Nghiên cứu cơ sở lí luận dạy học vật lí để thiết kế các tiến trình tổ chức hoạt động tự học Đánh giá thực tế dạy học của giáo viên và học sinh hiện nay ở các trường THPT thuộc huyện Lệ thủy, Tỉnh Quảng Bình. Đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động tự học theo hướng tích cực học tập của học sinh trong dạy học phần “Quang hình học”, Vật lí 11 THPT. Tiến hành thực nghiệm sư phạm các tiến trình đã xây dựng để xác định mức độ phù hợp, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của từng tiến trình đối với việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Sau đó rút kinh nghiệm để hoàn thiện chúng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phần “Quang hình học”, Vật lí 11 THPT.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cám ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Mục tiêu của đề tài 7
3 Giả thiết khoa học 8
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 8
5 Đối tượng nghiên cứu 8
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Cấu trúc luận văn 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA TỰ HỌC VỚI SỰ HỔ TRỢ CỦA TN VÀ PTTQ 12
1.1 Cơ sở lý luận về tự học 12
1.1.1 Hoạt động dạy học 12
1.1.1.1 Hoạt động dạy học 12
1.1.1.2 Bản chất của hoạt động học 13
1.1.1.3 Tổ chức các hoạt động dạy học, xác định các hình thức tổ chức dạy học .14
1.1.2 Khái niệm tự học 17
1.1.3 Vai trò của tự học 20
1.1.4 Năng lực tự học 21
1.1.5 Kĩ năng tự học 22
1.1.5.1 Khái niệm kĩ năng 22
1.1.5.2 Hệ thống các kĩ năng tự học 22
Trang 21.1.5.3 Hệ thống kĩ năng tự học môn vật lý 25
1.1.6 Thuận lợi và khó khăn của tự học 26
1.1.7 Phân loại tự học 27
1.1.8 Các hình thức tổ chức tự học 28
1.1.9 Quy trình tổ chức hoạt động tự học theo hướng phát huy tính tích cực 28
1.2 Tổ chức hoạt động tự học với sự hổ trợ của TN và PTTQ 31
1.2.1 Thí nghiệm vật lí 32
1.2.2 Vai trò của thí nghiệm vật lí 32
1.2.3 Các loại TN trong dạy học vật lí 32
1.2.3.1 TN biểu diễn 32
1.2.3.2 TN học sinh 33
1.2.3.3 Những yêu cầu về sử dụng TN 33
1.2.4 TN đối với quá trình tổ chức hoạt động tự học 34
1.2.5 Phương tiện trực quan trong dạy học 36
1.2.5.1 Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học 36
1.2.5.2 Các loại phương tiện trực quan trong dạy học 36
1.2.5.3 Cách sử dụng một số phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học vật lí .37
1.3 Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học với sự hổ trợ của TN và PTTQ 39
1.4 Thực trạng hoạt động tự học của HS trong dạy học vật lí 41
1.5 Kết luận chương 1 45
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC VỚI SỰ HỔ TRỢ CỦA TN VÀ PTTQ THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA TRONG DẠY HỌC PHẦN " QUANG HÌNH HỌC", VẬT LÝ 11 THPT 46
2.1 Đặc điểm phần “Quang hình học” Vật lí 11 Trung học phổ thông 46
2.1.1 Đặc điểm chương “Khúc xạ ánh sáng” 46
2.1.2 Đặc điểm chương “Mắt và dụng cụ quang học” 47
2.2 Sơ đồ cấu trúc logic nội dung phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT 48
2.3 Một số thí nghiệm dùng để tổ chức hoạt động tự học học phần “Quang hình học” Vật lý 11 THPT 41
2.4 Quy trình thiết kế bài dạy học theo hướng tổ chức hoạt động tự học môn vật lí .56
Trang 32.5 Sơ đồ quy trình thiết kế việc dạy học trên lớp có thể giúp Hs tự học tốt ở
trên lớp 62
2.6 Thiết kế một số bài dạy học theo hướng Tổ chức hoạt động tự học thông qua việc sử dụng thí nghiệm học sinh trong dạy học phần “ Quang hình học”, Vật lí 11 THPT .64
2.7 Kết luận chương 2 74
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 75
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 75
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 75
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 75
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 75
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 75
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 76
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 76
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 76
3.3.2 Quan sát giờ học 76
3.3.3 Các bài kiểm tra 77
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 77
3.4.1 Đánh giá về hoạt động của giáo viên và học sinh trong các giờ học 77
3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 78
3.5 Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 5Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá trìnhhội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủphẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Nguồn laođộng phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạotri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm đápứng yêu cầu của xã hội Để có được những năng lực ấy, con người phải học tậpkhông ngừng, học tập suốt đời, học ở mọi nơi thông qua nhiều hình thức, trong đóphải lấy tự học là làm nồng cốt Do đó, cần phải bồi dưỡng và rèn luyện năng lực tựhọc cho học sinh ngay từ khi còn ở trường phổ thông
Để đáp ứng yêu cầu cấp bách đó, Ngành Giáo dục đã và đang có những đổi mớiđồng bộ và toàn diện trên tất cả các phương diện, trong đó đổi mới PPDH được xácđịnh là nhiệm vụ trọng tâm theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo,hướng đến mục tiêu cuối cùng là tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đấtnước Văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nghị quyết TW 2 khóa VIII và Luật giáo dụccũng đã nhấn mạnh đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục
Nghị quyết hội nghị BCH TW 2 khóa VIII chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học,
tự nghiên cứu cho học sinh ” [ 2].
Luật giáo dục ban hành năm 2005 Chương I, Điều 5 về phương pháp giáo
dục quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [19]
Ngoài ra, trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 ở mục 5.2 ghi rõ
“Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức,dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi
cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập ” [19]
Trang 6Vật lý học là môn khoa học thực nghiệm, do đú nú cú mối quan hệ chặt chẽvới thực tế, kỷ thuật, tự nhiờn và trong đời sống Vỡ vậy trong dạy học vật lý để đạtđược mục tiờu bài học thỡ bản thõn người dạy cần khai thỏc và phối hợp cỏc phươngphỏp dạy học một cỏch cú hiệu quả, đặc biệt chỳ trọng tới cỏc phương phỏp dạy họctớch cực Việc tớch cực hoỏ hoạt động nhận thức của học sinh phụ thuộc rất nhiềuvào việc tổ chức và điều khiển quỏ trỡnh dạy học của thầy giỏo Bởi vậy, trong tiếntrỡnh dạy học, thầy giỏo cần phải lựa chọn và sử dụng cỏc phương phỏp dạy họchiệu quả, đặc biệt là cỏc phương phỏp dạy học tớch cực như: Phương phỏp nờu vấnđề; Phương phỏp tương tỏc nhúm, Phương phỏp thực nghiệm, cú như vậy mớikhuyến khớch tớnh tớch cực sỏng tạo của học sinh trong học tập.
Thầy giỏo và học sinh là những chủ thể của quỏ trỡnh dạy học, vỡ thế tớch cựchoỏ hoạt động nhận thức của học sinh phải do chớnh những chủ đề này quyết định
Do đú, cần phải thay đổi vai trũ của thầy giỏo và HS trong quỏ trỡnh dạy học Tronggiờ học thầy giỏo khụng làm thay học sinh, mà thầy đúng vai trũ là người tổ chứcquỏ trỡnh học tập của học sinh, hướng dẫn học sinh đi tỡm kiếm kiến thức mới Cũnhọc sinh phải chuyển từ vai trũ thụ động sang chủ động tham gia tớch cực và sỏngtạo vào quỏ trỡnh học tập trỏnh tỡnh trạng nghe và ghi chộp một cỏch mỏy múc.Trong đú tăng cường hơn nữa việc tổ chức cho học sinh thảo luận và làm việc theonhúm
Tuy vậy, phương phỏp dạy học ở một số trường phổ thụng hiện nay ớt nhiềuvẫn là cỏch dạy thụng bỏo kiến thức theo kiểu “đọc - chộp” hay cũn được gọi làtruyền thụ một chiều, cú kết hợp với đàm thoại Giỏo viờn chưa phải là người tổchức cho học sinh hoạt động, học sinh chưa biết phương phỏp tự học theo hướngtớch cực, tự lực Hoặc thay vỡ phải minh họa cho học sinh hiểu kĩ về một vấn đề nào
đú thỡ giỏo viờn chỉ đọc cho học sinh ghi chộp những nội dung chớnh của bài học;thay vỡ hướng dẫn cho học sinh luyện tập, rốn luyện những kỹ năng thỡ giỏo viờn chỉyờu cầu học sinh lặp lại theo mẫu một cỏch mỏy múc, dẫn đến hoạt động tự học củahọc sinh kộm hiệu quả Bờn cạnh đú việc sử dụng thớ nghiệm và phương tiện trựcquan trong giờ học ớt được chỳ ý đặc biệt là thớ nghiệm học sinh vỡ vậy giờ họckhụng gõy được hứng thỳ cho học sinh, một số giờ học giỏo viờn làm thớ nghiệm ỏpđặt làm cho học sinh khụng tin tưởng, khụng phỏt huy tin thần tự học của học sinh.Phương phỏp dạy học này dẫn đến sự thụ động của người học, nặng về ghi nhớ lý
Trang 7thuyết, thiếu kỹ năng thực hành áp dụng, chưa phát huy tinh thần thần tự học và tưduy sáng tạo của người học [17]
Trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy trong giáo dục thì vai trò củangười học đã dần có sự thay đổi, HS trở thành người giữ vai trò trung tâm của quátrình dạy học, là chủ thể tích cực chủ động sáng tạo của quá trình học tập Bên cạnhviệc học ở lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên thì người học còn phải tự nghiêncứu, tự tìm hiểu khám phá để lĩnh hội tri thức, ngoài ra về mặt tâm lý học cũng chothấy việc tự học sẽ làm cho người học phát huy hết nội lực đem lại hiệu quả hơntrong quá trình học tập Trong việc học tập môn vật lý cấp phổ thông việc tự họccũng đóng vai trò quyết định tới kết quả học tập
Xuất phát từ những vấn đề trên cho thấy, việc tổ chức hoạt động tự học cho học sinh THPT là rất cần thiết và phải được tiến hành qua các bài học và trong suốt quá trình dạy học vật lí Thời gian tự học là lúc học sinh có điều kiện tự nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ thích hợp Điều đó không những giúp học sinh nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững, bồi dưỡngphương pháp học tập, kỹ năng sử dụng đồ dùng thí nghiệm rút ra kiến thức vận dụng tri thức tri thức vào thực tiển đó chính là mục đích lớn của giáo dục hiện đại,
mà còn là dịp tốt để học sinh rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo Đó là những điều không ai cung cấp được cho học sinh nếu các em không thông qua hoạt
động bản thân Do đó tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức hoạt động tự học với
sự hổ trợ của thí nghiệm và phương tiện trực quan trong dạy học phần
“Quang hình học”, Vật lí 11 THPT”, nhằm góp phần vào công cuộc đổi mới
phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học trong giai đoạn hiện nay
2 Mục tiêu của đề tài
- Tổ chức hoạt động tự học với sự hổ trợ của thí nghiệm và phương tiện trựcquan
- Vận dụng quy trình vào thiết kế tiến trình dạy học theo hướng bồi dưỡng nănglực tự học cho học sinh
3 Giả thiết khoa học
Nếu khai thác ,sử dụng thí nghiệm và phương tiện trực quan hổ trợ tổ chức cáchoạt động tự học cho học sinh thì sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh, gópphần nâng cao chất lượng dạy và học
Trang 84 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận dạy học vật lí để thiết kế các tiến trình tổ chức hoạtđộng tự học
- Đánh giá thực tế dạy học của giáo viên và học sinh hiện nay ở các trường THPTthuộc huyện Lệ thủy, Tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động tự học theo hướng tích cực học tập củahọc sinh trong dạy học phần “Quang hình học”, Vật lí 11 THPT
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm các tiến trình đã xây dựng để xác định mức độphù hợp, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của từng tiến trình đối với việc phát huytính tích cực học tập của học sinh Sau đó rút kinh nghiệm để hoàn thiện chúngnhằm nâng cao chất lượng dạy và học phần “Quang hình học”, Vật lí 11 THPT
5 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động dạy và học phần quang hình học, trong đó đi sâu vào hoạt động tự họccủa HS
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình tổ chức hoạt động tự học trên lớp có sự hướng dẫn của giáo viên nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh lớp 11 THPT trong dạy học
phần “Quang hình học” ở các trường THPT huyện Lệ thủy, Tỉnh Quảng Bình
7 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về bồi dưởngnăng lực tự học và việc sử dụng thí nghiệm trong dạy Vật lí ở trường phổ thôngnhư:
Về cơ sở lí luận về tự học thì các tác giả như Nguyễn Kỳ, Lưu Xuân Mới, Trần
Bá Hoành, Nguyễn Quang Lạc, Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên, Lê CôngTriêm, Lê Đình, Trần Huy Hoàng, Võ Chấp…đã xây dựng khá hoàn chỉnh, đã coi
tự học là một hình thức, một phương pháp học tập cơ bản và cốt lõi đối với ngườihọc Đặc biệt, trong các nghiên cứu của mình các tác giả rất chú trọng đến việc bồidưỡng năng lực tự học cho HS, sinh viên bằng nhiều biện pháp khác nhau
Luận án tiến sĩ của Trần Văn Thạnh “Nghiên cứu sử dụng phối hợp thí nghiệmvật lí với các phương tiện nghe nhìn trong dạy học vật lí lớp 9 Trung học cơ sở”,
Trang 9nghiên cứu xây dựng qui trình sử dụng phối hợp thí nghiệm vật lí với các phươngtiện nghe nhìn nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trên giờ lên lớp.Luận án tiến sĩ của Huỳnh Trọng Dương “Nghiên cứu xây dựng và sử dụng thínghiệm theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy họcvật lí ở trường trung học cơ sở”, trong luận án của mình tác giả nghiên cứu vai tròcủa thí nghiệm vật lí với việc phát huy tính tích cực hóa hoạt động nhận thức củahọc sinh ở trường phổ thông.
