Đó chỉ là một ví dụ cho những cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới – mặt trái không thể tránh khỏi của sự phát triển trong phương thức sản xuất chủ nghĩa tư bản.. Khái niệm Khủng hoảng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: Trình bày lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin về khủng hoảng kinh tế và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam.
Họ và tên:
MSV:
Lớp:
Hà Nội, tháng 5/2021
Trang 2MỤC LỤC Nội dung Trang
I Lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin về khủng hoảng kinh tế 2
5 Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế 9
II Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam 12 Tài liệu tham khảo 15
Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống con người trên phạm vi toàn cầu Trong đó,
Trang 3nền kinh tế thế giới đã phải trải qua đợt suy thoái tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 2008
Đó chỉ là một ví dụ cho những cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới – mặt trái không thể tránh khỏi của sự phát triển trong phương thức sản xuất chủ nghĩa tư bản Song hành với những ưu điểm đột phá nhằm thúc đẩy sản xuất, trao đổi và lưu thông hàng hóa,… thì khủng hoảng kinh tế cũng dần trở thành một mối nguy hại
dễ dàng bùng phát những lúc không ai ngờ đến
Với mong muốn tìm hiểu thêm về khủng hoảng kinh tế, em đã chọn đề tài
“Trình bày lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin về khủng hoảng kinh tế và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam” để phần nào làm sáng tỏ nội dung đó
I Lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin về khủng hoảng kinh tế
1 Khái niệm
Khủng hoảng kinh tế là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng kinh tế mất
ổn định kéo dài mà không điều chỉnh được của quá trình tái sản xuất trong nền kinh tế gây ra những chấn động và hậu quả kinh tế xã hội trong quy mô rộng hoặc hẹp Khủng hoảng kinh tế diễn ra trên mọi lĩnh vực của nền sản xuất xã hội trong tất cả các khẩu của quá trình tái sản xuất và có tính chu kỳ, xảy ra cứ 8 – 12 năm một lần
Hình thức đầu tiên và phổ biến của khủng hoảng kinh tế trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là khủng hoảng sản xuất “thừa” Khi khủng hoảng nổ ra, hàng hoá không tiêu thụ được, sản xuất bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp bị vỡ nợ, phá sản, lao động thất nghiệp, thị trường bị rối loạn Tình trạng thừa hàng hoá không phải là so
Trang 4động Trong lúc khủng hoảng thừa đang nổ ra, hàng hóa đang bị phá hủy thì hàng triệu người lao động lại lâm vào tình trạng đói khổ vì họ không có khả năng thanh toán
Quan điểm của Mác và Lênin về khủng hoàng kinh tế như sau: khủng hoảng
là đặc trưng của riêng chế độ tư bản chủ nghĩa do mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất (được chính chủ nghĩa tư bản xã hội hóa) và phương thức chiếm hữu
tư nhân, cá nhân về tư liệu sản xuất Đó là sự rối loạn trong sản xuất, lưu thông hay phân phối
Cụ thể, trong hơn 1 thể kỷ (133 năm) kể từ 1825 tới 1958, nước Anh đã phải chịu 7 cơn khủng hoảng kinh tế vào những năm 1825-1836, 1890-1900,
1907-1920, 1920-1929, 1929-1937, 1938-1949, 1949-1958, Còn sau Thế chiến II, Mĩ
đã rơi vào cuộc khủng hoảng lần thứ 9 với những hậu quả to lớn như sản xuất công nghiệp giảm 5.3%, GDP giảm 2.2%, thất nghiệp tăng 7.8%, lạm phát tăng 4.6%,…
2 Biểu hiện
Một: trắc trở trong việc mua và bán
