1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) đề tài lý luận về giá trị hàng hóa và vận dụng để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế việt nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

18 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận về giá trị hàng hóa và vận dụng để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
Người hướng dẫn PGS.TS. Tô Đức Hạnh
Trường học Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị Mác – Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 292,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng hóa a Khái niệm Hàng hóa là sản phẩm của lao động mà có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.. Đề trở thành hàng hóa một vật cần phải có: - Tính

Trang 1

VIỆN KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN

-🙞🙞🙞🙞🙞

BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN

Đề tài: Lý luận về giá trị hàng hóa và vận dụng để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập

kinh tế quốc tế

Mã sinh viên: 11203084 LHP: LLNL1106(121)_08 GVHD: PGS.TS Tô Đức Hạnh

Hà Nội, 2021

Trang 2

Kiểm toán 62B

MỤC LỤC

I Lý luận về giá trị hàng hóa 2

1 Hàng hóa 2

a) Khái niệm 2

b) Các thuộc tính cơ bản của hàng hóa 2

2 Lượng giá trị của hàng hóa 5

a) Thước đo lượng giá trị hàng hóa 5

b) Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa 6

II Thực trạng về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 7

1 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay 8

2 Đánh giá về thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay 9

a) Những kết quả đạt được 9

b) Những hạn chế và nguyên nhân 11

III Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế 13

1 Đối với Nhà nước 13

2 Đối với doanh nghiệp 14

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

I Lý luận về giá trị hàng hóa

1 Hàng hóa

a) Khái niệm

Hàng hóa là sản phẩm của lao động mà có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của

con người thông qua trao đổi, mua bán 1

Có rất nhiều tiêu thức để phân chia các loại hàng hóa như: hàng hóa thông

thường, hàng hóa đặc biệt, hàng hóa hữu hình, hàng hóa vô hình, hàng hóa tư nhân,

hàng hóa công cộng,…

o Dạng vật thể hữu hình Ví dụ như: sắt, thép, lương thực, thực phẩm, đồ thủ

công mỹ nghệ,…

o Dạng vật thể vô hình Ví dụ như: dịch vụ vận tải, chăm sóc sức khỏe, giải trí,

làm đẹp,…

Hàng hóa có thể cho một cá nhân sử dụng hoặc cho nhiều người sử dụng

Hàng hóa là một phạm trù lịch sử, nó chủ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng

hóa, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hóa khi nó là đối tượng

được mua bán trên thị trường

Các Mác định nghĩa hàng hóa trước hết là phải có khả năng thỏa mãn nhu cầu

của con người nhờ vào các tính chất của nó Đề trở thành hàng hóa một vật cần

phải có:

- Tính hữu dụng đối với người dùng

- Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động

- Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm

b) Các thuộc tính cơ bản của hàng hóa

Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa sẽ có bản chất

khác nhau nhưng trong bản thân mỗi loại hàng hóa đều sẽ chứa hai thuộc tính cơ

bản là giá trị và giá trị sử dụng

 Giá trị sử dụng của hàng hóa

1 Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, tr 23

Trang 4

Kiểm toán 62B

“Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm, có thể thoả mãn

nhu cầu nào đó của con người.” 2

Nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; có thể là nhu cầu

tiêu dùng cá nhân, có thể là nhu cầu cho sản xuất

Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định Chính công

dụng (tính có ích) đó làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng Ví dụ: Giá trị sử dụng

của cơm là để ăn, của áo là để mặc, của máy móc, thiết bị là để sản xuất,… Giá trị

sử dụng của hàng hóa do những thuộc tính tự nhiên (lý, hóa) của vật thể hàng hóa

quyết định, do đó, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn

Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển

của khoa học – kỹ thuật, của lực lượng sản xuất Vì vậy, khi xã hội càng tiến bộ,

lực lượng sản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều,

chủng loại giá trị sử dụng ngày càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày

càng tăng

Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng cho xã hội, do người khác chứ

không phải cho người trực tiếp sản xuất ra nó Giá trị sử dụng đến tay người tiêu

dùng thông qua trao đổi, mua bán Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải

luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được

nhu cầu của xã hội thì hàng hóa của hộ mới bán được Trong nền sản xuất hàng hóa

giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi, người ta không trao đổi những vật phẩm không có giá trị sử dụng

 Giá trị của hàng hóa

Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là

quan hệ tỷ lệ về sản lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác

Ví dụ: 1m vải = 10kg thóc Vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác

nhau về chất, tại sao chúng lại có thể trao đổi được với nhau và theo một tỷ lệ nhất

định nào đó?