Luận văn thạc sĩ của Lương Thị Thanh Thanh “Nghiên cứu khai thác và sửdụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học phần Nhiệt học ở Trung học cơ sở”, trongluận văn của mình tác giả cũng nghiên cứu sử dụng thí nghiệm tự tạo nhằm tích cựchoá hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy “Nhiệt học” ở THCS
Các luận văn nghiên cứu về vấn đề tự học và các biện pháp tổ chức hoạt động
tự học cho HS THPT như luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tường Thảo Uyên với đề tài
“Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho họcsinh trong dạy học chương “Điện tích - Điện trường” và “Dòng điện không đổi”,Vật lí 11 nâng cao Trung học phổ thông”
Nguyễn Thị Thiên Nga với đề tài "Nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trườngTHPT thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho HS" Luận văn thạc sĩcủa Nguyễn Phú Đồng “Nghiên cứu sử dụng bài tập vật lí theo hướng bồi dưỡngnăng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần “Dòng điện không đổi”, Vật lí 11Trung học phổ thông” trong luận văn của mình tác giả tuyển chọn và xây dựngđược hệ thống các bài tập vật lí phần “Dòng điện không đổi” theo hướng rèn luyện
kĩ năng tự học cho học sinh trung học phổ thông (THPT) và các biện pháp sử dụngbài tập vật lí có hiệu quả nhằm bồi dưỡng năng lực tự học, góp phần nâng cao chấtlượng học tập phần “Dòng điện không đổi” của học sinh THPT
Trịnh Thị Sơn (K18) với đề tài “ Rèn luyện kỷ năng tự học cho học sinh trongdạy học chương “Quang học” vật lý 9 THCS với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”.Luận văn đả hệ thống cơ sở lí luận của việc rèn luyện KNTH cho HS với sự hỗ trợcủa BĐTD trong dạy học VL ở trường THCS, đề xuất được một số biện pháp rènluyện các KNTH cho HS với sự hỗ trợ của BĐTD trong dạy học chương “Quanghọc” VL9 THCS và xây dựng được tiến trình dạy học theo hướng rèn luyện KNTH
Trang 10cho HS với sự hỗ trợ của BĐTD trong dạy học chương “Quang học” VL9 THCSthông qua việc sử dụng các biện pháp đề xuất.
Lê Đình Hiếu (K18) với đề tài “ Rèn luyện kỷ năng tự học cho học sinh trongdạy học chương “Các định luật bảo toàn” vật lý 10 THPT với sự hỗ trợ của củamáy tính” Luận văn đả đề cập đến cơ sở nghiên cứu lí luận của việc rèn luyện kĩnăng tự học với sự hỗ trợ của MVT và đề xuất một số biện pháp và xây dựng đượctiến trình dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học với sự hỗ trợ của MVT Các nghiên cứu trên đã đưa ra những biện pháp khác nhau nhằm tăng cường khảnăng tự học của HS Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào khai thác TN và PTTQ để
hổ trợ phương pháp tự học cho HS, trong khi đó TN và PTTQ là phương tiện dạyhọc đặc trưng của bộ môn Do đó, trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ kế thừanhững cơ sở lí luận của các công trình nghiên cứu trước đây, điểm mới ở đây là chútrọng nghiên cứu sử dụng các thí nghiệm do học sinh tự nghiên cứu rút ra kiến thứcdưới sự định hướng của giáo viên trong quá trình tổ chức hoạt động tự học ở trênlớp, góp phần nâng cao chất lượng học tập của HS khối lớp 11 nói riêng và của HSbậc THPT nói chung
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nghiên cứu lí thuyết:
- Đọc và tìm hiểu lí luận từ sách, báo, tạp chí, văn bản, nghị quyết xây dựng
cơ sở lí luận của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận thực tiển việc tự học
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới phương pháp dạy học vật lí phổ thông,
các luận văn có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu chương trình, nội dung SGK, sách giáo viên và các tài liệu liên quan đến phần “Quang hình học”
8 2 Phương pháp điều tra
Điều tra bằng phiếu thăm dò về việc sử dụng thí nghiệm ở trường THPT và
tổ chức dạy học theo hướng tự học ở một số trường phổ thông trên địa bàn huyện
Lệ thủy
8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 11Tiến hành giảng dạy ở trường THPT theo tiến trình đã xây dựng để kiểm tra tính khả thi và hoàn thiện các tiến trình đó
8.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các kết quả TNSP nhằmkiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai nhóm
đối tượng (thực nghiệm và đối chứng)
9 Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA TỰ HỌC VỚI SỰ HỔ TRỢ
CỦA THÍ NGHIỆM VÀ PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN
1.1 Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động tự học
Trang 121.1.1.1 Bản chất của hoạt động dạy
Bản chất của hoạt động dạy học là dạy cho HS biết hành động (hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức) Mỗi hoạt động là một sự tác động tương hỗ có định hướng của người dạy, người học và đối tượng nghiên cứu
Do đó, trong dạy học, GV cần tổ chức các tình huống học tập, xây dựng những quy trình, thao tác và định hướng hành động nhận thức của HS nhằm tạo ra sự thích ứngcủa người học để họ tích cực, tự lực thực hiện các hành động học tập qua đó người học chiếm lĩnh được tri thức, kĩ năng đồng thời phát triển năng lực, trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình [24]
Hoạt động tổ chức và định hướng hoạt động học của HS trong dạy học khoa học phải phù hợp với tâm lý học nhận thức và với khoa học
Dạy học được coi là tốt nếu nó đi trước sự phát triển, kéo theo sự phát triển Xuất phát từ luận điểm khoa học này, cùng với J.Piaget, L.Vưgôtxki đã xây dựng lýthuyết “vùng phát triển gần nhất” Lý thuyết này thể hiện nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức và sự phát triển Theo lý thuyết này, những yêu cầu đặt
ra đối với HS phải phải hướng vào “vùng phát triển gần nhất” tức là phù hợp với trình độ của HS đã đạt được ở thời điểm đó Do đó, trong QTDH, người GV cần phải tổ chức và định hướng hành động học của HS dẫn dắt các em đạt tới “vùng phát triển gần nhất”, đồng thời lại hình thành vùng phát triển kế tiếp và cứ thế HS học lên, tiếp tục phát triển Đó chính là mục tiêu dạy học, là tính quy luật của hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS
1.1.1.2 Bản chất của hoạt động học
Học là một hoạt động nhận thức đặc biệt, là một nhu cầu cơ bản để con người tồn tại và phát triển Nó không phải là một sự tiếp thu máy móc, sao chép nguyên bản mà thực chất là tạo một sự chuyển hoá, một sự vận động bên trong của chủ thể nhằm làm phong phú kiến thức của bản thân và tự biến đổi mình
Lênin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đườngbiện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Điều dễ nhận thấy là hoạt động nhận thức của HS không phải là tìm ra tri thức mới mà chỉ là
sự tái tạo lại tri thức khoa học mà các nhà khoa học đã tìm hiểu trước Đây là một
Trang 13điều thuận lợi cho HS Tuy nhiên, để tái tạo lại, người học không còn cách nào khác
là phải phát huy nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, ), càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu Trong học tập vật lí, việc HS khám phá ra những định luật, tính chất vật lí không phải để làm phong phú thêm kho tàng kiến thức của nhân loại mà HS tái tạo lại chúng để biến chúng thành vốn liếng của bản thân mình Điều quan trọng là HS phải tự khám phá lại để tập làm cái công việc khám phá đó trong hoạt động thực tiễn sau này Việc tái tạo này sẽ tạo ra những biến đổi trong bản thân người học, sự hình thành phẩm chất và năng lực ở người học thực sự là những thành tựu mới, chúng sẽ giúp cho người học trưởng thành hơn Vì vậy, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học tập Ai học thì người đó phát triển, không ai có thể thay thế được [24]
Theo quan điểm dạy học hiện đại, sự học phải là quá trình hình thành và phát triển các dạng thức và hành động xác định của người học, đó là sự thích ứng của chủ thể với tình huống học tập thông qua sự đồng hoá (hiểu được, làm được) và sự điều tiết (có sự biến đổi của bản thân, tạo ra cái mới của chủ thể) nhờ đó người học phát triển được năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách
Việc học tập của HS là một loại hoạt động đặc thù của con người Hoạt động học tập của HS bao gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: Một bên là động cơ, mục đích, điều kiện và một bên là hoạt động, hành động và thao tác
Động cơ quy định sự hình thành và diễn biến của hoạt động Muốn thoả mãn được động cơ đó, phải thực hiện lần lượt những hành động tương ứng để đạt được những mục đích cụ thể Cuối cùng mỗi hành động được thực hiện bằng nhiều thao
Phương tiện, điều kiện
Mục đíchĐộng cơ
Thao tácHành độngHoạt động
Hình 1.1 Cấu trúc tâm lý của hoạt động học
Trang 14tác sắp xếp theo một trình tự xác định, ứng với mỗi thao tác phải sử dụng những phương tiện, công cụ thích hợp Đối tượng của hoạt động học là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần chiếm lĩnh Nội dung của đối tượng này không hề thay đổi sau khi được chiếm lĩnh, nhưng chính nhờ có sự chiếm lĩnh này mà các chức năng tâm lí của chủ thể mới được thay đổi và phát triển Kết quả của việc học tập phụ thuộc chủ yếu vàohoạt động học của HS Như vậy, nhiệm vụ chính của GV là tổ chức, hướng dẫn hoạtđộng học của HS để thông qua hoạt động đó HS lĩnh hội được nền văn hoá xã hội, tạo ra sự phát triển những phẩm chất tâm lí, hình thành nhân cách cho họ [24].Như vậy, sự học nói chung, là sự thích ứng của người học đối với những tình huống thích đáng làm nảy sinh và phát triển ở người học những dạng thức hoạt động xác định, phát triển ở người học những năng lực, thể chất, tinh thần và nhân cách cá nhân Nói riêng, sự học có chất lượng một tri thức khoa học phải là sự thích ứng của người học với những tình huống học tập thích đáng Chính quá trình thích ứng này là hoạt động của người học xây dựng nên tri thức mới với tính cách là phương tiện tối ưu để giải quyết tình huống mới Đồng thời đó là quá trình góp phầnlàm phát triển năng lực nhận thức, thực tiễn và nhân cách của người học [24].