Không bán được hàng hóa hoặc phải bán rẻ, không đủ tiền thanh toán nợ đến hạn Giá nguyên liệu lên không đủ tiền mua, nếu không vay được thì phải giảm quy mô sản xuất, sa thải công nhân, không tận dụng được công suất của máy móc, thiết bị,…
Hai: mất cân đối trong sản xuất
Mác đã phát hiện những quan hệ tỷ lệ cân đối giữa các bộ phận tổng sản phẩm hàng năm dành cho tái sản xuất tư bản và cho tiêu dùng cá nhân Nếu một nước không tự đảm bảo được những tỷ lệ cân đối đó thì sẽ lâm vào khủng hoảng Ngoại
Trang 5thương có thể tạm thời góp phần giải quyết những mất cân đối đó, nhưng ngoại thương chỉ đẩy mâu thuẫn ra một trường rộng rãi hơn, chứ không giải quyết được mâu thuẫn, khiến cho khủng hoảng mang tính chất toàn thế giới
Ba: rối loạn hệ thống tín dụng
Trong hệ thống tín dụng, các doanh nghiệp vay nợ lẫn nhau nên khả năng thanh toán của người này lại do khả năng thanh toán của người kia quyết định Chừng nào quá trình tái sản xuất còn tiếp tục thì tín dụng vẫn được duy trì Nhưng nếu do thị trường đình trệ, giá cả giảm sút, hàng hóa tồn đọng, không còn nhu cầu buôn bán,… thì sẽ dẫn đến tình trạng khan hiếm tín dụng Việc không có khả năng thanh toán không chỉ xuất hiện ở một điểm mà ở nhiều điểm, do đó nảy sinh khủng hoảng
Bốn: vi phạm quy luật về lưu thông tiền tệ
Việc phát hành giấy thông qua số lượng cần thiết để lưu thông sẽ gây ra lạm phát Nhưng phát hành không đủ giấy bạc cũng gây khủng hoảng Năm 1844, Đạo luật Ngân hàng Anh đã hạn chế số lượng giấy được phát hành vào năm 1847 và
1857 Đến khi Chính phủ Anh xóa bỏ sự hạn chế đó vào tháng 10/1847 và tháng 11/1857, khủng hoảng đã dần được đẩy lùi Từ đó, đạo luật đã được bãi bỏ
Năm: mất cân đối giữa sản xuất và nhu cầu có khả năng thanh toán
Hệ thống tín dụng và ngoại thương ngày càng mở rộng, tình trạng đầu cơ tích trữ,… đã tạo ra những nhu cầu giả vượt quá khả năng thanh toán thực tế, dẫn đến quy mô sản xuất mở rộng quá mức và hiện tượng sản xuất thừa thêm trầm trọng Mức tiêu dùng của quần chúng nhân dân nói chung và năng suất lao động không tăng theo cùng tỷ lệ thuận
Trang 6Sáu: xây dựng nhà ở chạy theo thị trường và mang tính chất đầu cơ
Nhà thầu vay vốn ngân hàng thông qua việc thế chấp bất động sản Ngân hàng chỉ giải ngân dần dần theo tiến độ xây dựng Nếu xảy ra sự cố mà nhà thầu không trả được nợ đúng hạn thì khoản vay sẽ bị đình chỉ, còn nếu phải bán nhà theo giá thấp để thanh toán thì sẽ lỗ, thậm chí phá sản
Bảy: những chứng khoán không đại biểu cho tư bản thực tế, không có bảo đảm ngày càng được phát hành nhiều hơn
C.Mác đã dẫn ra các tài liệu liên quan đến những khoản tín dụng giả được tạo
ra bằng phương pháp kỹ thuật Ví dụ, một ngân hàng địa phương đã cho người môi giới chứng khoán đem đi chiết khấu ở thị trường London sau khi chiết khấu kỳ phiếu Điều này hoàn toàn dựa trên mức độ tín nhiệm của ngân hàng mà không xem xét các phẩm chất khác của kỳ phiếu, cộng thêm những trường hợp đầu cơ chứng khoán, cổ phiếu
3 Nguyên nhân
Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt nguồn từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản Đó là mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ
xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa
về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Mâu thuẫn này biểu hiện ra thành các mâu thuẫn sau:
a Mâu thuẫn giữa tính tổ chức, tính kế hoạch trong từng xí nghiệp rất chặt chẽ
và khoa học với khuynh hướng tự phát vào chính phủ trong toàn xã hội Trong các xí nghiệp, khi các nhà tư bản tiến hành sản xuất mà không nắm được nhu cầu của xã hội thì quan hệ giữa cung và cầu sẽ bị rối loạn, quan hệ tỉ lệ
