Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm; Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm ở trường phổ thông hiện nay; Nghiên cứu cấu trúc và đặc điểm chương “Từ trường” Vật lí 11 nâng cao; Đề xuất nguyên tắc và các bước sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học nhóm; Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Từ trường” có áp dụng quy trình sử dụng phối hợp TN và PHT trong DH nhóm chương “Từ trường” Vật lí lớp 11 nâng cao; Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm và rút ra kết luận; Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết của đề tài.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu của đề tài
3 Giả thuyết khoa học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5 Đối tượng nghiên cứu
6 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
7 Các phương pháp nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHỐI HỢP THÍ NGHIỆM VÀ PHIẾU HỌC TẬP TRONG TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM
1.1 Dạy học nhóm
1.1.1 Khái niệm
1.1.2 Các hình thức tổ chức dạy học nhóm
1.1.3 Các phương tiện hỗ trợ tổ chức dạy học nhóm
1.2 Thí nghiệm trong dạy học nhóm
1.2.1 Thí nghiệm là phương tiện để tổ chức hoạt động nhóm
1.2.2 Thí nghiệm góp phần phát triển nhân cách toàn diện của học sinh
1.2.3 Thí nghiệm có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của tiến trình dạy học nhóm
1.3 Phiếu học tập trong dạy học nhóm
1.3.1 Phiếu học tập là phương tiện để tổ chức hoạt động nhóm
Trang 21.3.2 Phiếu học tập là phương tiện để rèn luyện kỹ năng tự học, tìm tòi sáng tạo củahọc sinh
1.3.3 Phiếu học tập là phương tiện cung cấp thông tin cho HS
1.4 Sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học nhóm
1.4.1 Sự cần thiết của việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy họcnhóm
1.4.2 Nguyên tắc sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm
1.4.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống TN sử dụng trong tổ chức DH nhóm
1.4.2.2 Nguyên tắc thiết kế PHT
1.4.2.3 Nguyên tắc sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học nhóm
1.4.3 Các bước thiết kế PHT để sử dụng phối hợp TN trong tổ chức dạy học nhóm 1.4.3 Các bước sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm
1.5 Thực trạng sử dụng TN và PHT trong dạy học nhóm ở trường THPT
2.1 Đặc điểm của chương “Từ trường” Vật lí 11 nâng cao
2.1.1 Cấu trúc và mục tiêu dạy học chương “Từ trường” Vật lí 11 nâng cao
2.1.2 Đặc điểm nội dung kiến thức
2.2 Những kiến thức của chương có thể tổ chức dạy học nhóm có sử dụng thínghiệm
2.3 Hệ thống TN sử dụng trong dạy học nhóm chương “Từ trường”
2.4 Thiết kế PHT phối hợp với TN để tổ chức dạy học nhóm chương “Từ trường”2.5 Sử dụng phối hợp TN và PHT trong tiến trình dạy học nhóm
2.5.1 Sử dụng phối hợp TN và PHT vào giai đoạn đề xuất vấn đề nghiên cứu giaonhiệm vụ
2.5.2 Sử dụng phối hợp TN và PHT vào giai đoạn hình thành kiến thức, kĩ năng mới
Trang 32.5.3 Sử dụng phối hợp TN và PHT vào giai đoạn củng cố, vận dụng kiến thức2.6 Thiết kế tiến trình dạy học theo nhóm một số kiến thức trong chương “Từtrường”có sử dụng phối hợp TN và PHT
2.7 Kết luận chương 2
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
3.2 Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm
3.3 Phương pháp của thực nghiệm sư phạm
3.4 Kết quả của thực nghiệm sư phạm
3.5 Kết luận chương 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5nghành giáo dục phải đổi mới một cách toàn diện về mục tiêu, nội dung, phươngpháp và phương tiện dạy học Trong đó việc đổi mới phương pháp dạy học vàphương tiện dạy học có tầm quan trọng đặc biệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ghi rõ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp
giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học; từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học" [5]
Luật Giáo dục (2005), tại điều 28.2 về nội dung và phương pháp giáo dục
phổ thông đã khẳng định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [17]
Để giúp người học tham gia vào đời sống xã hội một cách tích cực sáng tạotránh tính thụ động ỷ lại thì cần phải đổi mới nền giáo dục một cách toàn diện, đặcbiệt là đổi mới PHDH Dạy học theo nhóm là một trong những phương pháp dạyhọc tích cực nhằm hướng tới mục tiêu trên Với phương pháp này người học đượclàm việc cùng nhau theo các nhóm và mỗi thành viên trong nhóm đều có cơ hộitham gia vào nhiệm vụ đã được phân công sẵn do đó có thể phát huy tính tích cực,tinh thần hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động chiếm lĩnh kiến thức của HS.Tuy nhiên hiện nay, phần lớn ý kiến đều cho rằng việc tổ chức dạy học theo nhómcòn gặp một số khó khăn, chẳng hạn như dễ mất thời gian, học sinh mất trật tự…Không những thế, hiện nay giáo viên vẫn chưa vận dụng tốt hình thức này trong cáckhâu khác nhau của quá trình dạy học [18]