1.1.1.3 Tổ chức các hoạt động dạy học, xác định các hình thức tổ chức dạy học
Tổ chức hoạt động dạy học là việc xác định các hoạt động của thầy và hoạtđộng của trò cũng như sự phối hợp giữa các hoạt động ấy, nhằm triển khai từngthành tố nội dung bài học.[11]
+ Xác định nội dung bài học và logic các hoạt động dạy học
Trong tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học, điều quan trọng là phải xác định rõđược logic nội dung bài học và logic của các hoạt động dạy và học Để vận hànhđược tiến trình đó, giáo viên cần phải chỉ ra những biện pháp cụ thể Các biện pháp
đó phải góp phần giải quyết được các vấn đề mà nhiệm vụ bài học đặt ra, chẳng hạn
• Làm thế nào để khởi động tư duy của học sinh, định hướng và chuyển giaonhiệm vụ học tập cho học sinh như thế nào?
• Làm thế nào để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, lôi cuốn họcsinh tham gia giải quyết vấn đề,
• Ngoài ra, giáo viên cần chuẩn bị một hệ thống các câu hỏi để điều kiển hoạtđộng nhận thức của học sinh Trong đó, ngoài câu hỏi chính cũng cần chuẩn bị
Trang 15những câu hỏi phụ nhằm giảm nhẹ những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quátrình nhận thức.
+ Xác định phương pháp dạy học
Để tổ chức các hoạt động dạy học một cách hiệu quả thì trọng tâm và điểm xuấtphát phải là hoạt động của người học Vì từ hoạt động của người học, người dạymới dự kiến cách thức hoạt động của mình, tức là lựa chọn phương pháp dạy học vàthiết kế phương pháp dạy học cụ thể Người dạy không nên làm ngược lại, tức là ýcủa mình định làm như thế nào thì ép các hoạt động của người học vào thiết kế sẵn
đó Như vậy làm cho học sinh không phát huy được tính tích cực, chủ động và sángtạo
Tuy vậy dù dạy như thế nào thì cơ cấu chung của hoạt động của người họccũng bao gồm những kiểu sau: Các hoạt động tìm tòi, phát hiện; Các hoạt động xử
lí, biến đổi và phát triển sự kiện, vấn đề; Các hoạt động ứng dụng - củng cố; Cáchoạt động đánh giá và điều chỉnh
+ Lựa chọn phương tiện dạy học phù hợp với nội dung dạy học
Việc tổ chức hoạt động dạy học còn liên quan chặt chẽ với việc lựa chọn phươngpháp dạy học và phương tiện dạy học Phương tiện dạy học là phương tiện cho họcsinh hoạt động học tập bao gồm phương tiện tinh thần và phương tiện vật chất
- Những phương tiện tinh thần cần chuẩn bị đó là những khái niệm, định luật,định lý mà học sinh đã được học trước đó Với những kiến thức đã được chuẩn bịsẵn dưới sự định hướng của giáo viên, học sinh có thể tự hình thành những kiếnthức mới Để chuẩn bị tốt những phương tiện tinh thần cho học sinh trước giờ dạyhọc, người giáo viên cần đọc kỹ bài, nắm vững chương trình môn học, hiểu rõ mốiliên hệ của bài sẽ học với những kiến thức mà học sinh đã được học trước đó
- Những phương tiện vật chất là những dụng cụ trực quan, những dụng cụ thínghiệm Chúng ta biết rằng Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với thựctiễn cuộc sống diễn ra xung quanh học sinh, dó đó không có gì thuyết phục học sinhhơn là sử dụng những gì mà các em có thể mắt thấy, tai nghe Chính vì vậy, việcquan sát thí nghiệm hoặc quan sát các hiện tượng thực tế hoặc qua dụng cụ trựcquan có vai trò đặc biệt trong việc củng cố lòng tin, từ đó phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của người học Những phương tiện vật chất có thể là những hìnhảnh, những đoạn phim quay lại các hiện tượng thực tế hoặc thí nghiệm liên quan mà
Trang 16trong điều kiện của lớp học không thể tiến hành được với sự hỗ trợ của máy vi tính(computer), máy chiếu qua đầu (overhead), projector, ; có thể là những dụng cụthí nghiệm có sẵn hoặc tự chế được phục vụ cho bài giảng; có thể là phòng học, bànghế phù hợp với tiết học.
Như vậy, để một tiết học Vật lý đạt hiệu quả cao, người giáo viên sau khi nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy học cần đầu tư tìm kiếm các phương tiện dạy học liên quan đến bài dạy và sau đó chọn lọc, sử dụng chúng sao cho hợp lý.
+ Sau khi dự kiến tổ chức các hoạt động dạy học thì giáo viên tùy thuộc vào mục tiêu, nội dung , phương pháp dạy học, điều kiện và phương tiện dạy học, đối tượng
HS để xác định hình thức tổ chức dạy học thích hợp Trong mỗi bài dạy học, trước hết phải căn cứ vào nội dung dạy học để chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp cho từng nhóm, lớp.
• Đối với những nội dung thích hợp, vừa sức, GV có thể tổ chức cho HS trao đổibằng nhiều hình thức như vấn đáp, vẽ sơ đồ, lập bảng so sánh, lập bảng thống kê
để nắm kiến thức bài học, hoặc làm các bài tập, trả lời các câu hỏi do GV yêu cầu
• Đối với những nội dung dễ gây ra nhiều ý kiến khác nhau, có thể tổ chức cho HSlàm việc theo nhóm
• Đối với những nội dung mà HS không có khả năng tự giải quyết với nhau trongnhóm (những nội dung phức tạp, khó và mất nhiều thời gian), nên tổ chức cho HSthảo luận chung theo lớp dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV Thảo luận theo lớpchỉ nên tổ chức trong một thời gian ngắn, vào những lúc thích hợp nhất, cao tràonhất của lớp học, vì đây là hình thức dạy học ít phát huy tính tích cực trong học tậpcủa HS
Các hình thức dạy học cần phải được phối hợp chặt chẽ với nhau trong một tiết dạy học, làm cho hình thức hoạt động nhận thức của HS đa dạng, các em vừa được học thầy, vừa được học bạn, vừa có sự nỗ lực cá nhân.
1.1.2 Khái niệm tự học
Kho tàng văn hoá của nhân loại là vô tận Cứ sau một chu kỳ ngắn thì tri thứctrên các lĩnh vực lai tăng lên gấp đôi Các tổ chức trong đời sống của xã hội có sựbiến đổi liên tục cả bên ngoài và bên trong Toàn cầu hoá đang diễn ra cao độ,nhưng sự gia tăng cá nhân hoá lại càng quyết liệt Để có thể đào tạo ra những conngười thích ứng với bản chất thay đổi liên tục và mau lẹ của nền kinh tế tri thức,
Trang 17cần hình thành ở người học một nếp tư duy sáng tạo, một cách ứng xử thông minh,
có bản lĩnh với các tri thức được trình bày Tức là để có thể sống và hoạt động suốtđời thì phải học suốt đời Để học được suốt đời thì phải có khả năng tự học Nănglực tự học và khả năng học tập suốt đời vốn đang là điểm yếu nhất của học sinh,sinh viên nước ta, cũng đang là ưu tiên hàng đầu trong các chương trình hoạt độngcủa tổ chức giáo dục Liên Hiệp Quốc và ở các nước hiện nay
Như vậy, tự học là một nhu cầu của thời đại
Quan niệm về tự học
Hiện nay có nhiều quan niệm về tự học
- Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm Có thầy hay không ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng.
( Nguyễn Hiến Lê – Tự học một nhu cầu thời đại – NXB Văn hoá Thông tin - tr.14)
- Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số khác, kết luận khác.( Một góc nhìn của tri thức- NXB Trẻ- tr.307).
- Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng kỹ xảo… và kinh nhgiệm lịch sử xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học.(Thái
Duy Tuyên ) [27]
- Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát,
so sánh, phân tích, tổng hợp v.v…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành luận lợi v.v…)
để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình (Nguyễn Cảnh Toàn – Quá trình dạy – tự học tr.59).[24]
- Trong Tâm lý học, tự học được coi là một hoạt động học tập đặc biệt mức độcao Khi nói đến hoạt động tự học là nói đến hoạt động nhận thức ( lý thuyết haythực hành) của người học, hoàn toàn do người học tự mình tiến hành mà không có
sự điều khiển hay hướng dẫn của người khác (hay là họat động học tập được tiếnhành hoàn toàn độc lập) Đây chính là hoạt động tự học đích thực của nó Các quanđiểm về tự học nêu trên cũng là một cách hiểu về tự học đúng nghĩa đích thực
Trang 18Trong lý luận dạy học, hoạt động học tập được xem xét theo nhiều góc độ Cónhững hoạt động học tập được diễn ra dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển trựctiếp của giáo viên, chẳng hạn như việc học tập trên lớp Đây chính là hoạt động họctập phổ biến trong nhà trường và luôn luôn đặt trong mối quan hệ biện chứng vớihoạt động dạy Tuy nhiên, hoạt động học tập cũng có thể diễn ra nhưng không chịu
sự điều khiển trực tiếp của hoạt động dạy ở trên lớp học mà có thể được diễn ra mộtcách độc lập, tư lực, do chính người học tự tổ chức tự điều khiển tự kiểm soát ởngoài lớp học ở ngoài bài giảng Người ta cũng thường gọi đó là tự học.[16]
Chẳng hạn, R.Retzke ( Đức) cho rằng: “Tự học làviệc hoàn thiện các nhiệm vụ khoa học khác không nằm trong các bước tổ chức bài giảng của giáo viên Nó là một bộ phận quan trọng của công tác khoa học trong học tập không phụ thuộc vào hình thức tổ chức (cá nhân hay tập thể) và vào mục đích khác nhau của công việc Việc tự học trong bất kỳ trường hợp nào cũng là sự tiếp thu kiến thức, tích lũy, rèn luyện kỹ năng, nâng cao trình độ…” Với quan niệm như thế, tác giả muốn cho rằng
những hoat động học tập của người học diễn ra và được tiến hành ngoài giờ họctrên lớp hướng vào việc giải quyết hay hoàn thiện các nhiệm vụ dạy học, đạt được
mục đích dạy học đều là hoạt động tự học
Cũng đã có các tác giả đã đưa ra định nghĩa tự học như sau: “Tự học là một loại hình hoạt động học tập do người học thực hiện một cách chủ động, độc lập, tự giác, không chịu sự điều khiển trực tiếp của người dạy, hướng tới hoàn thành các
nhiệm vụ dạy học và đạt được các mục tiêu dạy học đã xác định” (Khoa Tâm lý –
Giáo dục trường ĐHSP Huế – Báo cáo tổng kết đề tài Xây dựng và rèn luyện hệthống kỹ năng tự học cho sinh viên)
Các quan niệm trên đây về tự học đã nói lên được nội dung, bản chất về hoạtđộng tự học Tuy nhiên, để muốn làm rõ vai trò người học trong hoạt động tự học,
có quan niệm đã hạn chế vai trò của người thầy trong hoạt động tự học của người
học, chẳng hạn “có thầy hay không ta không cần biết Người học hoàn toàn tự làm chủ mình…”, “không chịu sự điều khiển trực tiếp của người dạy” Trong xã hội
cũng đã có những tấm gương tự học hoàn toàn mà không có trực tiếp với thầy, song
đó là những trường hợp hiếm Những quan niệm coi tự học là việc người học họcbài, làm bài tập, ôn tập, trao đổi bài ngoài giờ lên lớp cũng chưa nêu lên được bảnchất đích thực của tự học
Trang 19Từ những quan niệm về tự học nêu trên, có thể rút ra được những tính chất đặctrưng cơ bản của tự học như sau:
- Tự mình tổ chức xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập với ý thứctrách nhiệm
- Tự quyết định trong việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt độnghọc tập Chú ý đến cách thức học tập: bởi vì kiến thức có thể thay đổi kỹ năng cóthể thay đổi theo tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
- Tự lựa chọn các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Tự học chuẩn bị cho việc học suốt đời
Nói đến tự học là nói đến nội lực của người học và ngoại lực của người học.Nội lực của người học bao gồm các yếu tố: một nền tảng học vấn nhất định; mụcdích, động cơ, nhu cầu học,ý chí , nghị lực học tập; phương pháp học tập hiệu quả;khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng; tận dụng những thuận lợi, khó khăn để tựhọc tốt Ngoại lực của người học là toàn bộ các yếu tố của các cơ chế, môi trường,điều kiện, phương tiện… có liên quan đến tư học Ngoại lực chính là quá trìnhnhững chuyển đổi bên ngoài, nội lực là quá trình những chuyển đổi bên trong củangười học, hai quá trình này là hai mặt thống nhất và đối lập nhau tạo nên sự pháttriển của tự học
Từ những điều đó, ta có thể kết luận tự học như sau:
Khái niệm về tự học
Tự học là hoạt động độc lập người học nhằm chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo,… và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học.
1.1.3 Vai trò của tự học
Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão và cùng với nó là sựbùng nổ thông tin, việc tự học có vai trò vô cùng quan trọng Tự học được xem là
“chìa khóa vàng” giúp con người đã và đang bước vào thiên niên kỷ mới với trình
độ khoa học - công nghệ hiện đại Việc tự học giúp con người không ngừng nângcao hiểu biết, cập nhật tri thức nghề nghiệp, phát huy được năng lực của bản thântrong lao động và sáng tạo
Đối với học sinh, tự học giúp đúc rút phương pháp học tập phù hợp, biết cách
tư duy sáng tạo, biện luận một vấn đề nào đó, năng động linh hoạt trong vận dụng
Trang 20kiến thức vào giải quyết cỏc tỡnh huống thực tế Đồng thời, tự học giỳp người học
bổ sung, đào sõu, hệ thống húa, khỏi quỏt húa những điều đó học, cú tỏc dụng quyếtđịnh đến kết quả học tập, phỏt triển và củng cố năng lực nhận thức, sức mạnh ý chớ,nghị lực và những phẩm chất cần thiết của việc tổ chức lao động học tập Ngoài ra,
tự học cũn giỳp người học rốn luyện tớnh độc lập, rốn luyện trớ nhớ và tư duy Chớnh
vỡ vậy, nờn ngay trong cỏc điều: 4, 24, 36 của Luật giỏo dục qui định rất rừ: "Tự học
là một vấn đề quan trọng trong phương phỏp giỏo dục của cỏc bậc học, cỏc ngành học" Và điều 46 ghi rừ: ”Việc học liờn tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhõn cỏch, mở rộng hiểu biết, nõng cao trỡnh độ học vấn, chuyờn mụn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tỡm việc làm và thớch nghi với đời sống xó hội” Giỏo
dục - đào tạo theo hướng phỏt triển tự học sẽ tạo ra được những con người năngđộng, sỏng tạo, cú khả năng cụng tỏc và cú thể đưa ra nhiếu lý tưởng phỏt triển tốtcho mỗi ngành nghề gúp phần vào sự phỏt triển của xó hội.[20]
Trong nhà trường PT, tựy vào đặc điểm của từng mụn học mà việc rốn luyệnphương phỏp tự học của học sinh củng cú nột đặc thự riờng Vật lý học là một bộmôn khoa học thực nghiệm, nghĩa là nội dung của bộ môn gắn bó chặt chẽ với các
sự kiện thực tế và có ứng dụng rộng rãi trong đời sống kỹ thuật Vỡ vậy vật lý so vớicỏc bộ mụn khỏc cú đặc điểm cơ bản đú là tư duy, thực tiển Chớnh những đặc điểmnày cú tỏc dụng khụng nhỏ đến việc rốn luyện kỷ năng tự học và tổ chức hoạt động
tự học cho học sinh
1.1.4 Năng lực tự học
Theo từ điển Tiếng Việt thỡ: “Năng lực là phẩm chất tõm lớ và sinh lớ tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đú với chất lượng cao” [23].
Xột theo sự chuyện mụn húa, năng lực gồm hai loại: năng lực chung và nănglực riờng Năng lực chung là những năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khỏcnhau; năng lực riờng là những năng lực cú tớnh chuyờn mụn nhằm đỏp ứng nhu cầucủa một lĩnh vực chuyờn biệt nào đú
Vớ dụ, năng lực sư phạm của một GV sẽ cú những đặc điểm sau: cú kiến thứcchuyờn mụn sõu, rộng, vững vàng, cú lũng yờu nghề, yờu trẻ, biết ứng xử nhanhnhạy trong những tỡnh huống sư phạm, ngụn ngữ phong phỳ, phong cỏch tự tin, cúđầu úc tổ chức, cần mẫn, kiờn trỡ,…
Trang 21Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động hoặc quan hệnhất định nào đó Cấu trúc của năng lực gồm ba bộ phận cơ bản: tri thức về lĩnh vựchoạt động hay quan hệ đó; kĩ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử vớiquan hệ nào đó; những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng đótrong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng.
Như vậy, có thể nói năng lực là sự kết hợp linh hoạt, độc đáo của nhiều đặcđiểm tâm lí, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi, giúp cá nhân tiếp thu dễdàng, tập dượt nhanh chóng và hoạt động hiệu quả trong một lĩnh vực nào đó
Theo PGS TS Lê Công Triêm: “Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi,
nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng
cao” [ 25 ]
Năng lực tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất tâm sinh lí của conngười, vừa như là cái tự nhiên bẩm sinh “vốn có”, vừa như là sản phẩm của lịch sử,hơn nữa là sản phẩm của lịch sử phát triển xã hội Năng lực tự học là cái vốn có củamỗi con người nhưng phải được đào tạo, phải được rèn luyện trong hoạt động thựctiễn mới trở nên một sức mạnh thật sự của người học
Như vậy, năng lực tự học có thể được hiểu là: phẩm chất sinh lí và tâm lí tạocho con người khả năng hoàn thành hoạt động học tập với chất lượng cao
Như chúng ta biết, quá trình đào tạo ở trường phổ thông chỉ là sự đào tạo banđầu, là nền tảng cho những quá trình đào tạo tiếp theo như đào tạo Đại học, Sau đạihọc… Trong quá trình đào tạo đó thì tự học, kĩ năng tự học và năng lực tự học củamỗi HS sẽ đóng vai trò quyết định đến sự thành đạt của các em trong tương lai Vìvậy, các kĩ năng tự học, năng lực tự học của HS nếu được hình thành trên cơ sở nắmvững các kiến thức trong chương trình đào tạo ở phổ thông sẽ là tiềm lực để các em
tự học suốt đời
1.1.5 Kĩ năng tự học
1.1.5.1 Khái niệm kĩ năng
Theo Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt: “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” [15].
Kĩ năng có bản chất tâm lí nhưng có hình thức vật chất là hành vi hoặc hànhđộng Kĩ năng chính là biểu hiện của năng lực vì dựa vào kĩ năng có thể biết đượcnăng lực của người học một cách cụ thể
Trang 221.1.5.2 Hệ thống các kĩ năng tự học
Những kiến thức và kĩ năng cần thiết cho cuộc sống và lao động của con ngườitrong xã hội hiện đại đang ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng Trong quátrình dạy học, những kiến thức và kĩ năng trong chương trình SGK tuy đã đượcchọn lọc cẩn thận, tuy nhiên không thể đầy đủ nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống.Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, GV nên coi trọng việc rèn luyện kĩ năng cho
HS, nhất là kĩ năng tự học ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức cho HS Nếunhư trong nhà trường, GV chỉ dạy HS những nguyên tắc đại cương, thì khi vào đờicác em sẽ không ứng xử được những tình huống phức tạp và đa dạng Thực tế đó,đặt ra cho GV nhiệm vụ phải rèn luyện những kĩ năng tự học cho HS bên cạnh việctruyền thụ kiến thức, để các em có cơ hội tự hoàn thiện bản thân mình nhằm đápứng những nhu cầu của thực tiễn
Thực tế cho thấy một kĩ năng nào đó thường là tổ hợp của nhiều kĩ năng conhợp thành Kĩ năng tự học cũng không nằm ngoài quy luật đó, cũng bao gồm nhiều
kĩ năng khác hợp thành, mà có thể chỉ ra là [4], [5]: kĩ năng thu thập thông tin, kĩnăng xử lí thông tin và kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn
- Kĩ năng thu thập thông tin
Trước sự đa dạng và phong phú thông tin như hiện nay thì việc chọn lọc thôngtin tự học là hết sức quan trọng vì quá trình tự học được bắt đầu từ đây Thông tinnày được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: quan sát thực tiễn xungquanh, quan sát thí nghiệm, hình vẽ, đọc sách, nghe GV giảng, ghi chép và ghi nhớ,nghe và thu thập thông tin từ bạn học, từ mọi người xung quanh, từ các phương tiệnnghe - nhìn, truy cập trên mạng internet … Ngày nay, tri thức vật lí hiện có khốilượng đồ sộ và thuộc nhiều lĩnh vực chuyên sâu khác nhau Vì vậy để người học cóthể lựa chọn đúng, đủ, chọn cái thật sự cần thiết, chọn những thông tin liên quantrực tiếp, gián tiếp … để phục vụ cho việc tự học có hiệu quả thì đòi hỏi người họcphải có một kĩ năng thu thập thông tin Thông qua các hoạt động thu thập thông tin
đó thì các kĩ năng thu thập thông tin tương ứng sẽ được hình thành
Nhờ những kĩ năng quan sát như vậy, HS sẽ nhanh chóng nắm bắt các quyluật, nhanh chóng nắm bắt và phát hiện vấn đề
Đối với những thông tin từ sách, từ thầy giáo, từ bạn bè … những thông tinnày có thể đã ở dạng là những kết luận, những khái niệm, những quy tắc, những
Trang 23định luật thì kĩ năng thu thập thông tin đòi hỏi người học cần biết chọn lọc thôngtin, thu thập đầy đủ những thông tin cần thiết Những thông tin này được sắp xếptheo hệ thống, một trình tự logic, biết phân tích, nhóm ý chính, ý phụ, ý nào bổ sungcho ý nào Từ đó các em sẽ hiểu được từng từ, từng ý, từng đoạn, và hiểu ý của tácgiả đồng thời luôn có sự liên hệ, đối chiếu những thông tin thu nhận được với vốnhiểu biết của các em và với thực tiễn.