Trang 7giữa các ngành sản xuất sẽ bị phá hoại nghiêm trọng Đến một mức độ nào đó, khủng hoảng kinh tế sẽ nổ ra
Điển hình cho sự mâu thuẫn này là cuộc khủng hoảng cuối những năm 70 Trọng tải hạ thủy của các nước công nghiệp là 34.4 triệu tấn, trong đó Nhật Bản 17.7 triệu tấn, khối EEC 8.1 triệu tấn, Mĩ 8.6 triệu tấn Ngành luyện thép cũng có tình trạng tương tự Sản lượng thép của thế giới là 490.7 triệu tấn Các con số này vượt xa nhu cầu về sắt thép của thế giới và chính là nguyên nhân gây nên cuộc khủng hoảng 1974-1975
b Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng không có giới hạn của tư bản với sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do bị bần cùng hoá
Để theo đuổi lợi nhuận siêu ngạch, các nhà tư bản ra sức mở rộng sản xuất, cải tiến kĩ thuật, cạnh tranh gay gắt đã tạo ra những nhu cầu giả tạo vượt quá nhu cầu có khả năng thanh toán thực sự, khiến cho quy mô sản xuất mở rộng quá mức, dẫn tới sản xuất thừa thêm trầm trọng Song song với đó lại là quá trình bần cùng hoá nhân dân lao động, làm giảm bớt một cách tương đối sức mua của quần chúng
Sự tiêu dùng của người lao động không tăng lên một cách tương ứng với sự tăng lên của năng suất lao động khiến sức mua lạc hậu so với sự phát triển của sản xuất Cung và cầu trong xã hội mất cân đối nghiêm trọng, dẫn đến khủng hoảng thừa hàng hóa trên thị trường Đó là điều tất yếu để xảy ra khủng hoảng: hàng hóa thì nhiều nhưng người tiêu dùng lại không đủ tiền mua hàng Các xí nghiệp buộc phải hạ giá hàng, chịu lỗ vốn và có khi là mất trắng Điều đó diễn ra khiến sản xuất
bị thu hẹp dần, các xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp
c Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp lao động làm thuê
Trang 8Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản là hai yếu tố của sản xuất tách rời nhau: tư liệu sản xuất tách rời người trực tiếp sản xuất Sự tách rời đó biểu hiện r• nhất trong khủng hoảng kinh tế
Trong khi tư liệu sản xuất bị xếp lại, han gỉ, mục nát thì người lao động lại không có việc làm Một khi tư liệu sản xuất và sức lao động không kết hợp được với nhau thì guồng máy sản xuất tư bản chủ nghĩa tất nhiên bị tê liệt
Phân công lao động xã hội phát triển hết sức rộng rãi khiến cho việc sản xuất không còn là hành động cá nhân, phân tán nữa mà trở thành một sợi dây chuyền xã hội thống nhất
Và mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp lao động làm thuê này là mâu thuẫn không thể tách rời khỏi xã hội tư bản, ngay từ khi ra đời đã mang sẵn mâu thuẫn cơ bản này trong nội tại của nó
4 Hậu quả
Mỗi lần khủng hoảng kinh tế qua đi đều để lại những hậu quả to lớn với nền sản xuất nói riêng và thế giới nói chung
Hậu quả đầu tiên: sự tàn phá lực lượng sản xuất và rối loạn lĩnh vực lưu thông
Cuộc khủng hoảng 1929-1933 là một ví dụ r• ràng nhất: 13.000 công ty phá sản, sản xuất thép giảm 76%, sản xuất sắt giảm 19.4%, sản xuất ô tô giảm 80%, các nhà tư bản đã phá hủy một số lượng lớn tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng Ở
Mỹ, năm 1931, họ phá những lò cao có khả năng sản xuất 1 triệu tấn thép/năm, đánh chìm 124 tàu biển, phá bỏ 1/4 diện tích bông, giết và tiêu hủy 6.4 triệu con lợn
Trang 9Hậu quả thứ 2: đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung tư bản là điều kiện dẫn tới độc quyền
