Song bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng đi đôi với sự phát triển, nước ta cũng còn đang đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế- xã hội vô cùng bức bối tồn tại trong nhiều thập
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường Đại học Kinh tế quốc dân
** BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI: Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin về quy luật giá trị và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam.
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Ngọc Linh
MSV: 11216879
Lớp học phần: Kinh tế chính trị Mác – Lênin (221)_VB2_40
Hà Nội, tháng 4/2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
1 LÝ LUẬN CỦA CHÚ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ 4
1.1 Vị trí của quy luật giá trị trong sản xuất và trao đối hàng hóa 4
1.2 Nội dung của quy luật giá trị 4
1.3 Tác động của quy luật giá trị 6
1.3.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa 6
1.3.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động 8
1.3.3 Phân hóa người sản xuất thành những người giàu, người nghèo một cách tự nhiên 9
2 THỰC TIỄN VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ Ở VIỆT NAM 10
2.1 Thực trạng việc áp dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế Việt Nam 10
2.1.1 Đối với người sản xuất 10
2.1.2 Đối với Nhà nước 12
2.2 Kết quả của việc áp dụng quy luật giá trị ở nền kinh tế Việt Nam 13
2.3 Những biện pháp nhằm áp dụng quy luật giá trị hiệu quả hơn vào nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới 14
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào công cuộc mở cửa hội nhập với quy mô toàn cầu hóa cũng như quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã và đang có những bước chuyển mình đầy ngoạn mục đồng thời nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Song bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng đi đôi với sự phát triển, nước ta cũng còn đang đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế- xã hội vô cùng bức bối tồn tại trong nhiều thập kỷ qua: trình độ tay nghề người lao động còn yếu kém, công tác quản lý lạc hậu, chưa áp dụng được các công nghệ tiên tiến trên thế giới vào sản xuất, kinh doanh, lạm phát, thất nghiệp tràn lan… Để những bài toán khó nói trên được giải quyết một cách triệt để và hiệu quả, Đảng và Nhà nước cần phân tích, đánh giá tình hình một cách toàn diện và
áp dụng những biện pháp kinh tế phù hợp với vấn đề đang hướng tới Những công cụ kinh tế được nói đến ở đây phải được xây dựng trên cơ sở các kiến thức, khái niệm, phạm trù, quy luật… của kinh tế chính trị Mác- Lênin Trong đó, quy luật kinh tế cơ bản nhất là quy luật giá trị
Chính vì lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Trình bày lý luận của
chủ nghĩa Mác- Lênin về quy luật giá trị và liên hệ với thực
tế ở Việt Nam” thực sự mang tính cấp thiết và có ý nghĩa cả về
lý luận và thực tiễn
Trang 4NỘI DUNG
1 LÝ LUẬN CỦA CHÚ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ
1.1 Vị trí của quy luật giá trị trong sản xuất và trao đối hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế là các yếu tố khách quan đóng vai trò điều tiết việc sản xuất và lưu thông hàng hóa giữa các chủ thể Một số quy luật kinh tế điển hình có thể kể đến như: quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền
tệ, quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh,… Trong số đó, quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản nhất Bởi lẽ, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có
sự hoạt động của quy luật giá trị Quy luật giá trị chi phối và ràng buộc mọi hoạt động trong nền kinh tế, điều tiết người sản xuất và trao đổi Có thể nói rằng, quy luật giá trị quy định đến cả sự tồn tại của các quy luật khác, vì không có quy luật giá trị, tất yếu sẽ không có sản xuất và trao đổi, và như vậy sẽ không có các quy luật còn lại
1.2 Nội dung của quy luật giá trị
Khái quát chung: Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa
phải được tiến hành trên cơ sở của hao phí lao động xã hội cần thiết
Trong lĩnh vực sản xuất, các doanh nghiệp hay chủ thể kinh doanh quyết
định hao phí lao động cá biệt để tạo ra hàng hóa, tùy thuộc vào các điều kiện sản xuất khác nhau của bản thân các chủ thể mà các hao phí lao động cá biệt là khác nhau Song, theo yêu cầu của quy luật giá trị, người sản xuất muốn sản phẩm mình tạo ra được xã hội thừa nhân và bán được trên thị trường thì lượng giá trị của một hàng hóa cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết Điều này có thể lý giải bằng ba trường hợp sau đây:
Trang 5+ Người sản xuất có thời gian lao động cá biệt < thời gian lao động xã hội cần thiết, họ đã đáp ứng đúng và tốt yêu cầu của quy luật giá trị, nên thu được lợi nhuận lớn hơn lợi nhuận bình quân
+ Người sản xuất có thời gian lao động cá biệt= thời gian lao động xã hội cần thiết, thực hiện đúng quy luật giá trị, nhưng chỉ dừng lại ở mức thu được lợi nhuận bình quân
+ Người sản xuất có thời gian lao động cá biệt < thời gian lao động xã hội cần thiết, chưa vận dụng được quy luật giá trị, việc sản xuất và kinh doanh không
có hiệu quả, gây thua lỗ và tất yếu dẫn đến việc phá sản nếu như không được cải thiện
Như vậy, dựa trên quy luật giá trị, người sản xuất muốn bán được hàng hóa, tạo ra lợi nhuận, hoặc ít nhất để đảm bảo việc thu hồi đầy đủ chi phí sản xuất, họ luôn phải tìm ra các biện pháp để hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết
Trong lĩnh vực lưu thông, quy luật giá trị biểu hiện ở việc tiến hành nguyên
tắc ngang giá Điều này có nghĩa là, các hàng hóa trên thị trường được trao đổi với nhau trên cơ sở ngang bằng về giá trị xã hội, không dựa trên giá trị cá biệt
Giá cả hàng hóa là sự phản ánh của giá trị và xoay quanh giá trị; chính điều này tạo thành cơ chế tác động của quy luật giá trị Trên thị trường, giá trị là yếu tố quy định nên giá cả, nhưng ngoài nó, còn một số nhân tố khác như: cạnh tranh, sức mua của đồng tiền,… có thể làm giá cả tách rời khỏi giá trị hàng hóa ấy Song sự tách rời này không phải không có quy tắc mà vẫn lên xuống quanh trục giá trị và giới hạn của sự dao động ấy phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường
+ Khi cung > cầu thì giá cả < giá trị
+ Khi cung = cầu thì giá cả = giá trị
Trang 6+ Khi cung < cầu thì giá cả > giá trị.
Như vậy, dù có lúc giá cả của hàng hóa có thể thấp hoặc cao nhưng nó luôn vận động quanh giá trị của hàng hóa ấy Và thông qua sự vận động của giá cả xung quanh giá trị dưới tác động của quan hệ cung- cầu, quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng Những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tuân theo mệnh lệnh của giá cả thị trường
Kết luận, dựa trên cơ sở của hao phí lao động xã hội cần thiết, quy luật giá trị tạo ra tính khách quan và đảm bảo tính công bằng giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa
1.3 Tác động của quy luật giá trị
Với vị trí là quy luật kinh tế quan trọng nhất trong nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, quy luật giá trị có ba tác động chủ yếu sau
1.3.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Trong sản xuất, dựa trên cơ chế tác động đã đề cập ở trên, quy luật giá trị
điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động giữa các ngành thông qua
sự biến động của giá cả Cụ thể hơn, thông qua sự vận động của giá cả xung quanh trục giá trị, những người sản xuất có thể nắm bắt được tình hình cung- cầu trên thị trường, và từ đó đưa ra được các phương án sản xuất đúng đắn Với ba trường hợp giá cả vận động xung quanh giá trị, ta phân tích các quyết định tương ứng mà người sản xuất có thể đưa ra :
+ Trường hợp 1: Giá cả = giá trị Điều này thể hiện cung bằng với cầu, sản xuất của một hàng hóa ăn khớp với nhu cầu xã hội về hàng hóa đó; sẽ không xảy ra
sự di chuyển nào của các yếu tố sản xuất, các chủ doanh nghiệp có thể sẽ giữ nguyên quy mô sản xuất như trước