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm,vì vậy TN có một vai trò rất quan trọngtrong dạy học Vật lí Việc sử dụng TN Vật lí trong dạy học sẽ cũng cố niềm tin vàokhoa học của HS; góp phần đơn giản hóa, trực quan hóa kiến thức, giúp HS rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; đồng thời tạo không khí học tập tích cựcgiúp HS gần gũi, yêu thích môn Vật lí hơn Chính vì thế, việc sử dụng TN trong dạyhọc Vật lí có ý nghĩa rất quan trọng Tuy nhiên, qua điều tra thực trạng cho thấy ởmột số trường THPT việc sử dụng TN vật lí trong dạy học nhìn chung vẫn chưa đạt
Trang 6hiệu quả cao Nhiều GV còn chạy theo thi cử, ít quan tâm đến khả năng thực hànhcủa HS nên ít sử dụng TN Một số GV có ý thức sử dụng TN thì lại lúng túng khiđưa vào dạy học, lo ngại về thời gian và hướng dẫn HS rút ra kiến thức từ TN.Nguyên nhân của thực trạng trên là do nhiều GV chưa hiểu và phát huy hết vai tròcủa TN, sử dụng TN chưa phù hợp, HS chưa gắn việc quan sát TN với nhiệm vụhọc tập của mình và chưa biết suy luận từ TN [19], [20]
TN vật lí là phương tiện tạo điều kiện cho HS tham gia vào hoạt động dạy học.Tuy nhiên, nhiều HS vẫn gặp khó khăn do kỹ năng tự học còn hạn chế HS chưaquan sát được những hiện tượng quan trọng trong TN, chưa biết cách hợp tác nhóm
để suy luận, phân tích kết quả TN, cùng xây dựng kiến thức mới Do đó, nếu GV sửdụng PHT để định hướng hoạt động của HS thì hoạt động quan sát và tư duy củacác em sẽ đạt hiệu quả hơn Sử dụng phối hợp TN và PHT giúp GV tổ chức hoạt
động học tập của HS theo định hướng của mình một cách hiệu quả hơn [20], [28]
Trong chương “từ trường” vật lí 11 nâng cao có những khái niệm, hiện tượng
cơ bản HS đã được nghiên cứu ở lớp 9, tuy nhiên do trình độ còn thấp nên các hiệntượng đó chỉ được khảo sát một cách định tính, sơ lược chứ không đi sâu vào mặtđịnh lượng Bên cạnh đó có những khái niệm những định luật vật lí không quá phứctạp, các TN để tìm hiểu các khái niệm hay kiểm chứng các định luật không quá khó
để thực hiện Ngoài ra trong chương này còn có nhiều kiến thức liên quan đến cáchiện tượng trong thực tế Đây là những đặc điểm rất phù hợp để GV tổ chức cho HS
tự chiếm lĩnh tri thức thông qua hoạt động nhóm với sự hỗ trợ phối hợp của TN vàPHT Do đó việc khai thác sử dụng phối hợp TN và PHT làm phương tiện để tổchức các hoạt động dạy học Vật lí theo nhóm thực sự cần thiết
Từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Sử dụng phối hợp thí nghiệm và phiếu học tập trong tổ chức dạy học nhóm chương “Từ trường” vật lí 11 nâng cao”, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở
trường THPT
2 Mục tiêu của đề tài
Đề xuất nguyên tắc và các bước sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chứcdạy học nhóm chương “Từ trường” vật lí 11 theo hướng tích cực hóa hoạt độngnhận thức của học sinh
Trang 73 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức dạy học nhóm có sử dụng phối hợp thí nghiệm và phiếu học tậpmột cách hợp lý thì sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh qua
đó có thể nâng cao hiệu quả dạy học vật lý ở trường phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổchức dạy học nhóm;
- Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng TN và PHT trong tổ chức dạy họcnhóm ở trường phổ thông hiện nay;
- Nghiên cứu cấu trúc và đặc điểm chương “Từ trường” Vật lí 11 nâng cao;
- Đề xuất nguyên tắc và các bước sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy họcnhóm;
- Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Từ trường” có áp dụngquy trình sử dụng phối hợp TN và PHT trong DH nhóm chương “Từ trường” Vật lílớp 11 nâng cao;
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụngphối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm và rút ra kết luận;
- Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết của đề tài
5 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học vật lí trong đó chú trọng việc sử dụng phối hợp TN vàPHT trong dạy học nhóm
6 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
Trong nhiều năm qua do yêu cầu đổi mới PPDH và do đặc thù của bộ mônVật lí nên vấn đề sử dụng TN, PHT và vấn đề tổ chức DH nhóm đã được nhiều tácgiả quan tâm nghiên cứu với nhiều khía cạnh khác nhau:
Giáo trình “Thí nghiệm và phương tiện trực quan trong dạy học vật lý ở
trường phổ thông” của tác giả Lê Văn Giáo đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn
của việc sử dụng TN và PTTQ trong DH vật lí ở trường phổ thông
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu sử dụng phối hợp TN vật lý với các phương tiện
