữa, khoảng giữa ở mỗi cạnh để trống khoảng 7,38m, hai bên đặt con sư tử lớn bằng đá hoặc những hình tượng bảo vệ
Trang 8như Dwarapala Mỗi tượng thú cao 1,7m kể cả bệ, dài 1,26m, và rộng 0,8m Trong 8 con sư tử ở bốn cạnh thì một số đều đã được đẽo gọt, chạm trổ hoàn chỉnh Vài con còn chưa được đẽo gọt hoàn chỉnh ở trước những bậc thang dẫn vào ngôi đền nhỏ thường được trang trí chạm khắc hoa văn Makara, trên những vách đá gồm 160 mảng phù điêu phô bày những điêu khắc về chúng sinh như loài người, ma quỷ, súc sinh, những cảnh tượng tham lam, tham dục và thù hận Ở phía trung tâm nền chùa, ngay dưới gian chính thường sẽ một cái giếng và một quan tài làm bằng đá nằm ở dưới
cùng Giếng này thường sẽ chứa hài cốt của con vật hiến tế đã hỏa táng, sau đó Pripih
sẽ được đặt lên trên Trong linh vật này thường có tro cốt của nhà vua hoặc di vật của các vật linh thiêng như tấm vàng có ghi dòng bùa chú, tiền xu cổ, đá quý, thủy tinh, vàng miếng,
Phần thân của Borobudur là tầng thứ hai (gồm 4 tầng ở giữa) được gọi là bhuwarloka,
trong Phật giáo nó được gọi là larupadhatu, mô tả trần gian loài người thánh thiện tìm con đường đến sự giác ngộ và hoàn thiện về tâm hồn Bình đồ của tầng hai xây dựng theo bình đồ hình đa giác với 20 cạnh ôm lấy triền đồi Gồm 4 tầng ở giữa cũng có bình đồ hình vuông và các hành lang nằm ở tứ phía Phía trước có cửa dẫn lối vào trong, cổng của đền được trang trí với những hình khắc trạm trổ Kala ngay trên trung tâm của cửa và hai bên là hoa văn Makara Phần thân của ngôi đền bao gồm một garbagriha, là một buồng bên trong sẽ có một bức tượng chính, ví dụ như bồ tát, vị thần hộ mệnh, phật thờ, ở mặt ngoài của các bức tượng ở ba góc còn lại sẽ có những cái hốc được chạm khắc phù điêu, ước tính có khoảng 1,300 mảng phù điêu nằm dọc
ở hành lang
Tầng thứ ba là phần mái đền (gồm 3 tầng trên cùng) là biểu tượng của thế giới bên trên hay còn gọi là swarlakho, trong quan niệm của Phật giáo còn gọi là arupadhatu Thể hiện bằng 3 vòng tròn đồng tâm, mang ý nghĩa nơi đây không có điểm khởi đầu
và cũng không có điểm kết thúc Theo Phật Giáo, đây là cõi Niết Bàn, cảnh giới cao nhất của sự tu luyện và là cõi thiên đường, nơi cư ngụ của các đấng tối cao, các vị thần và linh hồn thuần khiết Trên đỉnh mái đền còn có những bảo tháp, khi người hành hương đi qua bốn phòng trưng bày thì sẽ bắt đầu đi lên ba sân thượng, càng đi lên cao thì phạm vi kích thước càng nhỏ lại, mái đền được xây dựng theo phong cách
Trang 9Đông Java, trưng bày ratna, wajra hoặc phallusgia, thường thì phong cách Đông Java, đỉnh đền có dạng hình khối hoặc hình trụ dagoba Các góc và giữa mái sẽ thường được trang trí bằng các họa tiết trang trí antefix, cụ thể là đồ trang trí sẽ có ba phần nhọn để trang trí các góc Hầu hết các bức tường của những mái đền sẽ không vẽ hoa văn họa tiết, nhưng ở ngôi đền lớn như Borobudur, mái của đền được trang trí bằng nhiều hình chạm trố điêu khắc đa dạng, chẳng hạn như các hốc chứa đầu thần Ước tính có khoảng 72 bảo tháp, mỗi bảo tháp đều chứa một tác phẩm điêu khắc trạm trổ những bức phù điêu của các vị thần hoặc các vị bồ tát ngồi bên trong làm bằng đá, hoa văn cũng được trang trí bằng đá quý hoặc kala và các vòng hoa, trên đỉnh của ngôi đền còn có tòa bảo tháp lớn ở trung tâm, tượng trưng cho cái tâm của sự giác ngộ
3.3 Ý nghĩa và giá trị mà Borobudur mang lại