2 Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, tr 23

Trang 5

Khi hai hàng hóa trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở

chung Cái chung đó không phải là giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng của vải là để

mặc, giá trị sử dụng của thóc là để ăn Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản

phẩm của lao động, đều có lao động kết tinh trong đó Nhờ có cơ sở chung đó mà

các hàng hóa có thể trao đổi được với nhau Vì vậy người trao đổi hàng hóa với

nhau chẳng qua là trao đổi lao động hao phí của mình ẩn giấu trong sản phẩm hàng hóa ấy Lao động hao phí tạo ra hàng hóa chính là cơ sở chung của việc trao đổi và

nó tạo thành giá trị của hàng hóa

Vậy, giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tính trong từng

sản phẩm Giá trị trao đổi mà chúng ta đề cập ở trên chỉ là hình thức biểu hiện bên

ngoài của giá trị, còn giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị thay đổi Giá trị biểu

hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa, khi nào còn sản xuất và trao đổi hàng hóa thì những người sản xuất còn quan tâm tới giá trị Vì vậy, giá trị là

một phạm trù lịch sử gắn liền với nghề sản xuất hàng hóa Sản phẩm nào có lao

động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao

 Mối quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng

Giữa hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn

nhau Trong đó, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi

là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau,

những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hóa với nhau

Thực chất của quan hệ trao đổi là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của

mình chứa đựng trong các hàng hóa Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ xã hội giữa

những người sản xuất hàng hóa Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền

sản xuất hàng hóa Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính

xã hội của hàng hóa

Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng là

sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản xuất hàng hóa, họ quan tâm

đến giá trị sử dụng để đạt được mục đích giá trị Ngược lại, với người mua, cái mà

Trang 6

Kiểm toán 62B

họ quan tâm là giá trị sử dụng, nhưng muốn có giá trị sử dụng thì phải trả giá trị

cho người sản xuất ra nó Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụng của hàng hóa phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện

được giá trị sử dụng

2 Lượng giá trị của hàng hóa

Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết

tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị hàng hóa là do lao động hao phí để sản xuất

ra hàng hóa đó quyết định

a) Thước đo lượng giá trị hàng hóa

Trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một hàng hóa nhưng điều kiện sản

xuất, trình độ tay nghề khác nhau,… làm cho thời gian lao động hao phí để sản xuất

ra hàng hóa là khác nhau Nhưng lượng giá trị của hàng hóa không do mức hao phí lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định mà bởi thời gian lao động

xã hội cần thiết

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung

bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn

cảnh xã hội nhất định Vậy, thực chất, thời gian lao động xã hội cần thiết là mức

hao phí lao động xã hội trung bình để sản xuất ra hàng hóa Thời gian lao động xã

hội cần thiết có thể thay đổi Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng thay đổi

Trong thực hành sản xuất, người sản xuất cần phải tích cực đổi mới, sáng tạo

nhằm giảm thời gian hao phí lao động cá biệt tại đơn vị sản xuất của mình xuống

mức thấp hơn mức hao phí trung bình cần thiết Khi đó sẽ có được ưu thế trong

cạnh tranh

Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được sản xuất ra

bao hàm: hao phí lao động quá khứ (chứa trong các yếu tố vật tư, nguyên nhiên liệu

đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa đó) + hao phí lao động mới kết tinh thêm

Trang 7

b) Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa.

Lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa được đo lường bởi thời gian lao động

xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa đó, cho nên, về nguyên tắc, những nhân tố

nào ảnh hưởng tới lượng thời gian hao phí xã hội cần thiết để sản xuất ra một đơn

vị hàng hóa tất sẽ ảnh hưởng tới lượng giá trị của đơn vị hàng hóa Có ba nhân tố

cơ bản sau ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá

 Thứ nhất, năng suất lao động.

Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số

sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để

sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động,

nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần

thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại Như vậy,

giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Mặt khác, năng suất lao

động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như điều kiện tự nhiên, trình độ trung

bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản

lý, quy mô sản xuất, nên để tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên Mục tiêu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp chỉ có thể đạt được bằng cách

tăng doanh thu thông qua mở rộng thị trường, tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ và

hạ giá thành sản phẩm Cải tiến năng suất giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu nêu trên Có thể nói, cải tiến năng suất là yếu tố gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Năng suất chính là thước đo hiệu quả và hiệu lực trong việc sử

dụng các nguồn lực và trong việc đạt được mục tiêu

 Thứ hai, cường độ lao động.

Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động

trong sản xuất

Trang 8

Kiểm toán 62B

Cường độ lao động phản ánh mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời

gian Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động

Cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hoá sản xuất ra

tăng lên và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng Do đó, giá trị của một

đơn vị hàng hoá là không đổi vì thực chất tăng cường độ lao động chính là việc kéo dài thời gian lao động Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý,

quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và đặc biệt là thể chất và tinh thần của

người lao động Chính vì vậy mà tăng cường độ lao động không có ý nghĩa tích cực với sự phát triển kinh tế bằng việc tăng năng suất lao động

 Thứ ba, mức độ phức tạp của lao động.