nghe nhìn trong dạy học vật lý lớp 9 trung học cơ sở” của tác giả Nguyễn Văn
Thạnh đã đi sâu khai thác và sử dụng phối hợp TN với các phương tiện nghe nhìn
Trang 8mang lại hiệu quả cao cho giờ học, đồng thời đưa ra quy trình thiết kế bài dạy học
có sử dụng phối hợp TN với các phương tiện nghe nhìn
Tác giả Trần Huy Hoàng qua đề tài “Nghiên cứu sử dụng TN với sự hỗ trợ của
máy vi tính trong DH một số kiến thức Cơ học và Nhiệt học THPT” đã đề cập đến
việc sử dụng máy tính để khai thác các TN mô phỏng, TN ảo của phần cơ học, nhiệthọc và sử dụng trong DH
Bài báo “Thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học hợp tác” của tác giả Đặng
Thành Hưng trong Tạp chí Phát triển Giáo dục số 8, tháng 8/2004 đã đề cập đếnchức năng của một số dạng PHT và cách thiết kế cũng như quy trình sử dụng PHTtrong dạy học hợp tác
Luận văn cao học “Thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học vật lý phần Sóng
ánh sáng và Lượng tử ánh sáng Vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông” của
Hoàng Châu Âu đã chỉ ra các kỹ thuật soạn thảo PHT, đề xuất quy trình thiết kế và
sử dụng PHT trong các khâu giới thiệu kiến thức mới và củng cố bài học Luận văn
cao học khóa “Bồi dưỡng năng lực tự học cho HS qua PHT trong dạy học phần
Quang hình học Vật lý 11 nâng cao trung học phổ thông” của Hà Thế Nhân đã
tuyển chọn, thiết kế và đề xuất các biện pháp sử dụng PHT nhằm nâng cao năng lực
tự học cho HS Lê Thị Thu Hảo cũng đã bổ sung được một số cơ sở lý luận cho việc
sử dụng PHT trong dạy học vật lý và đề xuất được quy trình sử dụng PHT với sự hỗ
trợ của máy vi tính trong đề tài luận văn thạc sĩ “Thiết kế và sử dụng PHT trong dạy
học phần Nhiệt học Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của máy vi tính” Luận văn
thạc sĩ “ Sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học phần “Quang hình học” Vật
lí 11 nâng cao” của tác giả Ngô Thị Diễm Phúc đã chỉ ra sự cần thiết sử dụng phối
hợp TN và PHT trong dạy học vật lí
Bên cạnh đó, có nhiều nghiên cứu quan tâm đến vấn đề tổ chức DH nhóm
Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả DH vật lí ở trường THPT thông qua các biện
pháp tổ chức hoạt động hợp tác nhóm” của Hồ Thị Bạch Phương đã xây dựng cơ sở
lí luận về DH nhóm và nêu lên được một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả DH
qua việc tổ chức hoạt động hợp tác nhóm cho HS Luận văn thạc sĩ “Tổ chức hoạt
động học tập theo nhóm trong quá trình DH phần Điện và Điện từ vật lí lớp 11
Trang 9nâng cao THPT” của Lê Khắc Thuận đã trình bày về cơ sở lí luận của việc tổ chức
hoạt động nhóm nhằm phát huy năng lực nhận thức của HS trong DH vật lí
Các nghiên cứu trên chỉ đề cập đến những phần cụ thể riêng lẽ, cho đến naychưa có đề tài nào nghiên cứu về việc sử dụng phối hợp TN và PHT như là mộtphương tiện trong tổ chức DH nhóm chương “Từ trường” vật lí 11 nâng cao
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng; các văn bản Nhà nước và của ngànhGiáo dục về dạy học và đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở trường trung họcphổ thông;
- Nghiên cứu tài liệu về Giáo dục học, Tâm lý học, Sinh lý học và các côngtrình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài;
- Nghiên cứu nội dung chương trình chương “Từ trường”vật lí 11 nâng cao
7.2 Phương pháp điều tra
Điều tra, thăm dò ý kiến GV và HS về thực trạng, những thuận lợi và khó khănkhi sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học vật lí theo nhóm ở trường trunghọc phổ thông
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành TNg sư phạm một số tiết dạy có đối chứng (ĐC) tại một số lớp ởcác trường trung học phổ thông để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phốihợpTNvà PHT trong tổ chức dạy học nhóm chương “Từ trường”
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học xử lí các kết quả thu được từ TNg sưphạm và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của hainhóm TNg và ĐC Từ đó kiểm định giả thuyết khoa học và đánh giá kết quả đề tàinghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phối hợp TN và PHTtrong tổ chức dạy học nhóm
- Chương 2: Sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy học nhómchương “Từ trường” vật lí 11
Trang 10- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHỐI HỢP THÍ NGHIỆM VÀ PHIẾU HỌC TẬP TRONG TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM
1.1 Dạy học nhóm
1.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều định nghĩa về PPDH nhóm:
Trang 11Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: “Thảo luận nhóm nhỏ là phương pháp trong đó
nhóm lớp (lớp học) được phân chia thành nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một vấn đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó ”[14].