Trang 7+ Trường hợp 2: Giá cả > giá trị Hiện tượng này xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu, sản xuất không đáp ứng được hết nhu cầu của người tiêu dùng nên dẫn đến hàng hóa bán chạy, “cháy hàng” và thu được lãi cao Do đó, những người đang sản xuất mặt hàng này sẽ mở rộng thêm quy mô sản xuất, đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị hoặc thuê thêm nhân công để tăng sản lượng Đồng thời, những người sản xuất ở các ngành khác mà thu lợi nhuận thấp hơn, sẽ có xu hướng chuyển sang sản xuất loại hàng hóa này Tình hình đó dẫn đến tư liệu sản xuất và sức lao động tập trung ở ngành này nhiều hơn các ngành khác và dần dần cung hàng hóa tăng lên
+ Trường hợp 3: Giá cả < giá trị Điều này phản ánh cung lớn hơn cầu, hoạt động sản xuất tạo ra quá nhiều hàng hóa so với nhu cầu tiêu dùng của xã hội, sản phẩm được tạo ra không bán được, gây thua lỗ Tình hình đó buộc các chủ doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất của mình hoặc chuyển các nguồn lực tư bản
và lao động sang đầu tư vào vào các ngành khác có giá cả hàng hóa cao hơn Điều này dẫn đến tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm xuống và ở các ngành khác thì tăng lên; dần dần, cung về hàng hóa đó sẽ giảm
Như vậy, trên cơ sở sự vận động lên xuống của giá cả quanh giá trị, quy luật giá trị tạo nên sự phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành này sang ngành khác, cụ thể là tư liệu sản xuất, sức lao động sẽ tự phát dịch chuyển vào ngành đang có giá cả cao Việc điều tiết các yếu tố trong sản xuất quyết định của doanh nghiệp, là mở rộng hay thu hẹp quy mô; tạo ra một tỷ lệ tư liệu sản xuất và sức lao động phù hợp giữa các ngành, đáp ứng yêu cầu của xã hội
Trong lưu thông, cung- cầu có ảnh hưởng đến giá cả, đồng thời giá cả cũng
có tác động điều tiết luồng hàng giữa các vùng Quy luật giá trị điều tiết hàng hóa
từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu Thông qua mệnh lệnh của giá
cả thị trường, hàng hóa từ nơi có giá cả thấp được thu hút , chảy đến nơi có giá cả cao hơn Điều này có tác dụng làm cân bằng cung- cầu giữa các khu vực, phân phối
Trang 8lại thu nhập giữa các vùng miền, điều chỉnh sức mua của thị trường (nếu giá cao thì mua ít, giá thấp thì mua nhiều)… Song, bên cạnh đó, quy luật giá trị cũng gây ra các hiện tượng tiêu cực trong lưu thông, tiêu biểu là vấn nạn tích trữ đầu cơ, làm tạo ra hiện tượng khan hiếm giả tạo trong một số hoàn cảnh nhất định: thiên tai dịch bệnh, chiến tranh,… nhằm đẩy giá cả hàng hóa lên cao để trục lợi gây rối loạn thị trường, gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp và không đủ hàng hóa thỏa mãn cho xã hội
1.3.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động
Trong sản xuất, tùy thuộc vào điều kiện sản xuất khác nhau của từng doanh nghiệp mà sẽ tạo nên giá trị cá biệt của hàng hóa Song, việc trao đổi trên thị trường không dựa trên giá trị cá biệt mà dựa vào giá trị xã hội Người bán thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán sản phẩm có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội; ngược lại, người bán có giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội sẽ gặp phải thua lỗ, phá sản Vì vậy, để đứng vững trên thị trường và thắng thế trong cạnh tranh, người sản xuất luôn phải tìm cách để hàng hóa của mình có giá trị cá biệt nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội Và trong các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của hàng hóa, người sản xuất chỉ có thể tác động vào năng suất lao động nhằm giảm hao phí lao động cá biệt của hàng hóa, chứ không thể là cường độ lao động hay tính chất phức tạp của lao động Đây cũng là một phần của cạnh tranh trong nội bộ ngành, đề cập đến biện pháp cạnh tranh của các doanh nghiệp, đó là ra sức cải tiến kỹ thuật, áp dụng các công nghệ tiên tiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến phương thức quản lý, thực hiện tiết kiệm… nhằm tăng năng suất lao động để hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hóa mà doanh nghiệp đó sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa đó Lúc đầu, chỉ
có một số chủ thể thực hiện việc cải tổ sản xuất, song càng về sau, sự cạnh tranh quyết liệt thúc đấy quá trình này diễn ra nhanh hơn với một quy mô rộng hơn và