Khủng hoảng cùng sự phá sản của các nhà tư bản nhỏ là sự lớn mạnh của các công ty khổng lồ Các cuộc khủng hoảng và phá sản của các nhà tư bản nhỏ đã góp phần vào sự lớn mạnh của các công ty lớn Với khả năng tài chính và thực lực mạnh, trong thời kỳ này, các nhà tư bản đã thu được nhiều lợi ích Việc phá sản và sáp nhập các công ty liên doanh, công ty và tập đoàn đã làm tăng mức độ tập trung vốn cho tư bản Nếu như trước cuộc khủng hoảng 29-33, tại Hoa Kỳ chỉ có 49 công ty có quy mô từ 10.000 người trở lên, thì sau khủng hoảng, con số này đã lên tới 343 Cũng tại đây, đầu thế kỷ 20 chỉ có 1 công ty đạt 1 tỷ đô la Mỹ, thì đến đầu năm 1950 là 2 công ty Nhưng đến năm 1974, có 24 trong tổng số 49 công ty có vốn là 59 tỷ
Hậu quả thứ 3: sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và mâu thuẫn giữa tư bản và người lao động ngày càng tăng
Một khi tư liệu sản xuất hoàn toàn nằm trong tay chủ tư bản thì sự bóc lột người lao động và bần cùng hóa công nhân sẽ diễn ra một cách triệt để hơn, gay gắt hơn Theo thống kê chưa đầy đủ, 20% người giàu chiếm 75% GDP toàn cầu, trong khi 20% người nghèo chỉ chiếm 1.5% GDP toàn cầu Trong khi có hàng nghìn người đang chịu cảnh đói rét thì các chủ tư bản lại sẵn sàng chi trả cho những khoản ăn chơi xa hoa không có mục đích Thực tế ở các nước tư bản lớn cho thấy trung bình một ngày các nhà tư bản có thể kiếm được trên dưới 1 triệu USD, còn các công nhân nghèo chỉ có thể kiếm được xấp xỉ 2 USD Khoảng cách chênh lệch quá lớn ấy dường như không thể xóa bỏ và đã khiến các cuộc khủng hoảng diễn ra nhanh chóng hơn
Trang 10Hậu quả thứ 4: làm cho mâu thuẫn cơ bản của tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt hơn
Trong khi lực lượng sản xuất ngày càng mang tính xã hội hóa thì quan hệ sản xuất vẫn không thay đổi, vẫn là quan hệ chiếm hữu tư liệu sản xuất Khi khủng hoảng xảy ra, quần chúng nhân dân lao động càng bức xúc, càng có ý thức đấu tranh để thoát khỏi đói nghèo, tiêu diệt chế độ Còn giai cấp tư bản và các nước tư bản thì chỉ biết bất lực trước thảm họa do mình gây ra Vì vậy khủng hoảng làm cho đấu tranh giai cấp diễn ra mạnh mẽ hơn Mặt khác, cuộc khủng hoảng kéo theo
sự tập trung cao độ của tư liệu sản xuất vào tay tư bản, do đó làm gia tăng xung đột lợi ích Chủ nghĩa tư bản càng nhiều và quần chúng nhân dân càng ít thì khoảng cách xã hội càng lớn
5 Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế xuất hiện làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính chu kỳ Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, cứ 8 đến 12 năm thì nền kinh tế tư bản lại trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế Chu kỳ kinh
tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vận động
từ đầu cuộc khủng hoảng này đến đầu cuộc khủng hoảng sau Chu kỳ kinh tế gồm bốn giai đoạn: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh
Khủng hoảng: giai đoạn khởi điểm của chu kỳ kinh tế mới Trong thời kỳ này, hàng hoá dư thừa, ứ đọng, giá cả giảm mạnh, sản xuất đình trệ, xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp hàng loạt, tiền lương giảm sút Tư bản mất khả năng thanh toán các khoản nợ, phá sản, lực lượng sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn biểu hiện dưới hình thức xung đột gay gắt
Tiêu điều: đặc điểm của giai đoạn này là sản xuất đình trệ, không giảm nữa nhưng không tăng lên, thương nghiệp vẫn đình đốn, hàng hoá được đem bán hạ
Trang 11giá, tư bản để rỗi nhiều vì không có nơi đầu tư Trong giai đoạn này, để thoát khỏi tình trạng bế tắc, các nhà tư bản còn trụ lại được tìm cách giảm chi phí bằng cách