Như vậy, DH nhóm có thể hiểu đó là một hình thức dạy học trong đó GV chia
HS thành những nhóm nhỏ dưới sự điều khiển của nhóm trưởng nhằm giải quyếtnhững nhiệm vụ học tập qua trao đổi tương tác giữa các thành viên trong nhóm vàgiữa các nhóm với nhau
1.1.2 Các hình thức tổ chức DH nhóm
Có nhiều hình thức tổ chức DH nhóm, tùy vào mục đích, ý đồ sử dụng và điềukiện dạy học GV có thể lựa chọn các hình thức khác nhau Sau đây là các hình thứcphổ biến [4], [23]:
a Nhóm hai HS
Nhóm hai HS là hình thức hai HS ngồi kề nhau trao đổi với nhau để giảiquyết các vấn đề GV giao cho như một câu hỏi, một bài tập hay một vấn đề đơngiản nào đó
GV cần cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, các gợi ý và yêu cầu của vấn
đề để người học tranh luận giải quyết Trong quá trình giải quyết các tình huống,
+ Khi giao cho HS chấm bài, sửa bài cho nhau
+ Trường hợp sau khi giao việc cho từng cá nhân, HS trao đổi kinh nghiệmnhằm giải quyết tình huống đã đề ra
Trang 12b Nhóm nhỏ thông thường
Nhóm nhỏ thông thường gồm (4 – 5) HS hoặc (7 - 8) HS, cùng nhau thảoluận một vấn đề cụ thể nào đó có qui định về thời gian và nhanh chóng kết luận tậpthể về vấn đề đó
Với nhóm nhỏ thông thường thì có 2 hình thức tổ chức thảo luận Đó là hìnhthức hoạt động trao đổi và hình thức hoạt động so sánh:
+ Trong hoạt động trao đổi, mỗi nhóm giải quyết 1 vấn đề khác nhau (nhưngcùng 1 chủ đề), sau đó trao đổi vấn đề và giải quyết vấn đề của nhóm mình đối vớinhóm khác
+ Trong hoạt động so sánh, tất cả các nhóm cùng giải quyết một vấn đề, sau
đó so sánh cách giải quyết khác nhau giữa các nhóm
- Ưu điểm:
+ Việc sắp xếp vị trí của các thành viên trong nhóm phù hợp với điều kiện cơ
sở vật chất trong lớp học ở nước ta
+ Có hai hình thức thảo luận (hoạt động trao đổi và hoạt động so sánh) có thể
+ Hình thức hoạt động so sánh thường dùng cho những bài học có dunglượng không lớn
c Nhóm chuyên gia
Trang 13Hình thức tổ chức nhóm chuyên gia là hình thức mà ban đầu GV chia lớpthành nhiều nhóm, mỗi nhóm gọi là nhóm gốc gồm những HS có trách nhiệm cùngnhau tìm hiểu những thông tin đầy đủ, trong đó mỗi HS được phân công tìm hiểumột phần của các thông tin đó Sau đó GV lập nhóm chuyên gia gồm tập hợp những
HS ở trong những nhóm gốc khác nhau có cùng chung một nhiệm vụ tìm hiểu sâumột phần thông tin
Như vậy, một HS sẽ nhận nhiệm vụ từ nhóm gốc, cùng làm việc và trao đổi
kĩ ở nhóm chuyên gia Sau đó, lại trở về nhóm gốc để trình bày kết quả về các thôngtin mình đã thu thập được
- Nhược điểm:
Mất nhiều thời gian trong quá trình hoạt động nhóm do mỗi HS phải hoạtđộng trong hai nhóm khác nhau (nhóm gốc và nhóm chuyên gia)
- Áp dụng:
+ Thích hợp khi dạy những môn chuyên ngành, những vấn đề khó
+ Áp dụng cho lớp học có khoảng trên dưới 20
d Nhóm kim tự tháp
Hình thức tổ chức nhóm kim tự tháp là hình thức mở rộng của nhóm hai HS.Đây là cách tổng hợp ý kiến tập thể của lớp học về một vấn đề của bài học Đầu tiên
GV nêu một vấn đề cho các HS làm việc độc lập Sau đó ghép 2 HS thành một cặp
để các HS chia sẻ ý kiến của mình Kế đến các cặp sẽ tập hợp thành nhóm 4, nhóm
8, nhóm 16…Cuối cùng cả lớp sẽ có 1 bảng tổng kết các ý kiến hoặc một giải pháptốt nhất để giải quyết một vấn đề