Kĩ năng thu thập thông tin còn thể hiện ở kĩ năng sắp xếp thông tin Nhờ các kĩnăng này mà việc xử lí thông tin của các em sẽ dễ dàng hơn
- Kĩ năng xử lí thông tin
Sau khi thu thập thông tin thì bước tiếp theo là người học phải xử lí nhữngthông tin thu nhận được Thông tin sau khi xử lí thì mới có thể sử dụng được, khitiến hành xử lí thông tin thì người học phải biết phân loại và sắp xếp các thông tintheo một ý đồ và một mục đích nhất định
Bởi lẽ đó, để tự thu nhận được kiến thức và có thể vận dụng vào trong thựctiễn, người học cần phải sắp xếp những kiến thức thu nhận một cách có hệ thống.Muốn vậy, khi xử lí thông tin, người học phải thực hiện một loạt các thao tác trí tuệnhư: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, suy luận diễn dịch,… Từ đó,những kĩ năng xử lí thông tin tương ứng như: kĩ năng phân tích, kĩ năng tổng hợp,
kĩ năng so sánh, kĩ năng khái quát hóa … sẽ được hình thành và phát triển
Quá trình tự học không phải chỉ thu nhận tri thức mà cần biến những tri thứcnày thành tri thức của riêng bản thân người học Quá trình này, đòi hỏi người họcphải biết phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa…Như vậy, kĩnăng xử lí thông tin trong tự học liên quan mật thiết với các kĩ năng tư duy Vì thếviệc rèn luyện các kĩ năng xử lí thông tin không thể tách rời với việc rèn luyện các
kĩ năng sử dụng các thao tác tư duy Điều này càng đòi hỏi phải đề cao vai trò chủđộng, tích cực của người học trong quá trình dạy học nói chung
Người học có khả năng xử lí thông tin tốt sẽ làm cho những thông tin thu đượcvững chắc, đồng thời sẽ tạo điều kiện cho việc thu thập thông tin tiếp theo hiệu quảhơn, việc thu thập thông tin tốt có vai trò quan trọng đến kết quả của khâu xử líthông tin
Như vậy, có thể nói, thu thập và xử lí thông tin là hai hoạt động diễn ra đanxen nhau, tiếp nối nhau và có thể tạo thành một chuỗi các sự đan xen, tiếp nối Qua
Trang 24nhiều thao tác thu thập và xử lí thông tin đó, người học sẽ nhận ra được các dấuhiệu bản chất của vấn đề, từ đó tìm ra những quy luật của hiện tượng và sẽ giảiquyết được vấn đề [4],[5]:
- Kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn
Vận dụng thông tin là bước tiếp theo và tất yếu của thu nhận và xử lí thông tin.Sau khi thu nhận và xử lí thông tin, người học có thêm những tri thức mới, tuynhiên nếu không được sử dụng thì những tri thức đó sẽ bị lãng quên hoặc mai một
Vì thế, việc vận dụng tri thức vào thực tiễn vừa là mục đích tự thân của việc học,vừa là quá trình bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân Vận dụng trithức vào thực tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có để giải quyết các vấn
đề thuộc về nhận thức Đồng thời cũng sẽ vận dụng những kiến thức đó vào thựctiễn sản xuất đời sống, sinh hoạt hàng ngày Chẳng hạn như: lắp đặt, sửa chữa cácmạng điện đơn giản trong gia đình, giải thích các hiện tượng gần gũi trong cuộcsống như hiện tượng sấm sét, hiện tượng cầu vồng, hiện tượng dính ướt và khôngdính ướt,…
Như vậy, khi tự học, kết quả cuối cùng của việc học đó là người học với nhữngkiến thức thu nhận được sẽ vận dụng ngay vào thực tiễn cuộc sống, cải tạo thựctiễn Khi người học có kĩ năng vận dụng tốt thì người học sẽ nghiên cứu, khám phá,thu nhận thêm kiến thức mới trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có
- Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình tự học, người học tự mình tìm tòi và thu nhận kiến thức, chonên kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá là một kĩ năng quan trọng Kĩ năng này sẽ thựchiện chức năng hỗ trợ là chẩn đoán, điều chỉnh cho những kĩ năng trước đó, từ đó sẽgiúp cho quá trình tự học của các em trở nên có hiệu quả hơn
Việc tự học của HS là một quá trình diễn ra một cách thường xuyên và lâu dài,thường mang yếu tố tự phát và tự giác Bởi vậy, cần phải có quá trình tự kiểm trađánh giá để các em tự hoàn thiện, tự bổ sung kiến thức và kĩ năng của mình Chính
vì vậy, người học cần có kĩ năng tự kiểm tra đánh giá, nó có tính chất thúc đẩy,củng cố, mở rộng vốn kiến thức, chỉnh lí, sửa chữa và nâng cao kiến thức của chínhbản thân người học
Đối với HS thì trong hoạt động học tập các em sẽ không tránh khỏi những saisót, hiểu sai lệch vấn đề Tuy nhiên, nếu các em tự nhận ra sai sót, dám nhìn nhận
Trang 25vào vấn đề mà chỉnh sửa những sai sót, những quan niệm sai lệch và sẽ nâng caohiệu quả tự học khi có quá trình tự kiểm tra đánh giá song hành.
1.1.5.3 Hệ thống kỹ năng tự học vật lý
Quá trình tự học môn vật lý không thể thiếu những kỷ năng sau: [27]
+ Kỹ năng nghe giảng kết hợp với ghi bài Đây là một kỹ năng quan trọng vàphổ biến đối với hoạt động tự học nói chung và đặc biệt là đối với hoạt động tự họcVật lý nói riêng Bởi lẽ các bài giảng của môn Lý thường có nội dung mạchlạc,logic và chặt chẽ Vì vậy học sinh cần tập trung nghe giảng để nắm được logiccủa bài củng như các bước chuyễn tiếp và cách giải quyết vấn đề ,bên cạnh đó họcsinh nắm được bản chất sự vật, hiện tượng và ý nghĩa vật lý của đại lượng vật lýnào đó.Từ đó, HS ghi chép lại các dung đó vào vở và có thể ghi theo cách hiểu củamình Nhờ đó mà ngay sau giờ học, HS có thể nắm được nội dung của bài và hơnnữa khi tiến hành học bài ở nhà thì vở ghi sẽ là tài liệu học tập rất tốt cho HS gópphần nâng cao hiệu quả học tập
+ Kỹ năng đọc sách Đặc biệt trong môn lý, kỷ năng đọc sách là một kỹ năngphổ biến của học sinh PT SGK là tài liệu chính thống và cơ bản, tất cả nội dungđều được trình bày rõ ràng tỉ mỉ và có hệ thống Vì vậy trước mỗi buổi lên lớp HS
có thể đọc 1-2 lượt bài học trong SGK để biết được vấn đề sẽ được nghiên cứutrong giờ giảng tới từ đó các em có thể dễ dàng tiếp thu kiến thức mới nâng caochất lượng giờ học
+ Kỹ năng thực hành sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, lắp ráp thí nghiệm theoyêu cầu của GV hoặc tự nghĩ phương án thí nghiệm và lắp ráp, xữ lý kết quả thínghiệm để tiến hành thí nghiệm rút ra các kiến thức của bài học theo yêu cầu của
Gv Khả năng tự đề xuất phương án thí nghiệm để đưa ra kiến thức liên quan đếnbài học
+ Kỹ năng thực hiện các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, sosánh, suy luận, khái quát hóa: HS phải biết phân tích chia nhỏ vấn đề để giải quyết
từ đó HS dể dàng tiếp thu Điều này càng thấy rỏ khi học sinh xây dựng một địnhluật nào đó hay quá trình vận dụng làm bài tập Bên cạnh đó HS còn phải biết kỹnăng tổng hợp, tức là từ những vấn đề nhỏ HS phải biết liên kết chúng lại để trởthành một chỉnh thể kiến thức thống nhất
Trang 26+ Kỹ năng tư duy logic, sử dụng ngôn ngữ chính xác, khã năng suy đoán tưởngtượng,
+ Kỹ năng quan sát, đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi.