Trang 9mang tính toàn xã hội Kết quả là, nếu chủ doanh nghiệp nào cũng làm như vậy thì lực lượng sản xuất sẽ ngày càng phát triển, năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên và chi phí sản xuất hàng hóa giảm xuống Như vậy, quy luật giá trị đã làm nhiệm vụ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, sản xuất ra hàng hóa hoàn thiện hơn cả về số lượng và chất lượng
Không chỉ trong sản xuất mà ngay cả ở lĩnh vực lưu thông, để bán được hàng hóa và dịch vụ, thu được càng nhiều lãi, người kinh doanh phải luôn nỗ lực và sáng tạo trong các chiến dịch quảng cáo, tổ chức các khâu bán hàng, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng… giúp cho quá trình trao đổi diễn ra thuận tiện và nhanh chóng, vừa đạt được hiệu quả cao nhất, vừa tối thiểu hóa được chi phí lưu thông
1.3.3 Phân hóa người sản xuất thành những người giàu, người nghèo một cách tự nhiên
Trên thị trường, dù hàng hóa có giá trị cá biệt nhưng được trao đổi bằng giá trị xã hội Do vậy, trong quá trình cạnh tranh, người sản xuất nào nhạy bén với thị trường, trình độ năng lực tốt, sẽ tạo được hàng hóa với hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết và thu được nhiều lãi, trở nên giàu có Trái lại, có những người do hạn chế về vốn, thiếu kiến thức, kinh nghiệm sản xuất, trình độ kĩ thuật còn yếu kém lạc hậu,… sẽ có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết và dễ sa vào tình trạng thua lỗ, dẫn đến phá sản Chính điều này đã gây ra sự phân hóa giữa những người sản xuất và từ đó làm phát sinh
sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Những người sản xuất thu về được nhiều lợi nhuận
và có thể tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô, tạo ra thêm nhiều giá trị thặng dư dần dần trở thành những nhà tư bản nắm trong tay lượng vốn, nhân công khổng lồ Trong khi đó, những người sản xuất thua lỗ, dần dần nghèo đi và trở nên trắng tay, trở thành tầng lớp công nhân lao động
Trang 10Như vậy, quy luật giá trị có ý nghĩa đánh giá bình tuyển người sản xuất một cách khách quan và tự phát, thúc đẩy phát huy cái tiến bộ và đào thải cái lạc hậu, lỗi thời Bên cạnh những tác động tích cực, quy luật giá trị cũng tạo ra những khía cạnh tiêu cực trong kinh tế: cạnh tranh không lành mạnh để đạt được lợi nhuận, bất chấp các yếu tố môi trường để hoạt động sản xuất,…
2 THỰC TIỄN VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng việc áp dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế Việt Nam
Trước thời kì đổi mới, nước ta tổ chức hoạt động sản xuất trong nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung với sự lãnh đạo mang nhiều yếu tố chủ quan của Nhà nước
Cơ chế kinh tế tập trung bao cấp đã phủ nhận tính khách quan của các quy luật kinh
tế, trong đó có quy luật giá trị; dẫn đến việc nhiều nhân tố tích cực bị coi nhẹ, không được nhìn nhận và vận dụng đúng cách; làm kinh tế và xã hội trở nên lạc hậu, kém phát triển
Sau khi đổi mới, Nhà nước đã xác định và đang phát triển mô hình kinh tế là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Dựa trên điều kiện đó, quy luật giá trị hoạt động mạnh mẽ, được người sản xuất nhận thức và vận dụng trong quá trình cạnh tranh nhằm thu lợi nhuận, mở rộng sản xuất; được Nhà nước áp dụng vào công tác quản lý, phát triển các chính sách kinh tế Trong ba vai trò của quy luật giá trị, nội dung sau đây sẽ đi vào phân tích tác động kích thích lực lượng sản xuất phát triển của quy luật giá trị để nghiên cứu cách nhà nước và các doanh nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam vận dụng nó như thế nào để đạt được các mục tiêu của mình 2.1.1 Đối với người sản xuất
Trong thời kì hội nhập và tăng trưởng ngày nay, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp luôn phải nỗ lực tìm ra hướng đi mới trong hoạt động sản xuất và kinh doanh Dựa trên cơ sở nhận thức quy luật giá trị, hiểu rõ phải tăng năng suất lao động để giảm giá trị cá biệt của hàng hóa xuống thấp hơn giá trị xã hội, các