- Ưu điểm:
Trang 14Với hình thức này, một vấn đề được thảo luận nhiều lần và thông qua nhiềunhóm khác nhau Như vậy, bất kỳ ý kiến các nhân nào cũng đều dựa trên ý kiến của
số đông
- Nhược điểm:
Mất nhiều thời gian trong quá trình hoạt động nhóm
- Áp dụng:
Mô hình này phù hợp với các tiết dạy ôn tập chương hay cuối một học kì khi
HS cần nhớ lại các định nghĩa, khái niệm, công thức…đã học trong một chương
1.1.3 Các phương tiện hỗ trợ tổ chức dạy học nhóm
a Phiếu học tập
Trong dạy học nhóm đòi hỏi học sinh phải tích cực hoạt động và tự lực tìm rakiến thức còn GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn.Trong hoạt động nhóm,PHT là một phương tiện hỗ trợ hoạt động tự lực của HS, giao nhiệm vụ, định hướng
và gợi ý để HS tự tìm tòi kiến thức PHT đặt ra nhiệm vụ học tập và cụ thể hóathành các vấn đề, các bài tập, các câu hỏi, từ đó HS sẽ thực hiện nhiệm vụ GV đề ra
mà không lệch hướng khỏi vấn đề đang nghiên cứu PHT đưa ra những hướng dẫn,những gợi ý về cách thực hiện nhiệm vụ học tập, HS tự mình ghi lại kết quả nghiêncứu trên phiếu Điều đó làm cho các vấn đề trở nên vừa sức với HS, giúp các em tựtin và mạnh dạn thể hiện khả năng của mình [9], [15]
b Thí nghiệm
Thí nghiệm là một trong những phương tiện quan trọng trong hoạt động nhậnthức con người, thông qua thí nghiệm con người thu nhận được những tri thức khoahọc cần thiết nhằm nâng cao năng lực của bản thân để có thể tác động và cải tạo thựctiễn Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm nên việc sử dụng các thí nghiệm Vật
lý ở trường THPT là một trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chấtlượng dạy học, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS Thí nghiệm Vật
lý còn có tác dụng to lớn trong việc phát triển năng lực nhận thức khoa học của HS,giúp HS làm quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học Đối với dạy họcnhóm, thí nghiệm có thể được sử dụng như là một phương tiện tổ chức để làmviệc theo nhóm Khi tiến hành thí nghiệm đòi hỏi HS phải tự lực làm việc vàphối hợp với nhau, qua đó phát huy vai trò của từng cá nhân và tính cộng đồngtrách nhiệm trong công việc của các em Thí nghiệm có thể được sử dụng ở tất cả
Trang 15các giai đoạn khác nhau của tiến trình dạy học nhóm: đề xuất vấn đề nghiên cứu,giao nhiệm vụ; hoạt động nhóm để hình thành kiến thức mới, kỹ năng mới; cũng cốkiến thức, kỹ năng đã thu được.[21]
c Sách giáo khoa
SGK là một phương tiện quan trọng trong dạy học Vật lý ở trường THPT, nóthực hiện đồng thời chức năng là phương tiện làm việc của HS và là phương tiện hỗtrợ để GV thực hiện chương trình dạy học đã quy định SGK được sử dụng trong dạyhọc nhóm để HS tóm tắt bài với người bên cạnh, đọc và giải thích tài liệu theo từngcặp, giải quyết các vấn đề theo nhóm
Sử dụng BĐTD sẽ khắc phục được những hạn chế đó bởi BĐTD tạo nên sự đồngthuận trong nhóm, các thành viên đều suy nghĩ tập trung vào một vấn đề chung cầngiải quyết, tránh được hiện tượng lan man và đi lạc chủ đề BĐTD còn tạo nên sựcân bằng giữa các cá nhân và cân bằng trong tập thể Mọi thành viên đều đóng góp
ý kiến và cùng nhau xây dựng BĐTD của cả nhóm Các thành viên tôn trọng ý kiếncủa nhau và các ý kiến đều được thể hiện trên BĐTD