Mặc dù kích thước và phạm vi tuyệt đối của một cấu trúc mạn đà la như thế này đã làm cho Borobudur không chỉ mang tính thẩm mỹ về không gian mà nó còn chứa ý nghĩa về sự giác ngộ, nhưng điều quan trọng là phải hiểu trải nghiệm của Borobudur liên quan như thế nào đến nền tảng triết học và tinh thần của tôn giáo Phật giáo mà nó tôn tạo và tưởng nhớ Kể từ khi ra đời, khoảng 2500 năm trước, Phật giáo đã trực tiếp tham gia vào điều mà họ coi là bản chất nghịch lý của sự tồn tại của con người Nguyên lý cơ bản nhất mà tôn giáo ban hành là bản chất vô thường, là tính tạm thời của sự tồn tại Trí tuệ siêu việt thông qua Giáo Pháp (Bát Chánh Đạo) xoay quanh
ý nghĩa về một “cái tôi” cố định, bất biến là một ảo tưởng
Sự giác ngộ bao hàm khái niệm vô ngã (anattā), được hiểu là trọng tâm của việc loại
bỏ đau khổ và bất mãn (dukkha) của chúng sinh Đây là thông điệp cuối cùng được thể hiện trong kinh sách thiêng liêng được củng cố trong vẻ đẹp lộng lẫy nghệ thuật dọc theo những bức tường đá và lan can của Borobudur Chuyển động vật lý đi vòng quanh cấu trúc tượng trưng cho con đường giác ngộ phi vật chất - hay tâm linh.Vì vậy
có thể hiểu rằng, khái niệm về con đường trong Borobudur tượng trưng cho sự vô thường, giống như một dòng sông không bao giờ giống nhau trong từng khoảnh khắc,
di chuyển vật lý dọc theo con đường trong khi thiền định về thông điệp tâm linh của kinh có nghĩa là giúp người ta nắm bắt trọn vẹn thông điệp nghịch lý của Đức Phật về
vô thường
Trang 10Các văn bản minh họa trên tường cũng đề cập đến các con đường Ví dụ, trong kinh Gandavyuha đã được khắc trong các phòng trưng bày phía trên của ngôi Chương cuối của một văn bản lớn hơn được gọi là Kinh Vòng hoa, nó kể về câu chuyện của Suddhana - một thanh niên bắt đầu cuộc hành trình để gặp năm mươi ba vị thầy trong quá trình tìm kiếm con đường dẫn đến giác ngộ “Tôi sẽ dẫn dắt những ai lạc đường đi đúng hướng Ta sẽ là ngọn đèn sáng cho những người trong đêm tối và khiến những người nghèo khổ và cơ cực khám phá ra những kho tàng ẩn giấu Bồ tát làm lợi ích vô
tư cho tất cả chúng sinh cách này ”
Ngoài ra, ý tưởng chuyển từ bóng tối ra ánh sáng là yếu tố cuối cùng trong trải nghiệm của Borobudur Con đường đi từ tầng thấp nhất lên tầng cao nhất cua ngôi đền ngụ ý đưa một người từ cõi trần tục tầm thường Dục giới được nhìn thấy và ghi lại các tích truyện được khắc dọc theo bốn phòng trưng bày về cuộc sống của con người và tu sĩ,
sự tích Phật tổ cũng như phản ánh cõi tu hành thông qua tàng thứ hai là Sắc giới, khi đạt đến cảnh giới cao nhất, con người ta đã biết hướng đến cái thiện thì sẽ là Vô Sắc Giới như được biểu tượng hóa treen các bậc thang hình tròn mở với 72 bảo tháp Tuy nhiên, biểu tượng của sự giác ngộ mà những bảo tháp này đại diện không nhằm mục đích chỉ mang tính thẩm mỹ Bảo tháp Phật giáo và mandala được hiểu là “công nghệ tâm linh” khai thác “năng lượng” tâm linh trong việc tạo ra không gian linh thiêng, là
sự lặp lại của hình thức và sự tiến bộ theo chu kỳ của người hành hương Chuyển động theo chiều kim đồng hồ quanh trung tâm vũ trụ tái tạo đường đi của mặt trời trong vũ trụ vĩ mô Do đó, khi một người xuất hiện từ các phòng trưng bày bóng tối đại diện cho các cõi dục vọng và hình thành ánh sáng của lối đi trên không hình tròn
“vô hình”, tác động vật chất của ánh sáng lên hình thể vật chất của một người đồng thời kết hợp với sự giác ngộ tâm linh do hành trình siêu hình tạo ra con đường thiêng liêng
Ánh sáng, chính là mục tiêu cuối cùng Bảo tháp đỉnh cao của ngọn núi thiêng này được thờ cúng “Đức Phật Mặt Trời vĩ đại” Vairocana Ngôi đền nằm gần vũ trụ với ngọn núi lửa gần đó là Núi Merapi Vào những thời điểm nhất định trong năm, đường
đi của mặt trời mọc ở phía Đông dường như ló ra khỏi núi để chạm vào đỉnh của ngôi đền trong sức mạnh tổng hợp rạng rỡ Ánh sáng chiếu sáng lên viên đá theo một cách