Theo đó, căn cứ vào mức độ phức tạp của lao động, ta có thể chia lao động

thành hai loại là lao động giản đơn và lao động phức tạp

Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ

thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được

Còn lao động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một

quá trình đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp

chuyên môn nhất định

Trong cùng một thời gian thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Tăng chất lượng của sản phẩm cần làm cho lao động phức tạp kết tinh

trong sản phẩm nhiều hơn Một sản phẩm làm ra có chất lượng tốt đòi hỏi lao động kết tinh trong đó phải phức tạp, tỉ mỉ Vì vậy, tay nghề của lao động rất quan trọng

Khi trình độ của người lao động tăng cao cũng có nghĩa lao động phức tạp kết

tinh trong hàng hóa tăng lên, làm cho sản phẩm làm ra ngày càng có chất lượng,

mẫu mã phù hợp, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng Đây là một trong những

điều kiện để tăng năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam ở thị trường trong

nước và trên thế giới

II Thực trạng về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong bối

cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 9

1 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91%, là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020 Trong mức tăng chung của toàn nền kinh

tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 13,5% vào tốc độ

tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng

tăng 3,98%, đóng góp 53%; khu vực dịch vụ tăng 2,34%, đóng góp 33,5%

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2020 ước tính đạt 543,9 tỷ USD,

tăng 5,1% so với năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 281,5 tỷ

USD, tăng 6,5%; nhập khẩu hàng hóa đạt 262,4 tỷ USD, tăng 3,6% Cán cân

thương mại hàng hóa năm 2020 ước tính xuất siêu 19,1 tỷ USD, mức cao nhất

trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016

- Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành năm 2020 đạt 2.164,5 nghìn

tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm trước và bằng 34,4% GDP Trong đó vốn khu vực

Nhà nước đạt 729 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 972,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,1%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài đạt 463,3 nghìn tỷ đồng, giảm 1,3%

- Năm 2020, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 53,4 triệu người, bao gồm

17,5 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 7,2%

so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng 16,5 triệu người, tăng 0,3%;

khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, tăng 0,1% Tính chung năm 2020, tỷ lệ thất

nghiệp chung ước tính là 2,26%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là

3,61%; khu vực nông thôn là 1,59%

- Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2020 ước tính

đạt 117,9 triệu đồng/lao động (tương đương 5.081 USD/lao động, tăng 290 USD so

với năm 2019); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 5,4% do trình độ của

người lao động ngày càng được nâng cao - tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng,

chứng chỉ từ sơ cấp trở lên năm 2020 là 24,1%, cao hơn 1,3 điểm phần trăm so với

Trang 10

Kiểm toán 62B

năm 2019 (22.8%) Tỷ lê } này ở khu vực thành thị là 39,9%, trong khi đó tỷ lê } này ở

khu vực nông thôn là 16,3%

- Khoa học công nghệ ứng dụng thể hiện qua trình độ công nghệ có những bước

tiến r~ nét Chỉ số đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng

trưởng tăng từ 33,6% bình quân giai đoạn 2011-2015 lên 45,2% giai đoạn

2016 – 2020 (vượt mục tiêu 35%); KHCN ngày càng đóng góp nhiều vào giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao

trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm

2020 Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam (GII) trong những năm gần đây liên

tục tăng vượt bậc, năm 2020 xếp thứ 42/131 quốc gia, dẫn đầu nhóm quốc gia có

cùng mức thu nhập và đứng thứ 3 trong ASEAN

- Theo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) đánh giá và xếp hạng các nền

kinh tế trên thế giới về khả năng cạnh tranh, năm 2017, Việt Nam xếp hạng thứ

55/137 nền kinh tế, tăng 5 bậc so với năm 2016 và là thứ hạng cao nhất của Việt

Nam kể từ khi WEF công bố GCI Trải qua 10 năm, GCI của Việt Nam cải thiện

được 13 bậc, từ thứ hạng 68/131 năm 2007 đã lên 55/137 năm 2017 và chuyển từ

nhóm nửa dưới của bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu lên nhóm nửa trên Năm

2019, GCI của Việt Nam tăng 10 bậc so với năm 2018, xếp thứ 67/141 nền kinh tế Đánh giá của WEF về chi tiết 12 tiêu chí của Việt Nam cho thấy, 8/12 tiêu chí của

Việt Nam tăng điểm và tăng nhiều bậc

2 Đánh giá về thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay

a) Những kết quả đạt được

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91%, tuy là mức tăng thấp

nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020, nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19

diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội thì đây là

thành công lớn của Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất

thế giới Điều này cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo, điều hành khôi phục kinh

tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn bộ hệ thống chính

Ngày đăng: 02/12/2022, 17:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w