Trong thảo luận nhóm, BĐTD là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi nótối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể Mỗi thành viên đều rèn luyện đượckhả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học Sử dụng BĐTD giúpcho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống Việcghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìn vào BĐTD, bất kỳ thànhviên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học
e Các phương tiện nghe nhìn
Trang 16Các video clip ghi lại các hiện tượng vật lí diễn ra trong thực tế hoặc dựng các
TN mô phỏng, TN ảo Thông thường, đây là những hiện tượng không thể tiến hànhtrong phạm vi trường học, nhưng nó có thể quan sát trong thực tế cuộc sống Trongdạy học nhóm, các video clip có thể được sử dụng trong giai đoạn tạo tình huốnggiúp HS xác định nhiệm vụ học tập hoặc sử dụng trong việc đánh giá kiến thức, kĩnăng của HS Đặc biệt nhờ kĩ thuật quay chậm lại tạo điều kiện thuận lợi để HS dễquan sát hiện tượng nghiên cứu Đồng thời, kết hợp với phương pháp phân tíchbăng ghi hình nhờ MVT và các phần mềm tương ứng có thể tạo điều kiện cho việcthu thập số liệu, đặc biệt cho việc thực hiện các phép tính toán trong khi phân tích
và xử lí số liệu cũng như việc trình bày các kết quả xử lí đó một cách chính xác vànhanh chóng Từ đó HS có thể tự rút ra qui luật của quá trình Vật lí đang nghiêncứu Với chức năng này, video clip còn được sử dụng hỗ trợ đắc lực trong giai đoạncác nhóm giải quyết vấn đề bằng PP thực nghiệm và trình bày vấn đề mà nhómnghiên cứu
Các phần mềm ứng dụng chuyên dùng hỗ trợ cho việc dạy học bằng MVT gọi
là phần mềm dạy học Tuỳ thuộc vào hình thức sử dụng và chức năng sư phạm mà
có thể chia phần mềm dạy học thành các loại khác nhau Trong dạy học Vật lí có thểchia phần mềm dạy học thành các nhóm sau: phần mềm mô phỏng, minh hoạ, trìnhdiễn; phần mềm hệ thống hoá kiến thức, ôn tập và tổng kết kiến thức; phần mềm
xử lí các số liệu thí nghiệm; phần mềm kiểm tra đánh giá HS Trong mô hình họchợp tác, phần mềm đóng vai trò hỗ trợ trong các giai đoạn cụ thể như:
Trong giai đoạn các nhóm xác định nhiệm vụ học tập, việc sử dụng các phầnmềm mô phỏng có tác dụng tạo hứng thú và gợi động cơ học tập tích cực cho HS.Trong quá trình làm việc hợp tác, các ý tưởng của nhóm, sự phối hợp giữa các thànhviên được hỗ trợ thể hiện thông qua các phần mềm trình diễn Ví dụ khi trình bàymột vấn đề của một nhóm, các thành viên thông qua một phần mềm trình diễn(Microsoft powerpoint), các thành viên thể hiện chính sự hợp tác và kết quả củamình ngay trong một bài trình diễn Việc trình diễn và thể hiện này cũng là cơ hộicủa người học kiểm tra độ chắc chắn của thông tin, của kiến thức mà HS thu được;
và cũng thông qua đây, người dạy có thể kiểm tra đánh giá việc hợp tác nhómcủa các người học Bên cạnh đó, phần mềm xử lí số liệu cũng đóng vai trò hỗ trợ
Trang 17HS xử lí sô liệu thực nghiệm, giúp các nhóm trong giai đoạn giải quyết vấn đề,nhiệm vụ của nhóm Ở giai đoạn đoạn đánh giá và chấm điểm các nhóm, các phầnmềm hỗ trợ đắc lực cho GV trong khâu quản lí hoạt động mỗi nhóm và quản lí điểmcủa từng cá nhân từng nhóm cụ thể.