1.1.6 Thuận lợi và khó khăn của tự học
* Thuận lợi:
+ Học sinh là chủ thể nhận thức, tri thức lĩnh hội được trở nên chắc chắn+ Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho HS như: Làm việc với sách, tài liệu, kĩ năng
tự học, kĩ năng nghiên cứu
+ Rèn luyện các thói quen đọc sách, các phẩm chất đặc biệt như tính độc lập,tính chủ động, tính khoa học, tính phê phán, tính ham hiểu biết
+ Học sinh có điều kiện để mở rộng kiến thức ngoài chương trình, không chỉgiới hạn bởi giáo trình hay bài giảng của giáo viên
* Khó khăn:
+ Cần phải có quỹ thời gian rộng
+ Tốc độ dạy học chậm
+ Học sinh khi phải làm việc với các tài liệu mới, khó, phức tạp, hoặc không
có tính sư phạm dễ nản, buông xuôi
+ Khó áp dụng đối với học sinh chưa được rèn luyện nhiều các kĩ năng làmviệc với sách hay kĩ năng tự học
1.1.7 Phân loại tự học
Có nhiều cách tự học khác nhau như [24]:
-Tự học giáp mặt: Những hoạt động học như nghe giảng, ghi chép bài, thảo
luận nhóm, làm việc với sách, làm thí nghiệm, quan sát…của HS, được HS thựchiện một cách chủ động, tích cực thì đều được gọi là hoạt động tự học, hoạt độngnày diễn ra ngay trong quá trình dạy học với sự điều khiển trực tiếp của GV đứnglớp nên gọi là tự học giáp mặt
-Tự học không giáp mặt: Đó là sự tự học không có sự điều khiển trực tiếp của
GV mà do HS tự mình độc lập tiến hành với sự hỗ trợ của các phương tiện học tập
để tự mình chiếm lĩnh tri thức và tự mình đạt được các mục đích, nhiệm vụ học tập
Tự học loại này có thể tồn tại ở ba mức:
Trang 27+Tự học mức cao: Người học tự học qua sách, qua các phương tiện thông
tin Người học tự học tập một cách độc lập hoàn toàn
+Tự học với sự hướng dẫn (hay điều khiển từ xa): Người học có sách giáo
khoa, có các tài liệu hướng dẫn học tập hay có sự hướng dẫn thông qua các phươngtiện thông tin như băng ghi hình, ghi tiếng, ti-vi, mạng, các phần mềm dạy học…Sựhướng dẫn tự học chủ yếu là sự hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh tri thức,hướng dẫn phương pháp học tập, hướng dẫn tra cứu, hướng dẫn thí nghiệm Dưới
sự hướng dẫn từ xa ấy, người học tự mình tiến hành các hành động học tập để hoànthành các nhiệm vụ học tập Hiện nay hình thức tự học này rất được khuyến khíchnhưng chất lượng của nó là vấn đề cần quan tâm
+Tự học có sự hướng dẫn trên lớp của thầy: HS nhận nhiệm vụ và tự học ở
nhà để tự mình hoàn thành các nhiệm vụ học tập Có thể gọi hình thức này là tự học
có hướng dẫn hay tự học sau giờ lên lớp
Tựu trung, tự học là hoạt động của bản thân người học tự chiếm lĩnh các kiếnthức, kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác, chủ động, tự lực và tích cực Tự học có nhiềuhình thức khác nhau:
- Tự học trên lớp có tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của giáo viên
- Tự học ngoài lớp không có sự điều khiển, tổ chức của giáo viên
Hai mức độ trên nhằm vào việc học những nội dung được qui định trongchương trình mà người học theo đuổi
Hình thức thứ 3 của tự học là người học tiến hành tự học một cách tự giácnhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, mở rộng, đào sâu, bổ sung kiến thức văn hóachung của bản thân Những kiến thức này nằm ngoài chương trình bắt buộc Việctìm hiểu là do nhu cầu hiểu biết, nâng cao của người học
1.1.8 Các hình thức tổ chức tự học
a Tự học hoàn toàn (không có GV):
Thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặpnhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tựhọc, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình Từ đó HS dễ chán nản vàkhông tiếp tục tự học
b Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập:
Trang 28Thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việcthường xuyên của HS phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăngcường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
c Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa):
HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, khôngđược hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự họcnày, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình
d Tự học qua tài liệu hướng dẫn:
Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quảsau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khiđạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu
tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai
e Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở
lớp:
Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn sử dụng SGKvật lý như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hướngdẫn về phương pháp học [27]
1.1.9 Quy trình tổ chức hoạt động tự học theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh
Quy trình tự học được minh họa bằng sơ đồ sau tự học như sau: [24]
NGƯỜI DẠY HOẠCH ĐỊNH
NGƯỜI HỌC
KIỂM TRA
Trang 29Bước 1: GV giao nhiệm vụ cho học sinh theo từng đơn vị kiến thức chuẩn (tự học ở
trên lớp có hướng dẫn của GV)
- Giáo viên xác định được mục tiêu của bài học theo chuẩn kiến thức và kỷnăng, nội dung kiến thức phải ít nhất đạt chuẩn
- Tùy theo đối tượng của học sinh (trình độ) để giáo viên đặt câu hỏi, giaonhiệm vụ cho học sinh vừa sức
- Nội dung câu hỏi phải đảm bảo cho học sinh tự khám phá trên cơ sở có địnhhướng của giáo viên
Bước 2: HS xây dựng kế hoạch học tập của người học Người học là người tự chủ
trong lựa chọn phương pháp học, sự tự chủ này thể hiện ở chỗ ngay từ khi bắt đầuhọc đã tiềm ẩn một hứng thú hiển nhiên và trong suốt quá trình học đảm bảo một sựthực hiện liên tục đầy tinh thần trách nhiệm Hứng thú của người học phải dựa vàolòng tự tin Người học cần có cảm giác sâu sắc là có khả năng thực hiện thành côngviệc học, phải tin vào khả năng và cách làm việc của bản thân Tham vọng vượt quachính mình cũng có thể trở thành một nguồn hứng thú có giá trị đối với người học.Người học phải có nhu cầu, động cơ học tập, hiểu được ý nghĩa quan trọng của vấn
đề học tập
Để việc học tập có hiệu quả, người học phải hoạch định một tiến trình học tập,phải chọn đúng nội dung trọng tâm, sắp xếp thời gian hợp lý, dự định lựa chọn cáchhọc hiệu quả, dự định lựa chọn tài liệu và các phương tiện thiết bị cho việc học.Đối với những học sinh phổ thông thì mục đích học tập, nhiệm vụ học tập đãđược xác định rõ Việc tạo ra sự tư tin, mục đích, động cơ, kích thích hứng thú là ở
sự tự chủ của học sinh có sự hỗ trợ của nhà trường, thầy giáo Nhưng sự hỗ trợ,hướng dẫn của thầy phải trên định hướng giúp cho họ có tiềm lực để học suốt đờisau này
Bước 3: Tiếp theo là giai đoạn người học thực hiện kế hoạch học tập
Đây là giai đoạn quyết định sự thành công của việc học Giai đoạn này bao gồmcác công việc: làm việc với sách, tài liệu, nghe giảng, làm thí nghiệm, luyện tập,xemina, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề Ở giai đoạn này người học phải vận dụngnhững kỹ năng học tập có thể có được để thực hiện tố kế hoạch học tập Đó là nhữngnhóm kỹ năng như:
Trang 30a Kỹ năng về tri thức: ghi chép bài học, tóm tắt (hệ thống, tự liên hệ thông tin mới với thông tin đã học), xây dựng sơ đồ, phân loại, phân tích, so sánh, tổng hợp,
trừu tượng hoá, khái quát hoá, tương tự, quy nạp – diễn dịch , và thay thế tức là tựhành động tìm những thông tin khác để so sánh và dùng mới thay cũ, đầu tư côngsức
b Những kỹ năng về cảm xúc và những kỹ năng về xã hội: hợp tác trongnhóm và lớp (hay kỹ năng làm việc với người khác), đặt câu hỏi, tự trao đổi với bản
thân mình (self – talk), tự đánh giá để củng cố, tập trung, kỹ năng lựa chọn, …
c Kỹ năng chuyển đổi tri thức: đó là các kỹ năng hoạch định, chú ý có địnhhướng, chú ý có chọn lọc, tự quản lý, tự đánh giá, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn
đề, kỹ năng tự vận dụng phương pháp học tập thích hợp,…
Bước 4: Kiểm tra
- Trong tiến trình học tập, người học phải tự chủ động kiểm tra việc thực hiện kếhoạch học tập của mình Việc kiểm tra sẽ thể hiện trách nhiệm của mình, không dựadẫm vào người khác Tự kiểm tra đánh giá sẽ giúp người học tự ý thức về khả năngcủa mình, củng cố vững chắc động cơ học tập cá nhân, tạo thêm hứng thú Việc tựkiểm tra đánh giá của hoc sinh cần có sự hỗ trợ của nhóm học, của giáo viên, củaphương tiện thiết bị Người học phải biết so sánh, đối chiếu các kết luận của bảnthân với kết luận của giáo viên, của bạn, của tài liệu, biết phân tích tổng hợp, thểchế hoá, biết kiểm tra tính bền bỉ trong việc thực hiện kế hoạch
- Giáo viên yêu cầu cá nhân học sinh hoặc nhóm học sinh trình bày sau khi nhậnnhiệm vụ từ giáo viên Đánh giá, nhận xét rút ra kết luận của giáo viên
Bước 5: Hoạt động điều chỉnh là một hoạt động hết sức quan trọng của tự học.Người học phải tự sửa sai, phải biết bổ sung thêm phương pháp học, bổ sung thêmkiến thức cần thiết, tìm kiếm thêm tài liệu, phải biết hệ thống hoá Người học phảibiết rút kinh nghiệm về cách học, về cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề củamình, về cách đánh giá, phải tìm hiểu thêm về chuẩn đánh giá…
Các giai đoạn nêu trên không tách rời nhau mà đan xen nhau và liên hệ vớinhau một cách biện chứng Cần phải khẳng định rằng người học đây là “ngườibiết”, tức là họ đã có một nền tảng tri thức nào đó Quá trình tự học là một quá trìnhphủ định biện chứng liên tục, là quá trình giải quyết các mâu thuẫn tạo nên quá trìnhchuyển đổi bên trong người học, là quá trình tích luỹ tri thức để người học đi đến
Trang 31một trình độ cao hơn Trên từng bài học, từng đơn vị học trình kiến thức hay từngphân môn, hay một khoá học đều chứa đựng vòng tròn tự học bắt đầu từ hoạch địnhtiến trình học tập có sự hỗ trợ của thầy sang giai đoạn thực hiện, vừa tự thực hiệnvừa kiểm tra, tự điều chỉnh và lại hoạh định cho một kế hoạch mới Quá trình này
cứ diễn ra liên tục, liên tục, vòng tròn sau kế thừa vòng tròn trước và có một trình
độ dường như cao hơn, quá trình phát triển này theo con đường xoắn ốc nhiều tầng,nói lên sự tự học, học suốt đời của mỗi con người
* Một số ví dụ về tổ chức tự học
Ví dụ về tự học với sự hướng dẫn của GV:
Trong bài “ Định luật II Niwton” vật lý 10
GV: Xem sgk từ đó hãy nêu khái niệm về lực dựa vào khái niệm gia tốc?
Lực là đại lượng vectơ đặc trưng cho tác dụng của vật này lên vật khác màkết quả là gây ra gia tốc cho vật hoặc làm cho vật bị biến dạng
GV: Xem sgk từ đó hay cho biết Vectơ lực có những đặc điểm gì?
Như ta đã biết: trong toán học muốn tìm tổng hai vectơ ta dùng quy tắc hìnhbình hành Đó là tính chất cơ bản của vectơ Mà lực là đại lượng vectơ, liệu ta có
thể áp dụng quy tắc này cho hai lực được không?