hạ thấp tiền công, tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản cố định làm cho sản xuất vẫn còn lãi trong tình trạng hạ giá Việc đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế
Phục hồi: thời kỳ khôi phục xí nghiệp và mở rộng sản xuất Công nhân lại được thu hút vào làm việc, mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, vật giá tăng lên, lợi nhuận của tư bản do đó cũng tăng lên
Hưng thịnh: là giai đoạn sản xuất phát triển vượt quá điểm cao nhất mà chu
kỳ trước đã đạt được Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hoá tăng cao, xí nghiệp được mở rộng và xây dựng thêm Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàng tung tiền cho vay, năng lực sản xuất lại vượt quá sức mua của xã hội Do đó lại tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mới
Khủng hoảng kinh tế không chỉ diễn ra trong công nghiệp mà trong cả nông nghiệp Tuy nhiên khủng hoảng trong nông nghiệp thường kéo dài hơn khủng hoảng trong công nghiệp Đó là do chế độ độc quyền tư hữu về ruộng đất đã ngăn cản việc đổi mới tư bản cố định để thoát khỏi khủng hoảng Mặt khác, vẫn còn một
số lượng lớn nông dân sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ và điều kiện sống duy nhất của
họ là trồng cây thương phẩm trên diện tích đất canh tác của họ Vì vậy, ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng, họ vẫn phải duy trì sản xuất
6 Giải pháp
Thứ nhất: tiếp tục thực hiện các nhóm giải pháp chống lạm phát, nhất là tiếp tục chính sách tiền tệ chặt chẽ nhưng linh hoạt, thận trọng theo cơ chế thị trường
Trang 12của thị trường Bên cạnh đó đổi mới và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, tránh tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới
Thứ hai: tăng cường sự giám sát của Chính phủ đối với hệ thống tài chính, ngân hàng và thị trường chứng khoán Kiểm tra chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là tín dụng dành cho các lĩnh vực nhiều rủi ro như bất động sản, chứng khoán Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm với các tiêu chí cụ thể
để có phương án, giải pháp dự phòng đối với biến động xấu từ hệ thống ngân hàng, tài chính
Thứ ba: đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, có chính sách hỗ trợ với những đối tượng khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi đến các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả
Có chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hợp lý Tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trong các tháng cuối năm
Thứ tư: tiếp tục các chính sách về chặt chẽ chi tiêu Chính phủ và đầu tư khu vực công nhằm tránh xảy ra nguy cơ thâm hụt ngân sách Việc thắt chặt chi tiêu Chính phủ và chuyển các khoản đầu tư công sang cho tư nhân sẽ góp phần vào việc giảm thuế cho khu vực doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Đẩy mạnh đầu
tư cho các dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật lớn, quan trọng để kích thích kinh tế phát triển
Thứ năm: cải cách và tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, phê duyệt dự án và giải ngân để tạo điều kiện các dự án được triển khai nhanh, đặc biệt là đối với các công ty xây dựng Đối với kinh doanh bất động sản thì bên cạnh đẩy mạnh và khuyến khích đầu tư và xây dựng nhà giá rẻ cho người nghèo, các đối tượng chính sách, nhà ở cho người lao động ở các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, nhà ở cho sinh viên, học sinh, cần hạn chế và đánh thuế cao vào các trường hợp đầu cơ bất động sản