1.2 Thí nghiệm trong dạy học nhóm
1.2.1 Thí nghiệm là phương tiện để tổ chức hoạt động nhóm
Hình thức nhóm là hình thức HS phải tích cực, chủ động trong việc tìm kiếmtri thức.Trong các tiết học được tổ chức theo hình thức nhóm, HS tham gia vào cácnhóm học tập và tự suy nghĩ về các vấn đề của bài học, từ đó nêu ý kiến và lắngnghe các ý kiến của các thành viên khác trong nhóm Do đó không phải tất cả cácnội dung kiến thức đều phải tổ chức DH nhóm, mà chỉ có những nội dung kiến thức
HS có khả năng tự tìm hiểu, tự nghiên cứu mới cần thiết tổ chức DH nhóm Trên cơ
sở đó, các kiến thức phù hợp với việc tổ chức hoạt động nhóm có thể là: bài họcnghiên cứu một định luật bằng thực nghiệm, nghiên cứu một khái niệm mới và vậndụng những kiến thức mới vào thực tiễn hoặc để giải thích các hiện tượng, giảiquyết các vấn đề, tình huống phức tạp Các nội dung kiến thức này đều gắn liền với
TN Việc tổ chức dạy học nhóm sẽ đạt hiệu quả cao khi GV biết sử dụng TN, đặcbiệt là TN học sinh làm phương tiện để tổ chức các hoạt động nhóm một cách phùhợp
1.2.2 Thí nghiệm góp phần phát triển nhân cách toàn diện của học sinh
Việc sử dụng TN trong dạy học theo nhóm góp phần quan trọng vào việc pháttriển nhân cách toàn diện của học sinh
Thí nghiệm là phương tiện rèn luyện về kỹ năng, kỹ xảo về vật lí của học sinh.
Trong quá các nhóm tiến hành TN tiến hành học sinh được rèn luyện các kỹ năng
kỹ xảo như: sử dụng các nguồn điện, các dụng cụ đo ( thước, các loại đồng hồ, cân,lực kế, nhiệt kế, vôn kế ), đọc và lắp thí nghiệm theo sơ đồ thí nghiệm, sơ đồ cácmạch điện đơn giản, gia công các bảng ghi các giá trị đo và được giáo dục thóiquen làm việc khoa học của người làm TN như: tuân thủ các giai đoạn của quá trình
TN, tìm hiểu kỹ cách sử dụng các dụng cụ TN trước khi sử dụng , chú ý đảm bảođiều kiện an toàn trong khi tiến hành TN, đánh giá, phân tích kết quả TN Đối vớihình thức hoạt động nhóm, HS phải tham gia tích cực vào quá trình thảo luận nhóm,
Trang 18đưa ra các ý kiến về vấn đề đang nghiên cứu Để làm được điều đó, HS cần đượcrèn luyện kỹ năng thu thập và xử lí thông tin TN là phương tiện rèn luyện cho HS
kỹ năng này Thông qua việc nắm bắt những yếu tố như: diễn biến của các hiệntượng, quá trình TN, những sự thay đổi của đối tượng tham gia vào quá trình, hiệntượng trên; sự biến đổi của đại lượng vật lí này theo các đại lượng vật lí khác; sựgiống nhau, khác nhau giữa những biểu hiện của nguyên nhân, kết quả trong nhữngđiều kiện, những lần TN khác nhau, HS thu thập được các thông tin cần thiết.Vớihoạt động nhóm, HS được tăng cường việc tự tiến hành TN Khi các nhóm HS tiếnhành TN, ban đầu các em thường có những dự đoán về kết quả TN Sau khi tiếnhành TN sẽ có kết quả và các em sẽ tiến hành đối chiếu với dự đoán ban đầu, từ đóđưa ra những giải thích cụ thể để xác định chân lý của vấn đề Để làm được điềunày đòi hỏi người học phải sử dụng các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, sosánh, khái quát hóa, mô hình hóa, suy luận, diễn dịch….Từ đó, kỹ năng xử lí thôngtin cụ thể tương ứng như kỹ năng phân tích, kỹ năng tổng hợp, kỹ năng so sánh, kỹnăng khái quát hóa được hình thành và phát triển [21], [23]
TN góp phần phát triển năng lực nhận thức khoa học của HS Trong quá
trình làm TN, HS được làm quen với phương pháp nhận thức khoa học TN là sựlặp lại các hiện tượng vật lí có chủ định, do vậy việc thực hiện TN chính là chìakhóa để nhận thức vấn đề, để tìm hiểu được hiện tượng vật lí và đưa ra câu trả lời,giải đáp cho các suy luận vật lí Khi tiến hành TN, HS được rèn luyện các năng lựcthực nghiệm và được bồi dưỡng các yếu tố của năng lực hoạt động trí tuệ như: nănglực đề xuất giả thuyết, phân tích, mô tả các hiện tượng, quá trình vật lý, tổng hợpcác mặt, các khía cạnh trong mối liên hệ với nhau, khái quát hoá thành những kếtluận tổng quát nhờ phép quy nạp, sau đó đối chiếu các kết luận này với giả thuyết
đã đề xuất, và giải thích, so sánh các hiện tượng, quá trình vật lý, các ứng dụngtrong sản xuất và đời sống của kiến thức đã học Đây chính là con đường nhận thứckhoa học