Ví dụ về tự học thông qua tài liệu:
HS tự tìm hiểu qua sách vấn đề sau:
Ví dụ bài: “Thấu kính mõng” vật lí 11
Sau khi ở trên lớp GV đã hướng dẫn HS cách vẽ ảnh của 1 vật qua TKHT,TKPK
Đó là vẽ 2 trong 4 tia sau ( HS đã học ở lớp)
GV yêu cầu HS về nhà vẽ các trường hợp còn lại ( vật ở trong OF, tại F, …)
1.2 Tổ chức hoạt động tự học với sự hổ trợ của TN và PTTQ
Trang 32Thí nghiệm vật lí có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quátrình dạy học: đề xuất vấn đề nghiên cứu, hình thành kiến thức kĩ năng mới, củng cốkiến thức, kĩ năng đã thu được và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS
Ở giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu, thí nghiệm vật lí được sửdụng để đề xuất vấn đề cần nghiên cứu Đặc biệt có hiệu quả là việc sử dụng thínghiệm vật lí để tạo tình huống có vấn đề Kết quả của những thí nghiệm được
sử dụng trong giai đoạn này thường mâu thuẩn với kiến thức, kinh nghiệm cósẳn của HS, do đó tạo nhu cầu hứng thú tìm tòi kiến thức mới của HS Tronggiai đoạn hình thành kiến thức mới, thí nghiệm sẽ cung cấp một cách có hệthống các cứ liệu thực nghiệm, để từ đó khái quát hóa quy nạp, kiểm tra đượctính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả logic rút ra từ giả thuyết đã đề xuất,hình thành kiến thức mới Trong giai đoạn củng cố kiến thức, kĩ năng của HSthí nghiệm vật lí có vai trò không những kiểm tra kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo màcòn đánh giá khả năng tự lực, sáng tạo của HS trong quá trình thí nghiệm
Theo quan điểm của lí luận nhận thức, thí nghiệm là phương tiện của việc thunhận tri thức, là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức, và là phươngtiện để vận dụng tri thức vào thực tiễn [ 6 ], [ 7]
1.2.3 Các loại thí nghiệm trong dạy học vật lí
1.2.3.1 Thí nghiệm biểu diễn
Là các thí nghiệm giáo viên giới thiệu một cách tương đối nhanh với học sinh chủyếu về mặt định tính các hiện tượng, quá trình và các qui luật nghiên cứu, cấu tạo vàhoạt động của một vài dụng cụ và thiết bị kỹ thuật, những cái mà học sinh có thểcảm thụ được bằng mắt và tai
Thí nghiệm biểu diễn có thể phân ra thành 3 loại:
+ Thí nghiệm mở đầu: nhằm mục đích đề xuất vấn đề nghiên cứu
+ Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng: nhằm mục đích xây dựng hoặc chứngminh kiến thức mới
+ Thí nghiệm cũng cố: cho học sinh vận dụng kiến thức đã học giải thích dựđoán hiện tượng, qua đó nắm vững kiến thức đã học
1.2.3.2 Thí nghiệm học sinh
a) Thí nghiệm trực diện đồng loạt của học sinh
Trang 33Thí nghiệm do học sinh trực tiếp tiến hành đồng loạt chủ yếu là kiểm tra tính đúngđắn của các hệ quả lý thuyết Giúp cho học sinh hoàn thiện kiến thức đã học, rènluyện kỹ năng và thói quen khi sử dụng các dụng cụ.
b) Thí nghiệm thực hành vật lí
Cũng được dùng vào mục đích như thí nghiệm trực diện Nhưng mức độ tự lực củahọc sinh ở đây cao hơn, họ áp dụng kiến thức vào những điều kiện mới Tạo khảnăng ôn tập kiến thức đã học ở mức độ cao hơn, làm quen với các yếu tố tự lựcnghiên cứu thực nghiệm
c) Các bài toán thực nghiệm
Các bài toán thực nghiệm đòi hỏi phải tìm tòi bằng thực nghiệm tự lực những sốliệu khởi đầu để giải quyết về mặt lý thuyết các bài toán đó và kiểm tra tiếp theobằng thực nghiệm tính đúng đắn của kết quả thu được
1.2.3.3 Những yêu cầu về sử dụng TN
1.2.3.3.1 Những yêu cầu chung về việc sử dụng thí nghiệm
Cần xác định rõ sơ đồ thí nghiệm và mục đích của thí nghiệm (dụng cụ thiết bị nào?trình tự thao tác như thế nào? cần quan sát, đo đạc cái gì? để làm gì?)
Thí nghiệm phải thành công, có kết quả rõ ràng
Mọi dụng cụ thiết bị và cách tiến hành thí nghiệm phải thỏa mãn những qui tắc và
kỹ thuật an toàn
1.2.3.3.2 Yêu cầu đối với thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
Cần đảm bảo cho học sinh ý thức được sự cần thiết tiến hành thí nghiệm, mục đíchthí nghiệm, phương án thí nghiệm và tham gia vào quá trình quan sát thí nghiệm,phân tích kết quả
Cần tiến hành thí nghiệm đúng lúc trong mối quan hệ hữu cơ với giảng bài vàhướng dẫn học sinh học tập
Trang 34Tạo điều kiện sao cho các phần căn bản, các chi tiết quan trọng của thiết bị dụng cụđều được học sinh trong lớp nhìn rõ Đảm bảo cho học sinh quan sát được rõ ràngcác hiện tượng biểu diễn.
Thí nghiệm phải ngắn gọn và đảm bảo thành công.[21]
1.2.3.3.3 Yêu cầu đối với thí nghiệm trực diện của học sinh
Có thể sử dụng thí nghiệm trực diện trong thời gian ngắn 5-10 phút nhằm tích cựchóa hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình giáo viên giảng giải kiến thứcmới VD (Nghiên cứu hoạt động của một số dụng cụ nào đó: lực kế, biến trở, …hoặc xác định gần đúng một đại lượng vật lí như tiêu cự của thấu kính…) hoặcdùng kiểm nghiệm một qui luật nào đó
Công việc thí nghiệm cần được tiến hành đồng thời với cả lớp
Những chỉ dẫn của giáo viên trong tiến trình thí nghiệm là cần thiết
1.2.3.3.4 Yêu cầu đối với thí nghiệm thực hành của học sinh
Thí nghiệm thực hành khi học sinh đã có những kỹ năng thí nghiệm ban đầu và cácthí nghiệm trực diện
Để làm thí nghiệm thực hành học sinh được chia thành từng nhóm từ 2-3 học sinh.Mỗi nhóm nhận một bài riêng và bản hướng dẫn thực hiện Nội dung bản hướngdẫn bao gồm các điểm sau:
+ Đề tài thí nghiệm
+ Mô tả dụng cụ, thiết bị
+ Trình tự thao tác tiến hành thí nghiệm
+ Sơ đồ ghi các kết quả quan sát và phương pháp xử lý kết quả
+ Những câu hỏi phải hiểu sâu sắc thí nghiệm mới trả lời được và đôi khi có thể đề
ra thí nghiệm bổ sung
+ Nội dung cần viết báo cáo thí nghiệm [10]
1.2.4 Thí nghiệm đối với quá trình tổ chức hoạt động tự học
Vật lý học là môn khoa học thực nghiệm, vì vậy, sử dụng rộng rãi các thínghiệm vật lý ở nhà trường trung học phổ thông hiện nay là một trong những biệnpháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học, góp phần tích cực hoá hoạtđộng nhận thức của học sinh
Thí nghiệm vật lý là phương tiện để tổ chức hoạt động tự học, có tác dụng rất
to lớn trong việc phát triển năng lực và nhận thức khoa học cho học sinh, đồng thời
Trang 35giúp cho họ quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học Vì qua đó, học sinh sẽhọc được cách quan sát các hiện tượng, cách đo đạt các thí nghiệm nhằm rèn luyệntính cẩn thận, kiên trì trong nghiên cứu khoa học Đây là điều rất cần cho việc giáodục kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị cho học sinh tham quan thực tế Do được tận mắtquan sát sự vận động của các hiện tượng, tự tay tiến hành lắp ráp, đo đạt các thínghiệm nên các em đã quen dần với các dụng cụ trong đời sống Giáo viên trình bàythí nghiệm nhằm đề xuất vấn đề nghiên cứu để vào bài mới, khảo sát hay minh hoạmột định luật, một quy tắc vật lý nào đó Học sinh tự tay làm các thí nghiệm để tìmhiểu hiện tượng, dụng cụ thiết bị, đào sâu, ôn tập, củng cố kiến thức đã học.
Tự học giúp cho học sinh thu nhận kiến thức và vận dụng kiến thức để rènluyện kỷ năng sâu sắc hơn, học sinh nhớ lâu kiến thức này lâu hơn Tổ chức hoạtđộng tự học là hoạt động dạy học trong quá trình dạy học vì vậy người dạy củngnhư người học cần xác định rỏ vai trò của mình, giáo viên là người định hướng cònhọc sinh đóng vai trò trung tâm của quá trình thu nhận và vận dụng kiến thức, ngườihọc biết kết hợp được các phương tiện để rút ra kiến thức là vấn đề cốt lỏi của quátrình hoạt động tự học Vì vậy thí nghiệm đóng vai trò hết sức quan trọng cho quátrình tổ chức hoạt động tự học
Thí nghiệm vật lý là phương tiện để kiểm tra kết quả tự học Thí nghiệm được
sử dụng để phát hiện và khắc phục các quan niệm sai lầm của HS Bởi như chúng tabiết rằng, HS trước khi đến trường, trước giờ học đã có những hiểu biết, nhữngquan niệm về các hiện tượng, khái niệm và quá trình vật lí sắp được nghiên cứutrong giờ học Song đa số những hiểu biết, quan niệm ấy đều sai lệch ra khỏi bảnchất vật lí hoặc nó không có đủ các cơ sở để hiểu những vấn đề sẽ nghiên cứu tronggiờ học
Đối với các thí nghiệm tự mình tiến hành, HS có nhiều cơ hội để rèn luyện kĩnăng, kĩ xảo thực hành góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS Quaquá trình làm việc tự lực với thí nghiệm của HS sẽ gợi sự hứng thú nhận thức, lòngham muốn nghiên cứu, tạo niềm vui của sự thành công khi giải quyết được nhiệm
vụ đặt ra và góp phần phát triển động lực quá trình học tập của HS.[23] [24]
1.2.5 Phương tiện trực quan trong dạy học
Phương tiện trực quan bao gồm mọi thiết bị và thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đến
phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để hỗ trợ cho quá trình dạy và học của
Trang 36GV và HS Phương tiện trực quan có tác động trực tiếp đến giác quan của ngườihọc, qua đó những thông tin được HS tiếp thu và xử lí.[21]
1.2.5.1 Vai trò của phương tiện trực quan.
Tuỳ theo quan điểm lí luận nhận thức hay quan điểm về lí luận dạy học mà phươngtiện trực quan có những vai trò sau
– Theo quan điểm của lí luận nhận thức, phương tiện trực quan góp phần hỗ trợ choquá trình nhận thức của HS, định hướng hoạt động nhận thức của HS trong quátrình dạy học và kích thích hứng thú hoạt động nhận thức của HS Ngoài ra, phươngtiện trực quan còn góp phần phát triển năng lực làm việc độc lập, sáng tạo của HS,qua đó góp phần rèn luyện phẩm chất của người lao động mới
– Theo quan điểm của lí luận dạy học, trước hết phương tiện trực quan là mộtphương tiện để hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, góp phần nâng cao chấtlượng kiến thức Sử dụng phương tiện trực quan góp phần đơn giản hoá các hiệntượng, quá trình VL và kích thích hứng thú học tập của HS Ngoài ra, việc sử dụngphương tiện trực quan còn có tác dụng nâng cao cường độ lao động, học tập củaHS
1.2.5.2 Các loại phương tiện trực quan
Phương tiện trực quan trong dạy học có thể phân thành 2 nhóm gồm: các phươngtiện dạy học truyền thống và các phương tiện nghe nhìn
– Các phương tiện trực quan truyền thống thường được dùng phổ biến trong nhàtrường có thể kể đến là: Các vật thật trong đời sống và kĩ thuật; các thiết bị TNđược dùng để tiến hành TN hoặc TN HS, các mô hình vật chất, như: mô hình máybiến thế; mô hình động cơ điện, mô hình máy phát điện ; bảng; tranh ảnh, biểubảng và các bản vẽ sẵn; các tài liệu in như sách giáo khoa, sách bài tập, các tranhảnh in sẵn và các tài liệu tham khảo
– Phương triện nghe nhìn bao gồm hai khối, đó là: khối mang thông tin và khốichuyển tải thông tin
Khối mang thông tin, chẳng hạn: Phim học tập: phim đèn chiếu; phim nhựa; phimtruyền hình, các băng hình, đĩa CD, đĩa DVD, đĩa VCD, Băng Casette, các phầnmềm dạy học, giấy bóng trong đã có nội dung; Folie màu
Trang 37Khối chuyển tải thông tin, như: Máy vi tính, Máy chiếu qua đầu, Máy chiếu đa chứcnăng, Đèn chiếu, Ti vi, Đầu Video, đầu đĩa: CD, VCD, DVD, Máy Cassette Máychiếu phim, Camera, Đèn chiếu Slide
1.2.5.3.Cách sử dụng một số phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học vật lí
1.2.5.3.1 Sử dụng phim học tập trong dạy học vật lí
Trong dạy học VL, phim học tập được sử dụng bao gồm: Phim đèn chiếu, phimchiếu bóng (bao gồm phim quay các cảnh thật và phim hoạt hình), phim vô tuyếntruyền hình, phim trên băng video
Các phim học tập nói trên thường được sử dụng trong các trường hợp sau:
– Khi nghiên cứu các đề tài không thể làm được thí nghiệm, mặc dù các thínghiệm đó là những thí nghiệm rất cơ bản, do thiết bị thí nghiệm cần sử dụng cồngkềnh, phức tạp, đắt tiền, hoặc không an toàn đối với GV và HS Chẳng hạn như thínghiệm Cavendisơ để xác định hằng số hấp dẫn, thí nghiệm Miliken xác định điệntích nguyên tố hoặc các thí nghiệm về tia X, về phản ứng hạt nhân …
– Khi nghiên cứu các đối tượng, hiện tượng VL không thể quan sát, đo đạc trựctiếp được do chúng quá nhỏ hoặc quá to, Chẳng hạn khi nghiên cứu về cấu trúc vậtchất, các đối tượng vi mô trong trong cơ chế dẫn điện ở các môi trường khác nhau,người ta thường sử dụng phim đèn chiếu, phim chiếu bóng để cung cấp cho HSnhững biểu tượng có tính chất mô hình về các đối tượng và các quá trình VL này – Khi nghiên cứu các quá trình VL diễn ra quá nhanh (như sự biến dạng của haiquả cầu khi va chạm đàn hồi với nhau) hoặc quá chậm (như hiện tượng khuếch tándiễn ra trong chất rắn) Trong những trường hợp này, việc sử dụng phim chiếubóng, phim vô tuyến truyền hình hoặc băng video đã quay với tốc độ mong muốn làhợp lí nhất, vì như thế, HS sẽ quan sát được toàn bộ quá trình trong một khoảng thờigian quan sát thích hợp
– Khi nghiên cứu những hiện tượng diễn ra ở những nơi hoặc những thời điểmkhông thể đến quan sát trực tiếp được, chẳng hạn như nghiên cứu về sự hình thànhdải plasma, động đất, … người ta có thể sử dụng các phim đèn chiếu về các nộidung này
– Khi nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của VL như nguyên tắc hoạt động, cấu tạocủa các máy đo, các máy phức tạp, dây chuyền sản xuất, …) ta cũng có thể sử dụngphim đèn chiếu, phim chiếu bóng, phim vô tuyến truyền hình, bằng cách đưa thêm
Trang 38dần các chi tiết vào hình vẽ, sẽ chỉ ra được trên phim đèn chiếu, phim chiếu bóng sựchuyển từ sơ đồ nguyên lí sang thiết kế cụ thể các máy móc tương ứng.
– Các loại phim học tập cũng còn được sử dụng khi trình bày lịch sử phát triển củamột vấn đề VL, một phát minh khoa học … Qua việc xem phim, HS thấy được conđường thu nhận các kiến thức trong các bối cảnh xã hội cụ thể và vị trí của các nhàkhoa học trong sự phát triển của VL học
Có thể khẳng định rằng, việc sử dụng phim học tập trong dạy học VL có nhiều lợiích thiết thức Phim học tập giúp thu nhận thế giới tự nhiên vào lớp học, xoá bỏnhững hạn hẹp về mặt không gian của lớp học và thời gian của giờ học Nhờ cáccuốn phim được quay trước mà HS quan sát được với tốc độ mong muốn, thậm chí
có thể dừng lại các hình ảnh để quan sát kĩ hơn Nhờ vào khả năng đồ hoạ (nhưđánh dấu, đóng khung, tô màu …) kết hợp hài hoà với tín hiệu âm thanh và sựthuyết minh phim, không những tạo được ở HS những biểu tượng tốt hơn về đốitượng nghiên cứu mà còn làm tăng tính trực quan và hiệu quả xúc cảm của phươngtiện dạy học Ngoài ra, phim học tập có thể sử dụng được ở tất cả các giai đoạn củaquá trình dạy học, ở trong và ngoài lớp học, ở trong và ngoài các giờ học chínhkhoá [21]
1.2.5.3.2 Để việc sử dụng phim học tập đạt hiệu quả cao, GV cần chú ý những
điểm sau:
Thứ nhất, GV cần căn cứ vào mục đích sử dụng, nội dung cuốn phim để định
ra những biện pháp sư phạm thích hợp nhằm làm tăng hiệu quả của cuốn phim đốivới quá trình nhận thực của HS
Trang 39Thứ hai, GV cần xác định rõ các giai đoạn làm việc chủ yếu đối với phim học
tập Đặt kế hoạch sử dụng phim (sử dụng vào lúc nào, nhằm đạt được mục đích gìtrong lí luận dạy học …) trong kế hoạch dạy học tổng thể một chương, một phần cụthể Trước khi sử dụng phim, cần giao cho HS nhiệm vụ ôn tập ở nhà những kiếnthức cần thiết để có thể hiểu được nội dung cuốn phim; nêu rõ mục đích sử dụngphim nhằm đặt HS ở tâm thế chờ đợi tích cực, khêu gợi tính tò mò nhận thức Trướckhi chiếu phim, để định hướng sự chú ý cho HS vào những nội dung cơ bản củacuốn phim, GV cần giao cho HS các nhiệm vụ cần hoàn thành sau khi xem phim.Trong khi HS xem phim, GV cần quan sát, có thể đưa ra những gợi ý nhỏ để hướng
sự chú ý của HS vào những cái cơ bản, cái đặc biệt có trong đoạn phim để HSkhông bị bỏ sót những điểm cần thiết Sau khi xem xong cuốn phim, GV có thểđánh giá hiệu quả của việc sử dụng phim thông qua sự trả lời của HS về các câu hỏi
đã đặt ra ban đầu Trong những trường hợp cần thiết, cũng có thể tiến hành những
TN của GV hoặc TN của HS trước hoặc ngay sau khi chiếu phim
1.3 Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học với sự hổ trợ của TN và PTTQ
1.3.1 Sử dụng TN và PTTQ theo hướng bồi dưỡng phương pháp tự học cho họcsinh trong nêu vấn đề
Sử dụng TN hoặc PTTQ trong khâu mở đầu, có nghĩa là thông qua thí nghiệmhoặc PTTQ, GV sẽ đưa tư duy của HS vào tình huống mâu thuẫn nhận thức, từ đónêu được vấn đề cần giải quyết một cách tích cực
Trong khâu mở bài, nếu đưa HS vào tình huống có vấn đề, HS sẽ có cơ hộigiải quyết vấn đề đặt ra và tính tích cực tư duy vật lí được phát triển Vật lí học làmột khoa học thực nghiệm, do đó cần khai thác hiệu quả của các thí nghiệm để tạotình huống có vấn đề nhằm thu hút sự chú ý cao ở HS Nó làm cho HS tích cực, chủđộng, sáng tạo trong việc tìm tòi giải quyết vấn đề Thí nghiệm hoặc PTTQ được sửdụng trong khâu mở đầu nhằm giới thiệu cho HS biết về hiện tượng sắp nghiên cứu,thường là các thí nghiệm định tính, mô tả hiện tượng mà HS có thể phán đoán trướckhi tiến hành thí nghiệm, qua đó gây ra ở HS một sự tò mò, thích thú khám phá vấn
đề và làm cho tư duy sáng tạo phát triển đồng thời kích thích lòng say mê, yêu thíchmôn học, góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho HS
Trong trường hợp này nên sử dụng các thí nghiệm ngắn gọn, mang yếu tố tìnhhuống, hướng vào nội dung kiến thức cơ bản của bài Vì vậy, GV nên sử dụng
Trang 40những thí nghiệm chứa đựng mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết,mâu thuẫn này cũng phải vừa sức với HS thì mới kích thích được hứng thú cho HS Bên cạnh đó, GV cũng nên khai thác những thí nghiệm chứa đựng yếu tố tìnhhuống bất ngờ, hay những tình huống đi ngược lại suy nghĩ của HS Điều này sẽlàm xuất hiện trong tư duy HS tại sao lại như vậy, kích thích được hứng thú nhậnthức của HS.
Thông qua hình vẽ hoặc các hình ảnh thu thập được trong thực tế GV dùngmáy chiếu tạo ra các tình huống vào bài học củng làm cho HS một sự tò mò, thíchthú khám phá vấn đề và làm cho tư duy sáng tạo phát triển đồng thời kích thích lòngsay mê, yêu thích môn học, thúc đẩy sự tự học của HS
1.3.2 Sử dụng TN và PTTQ theo hướng bồi dưỡng phương pháp tự học cho họcsinh trong nghiên cứu kiến thức mới
Khi tổ chức hoạt động tự học để nghiên cứu kiến thức mới, GV có thể chia nộidung kiến thức cần nghiên cứu thành những đơn vị kiến thức nhỏ Để hình thànhcác đơn vị kiến thức đó, GV hướng dẫn sử dụng thí nghiệm cho HS và giao nhiệm
vụ cho học sinh tìm hiểu kiến thức Thông qua những thí nghiệm này HS sẽ tự giácchiếm lĩnh được tri thức của bài học đó,
Đối với bài học thí nghiệm không thể làm được bằng thực tế thì giáo viên cóthể dùng thí nghiệm ảo Bài học có tìm hiểu cấu tạo dụng cụ nào đó thì GV có thểgiao cho học sinh tìm hiểu
Như vậy, có thể nói sử dụng thí nghiệm và PTTQ trong quá trình nghiên cứu
kiến thức mới, nếu GV chịu khó đầu tư và khai thác hệ thống thí nghiệm thì sẽ rènluyện được các kĩ năng tự học cho HS, tạo cho các em một sự say mê nhất địnhtrong quá trình lĩnh hội kiến thức, từ đó sẽ bồi dưỡng được phương pháp tự học chocác em
1.3.3 Sử dụng thí nghiệm và PTTQ theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học chohọc sinh trong khâu kiểm tra đánh giá tự học
- Chọn những thí nghiệm để HS tự thiết kế phương án thí nghiệm, lựa chọndụng cụ thí nghiệm thích hợp, đo đạc xác định các đại lượng
- Yêu cầu HS vận dụng được kiến thức đã học để thiết kế những thí nghiệmđơn giản về một hiện tượng nào đấy, giải thích được những hiện tượng xảy ra trongthực tế