TN góp phần bồi dưỡng các phẩm chất của học sinh Các TN do các nhóm
tiến hành đòi hỏi sự phân công, phối hợp những công việc tự lực của học sinh trongtập thể Vì vậy trong quá trình TN đã diễn ra quá trình bồi dưỡng phẩm chất đạo
đức, xây dựng các chuẩn mực hành động tập thể Giúp hình thành các phẩm chất và
Trang 19các kĩ năng xã hội cần thiết như: tính chính xác, tính khoa học, tính trung thực, kĩnăng tổ chức, quản lí, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng hợp tác, có trách nhiệmcao, tinh thần đồng đội, sự quan tâm và mối quan hệ khăng khít, sự ủng hộ cá nhân
và khuyến khích tinh thần học hỏi lẫn nhau, xác định giá trị của sự đa dạng và tínhgắn kết Có những cảm xúc về trách nhiệm với nhóm và khuyến khích ý thức tựgiác, tự kỉ luật; phương tiện rèn luyện và duy trì các mối quan hệ liên nhân cách.Quá trình cùng nhau cố gắng giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong quá trình thínghiệm có nhiều điểm chung với quá trình làm việc tập thể trong cuộc sống sựnghiệp sau này của học sinh [21]
1.2.3 Thí nghiệm có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của tiến trình dạy học nhóm
Thí nghiệm có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của tiến trìnhdạy học nhóm: đề xuất vấn đề nghiên cứu, giao nhiệm vụ; hoạt động nhóm để hìnhthành kiến thức mới, kỹ năng mới; củng cố kiến thức, kỹ năng đã thu được
Ở giai đoạn đề xuất vấn đề nghiên cứu, giao nhiệm vụ, GV có thể sử dụng TN
để tạo ra tình huống có vấn đề, kích thích trí tò mò, tạo ra nhu cầu hứng thú tìm tòikiến thức mới của học sinh
Với giai đoạn hoạt động nhóm để hình thành kiến thức mới TN có vai tròquan trọng không thể thay thế, đây là giai đoạn HS tích cực hoạt động và tự lực tìm
ra kiến thức, TN đóng vai trò là phương tiện để tìm ra câu trả lời cho vấn đề mà các
em đang nghiên cứu cũng như kiểm định lại các giả thuyết mà các em đã đưa ra.Bằng việc phân công nhiệm vụ trong nhóm và tiến hành thảo luận nhóm, các emhoàn toàn có thể tiến hành các TN để thu thập hệ thống các cứ liệu thực nghiệm, từ
đó khái quát hóa, quy nạp, kiểm tra được tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quảlogic rút ra từ giả thuyết đã đề xuất, hình thành kiến thức mới [21]
Ở giai đoạn củng cố kiến thức, kỹ năng của học sinh, TN sẽ là phương tiệntốt nhất để kiểm chứng và vận dụng các kiến thức, các kết luận mà các nhóm HSvừa thảo luận được
1.3 Phiếu học tập trong dạy học nhóm
Với đặc điểm của hình thức dạy học nhóm, PHT có vai trò rất quan trọng,trong hình thức dạy học nhóm:
Trang 201.3.1 Phiếu học tập là phương tiện để tổ chức hoạt động nhóm
Trong quá trình dạy học nhóm, học sinh phải tích cực hoạt động và tự lực tìm
ra kiến thức còn GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn Thông qua PHT, GV
giao nhiệm vụ cho HS, định hướng các hoạt động của HS kèm theo những hướng
dẫn, gợi ý cách làm Từ đó giúp HS tự lực, chủ động tìm kiếm kiến thức thông quatrao đổi thảo luận với các thành viên trong nhóm
Việc sử dụng PHT một cách thường xuyên giúp HS tự giác và chủ động tronghọc tập Trong PHT, GV đưa ra những hướng dẫn, những gợi ý về cách thực hiệnnhiệm vụ học tập, HS tự mình ghi lại kết quả nghiên cứu trên phiếu Điều đó làmcho các vấn đề trở nên vừa sức với HS, giúp các em tự tin và mạnh dạn thể hiện khảnăng của mình [9]
1.3.2 Phiếu học tập là phương tiện để rèn luyện kỹ năng tự học, tìm tòi sáng tạo của học sinh
Với chức năng định hướng, gợi ý PHT có tác dụng tốt trong việc rèn luyện kỹnăng tự học, tìm tòi sáng tạo của HS Nội dung của PHT có thể là những câu hỏi,những hướng dẫn, gợi ý về nhiệm vụ học tập mà HS phải sử dụng thị giác, phốihợp với các giác quan khác để xem xét các sự vật, hiện tượng một cách có ý thức,
có mục đích nhằm thu thập thông tin về sự vật, hiện tượng, từ đó phát triển kĩ năngquan sát của HS PHT có thể hướng dẫn các bước tiến hành TN giúp HS rèn luyện
kỹ năng sử dụng dụng cụ thí nghiệm, lắp đặt dụng cụ, xử lý số liệu, nhận xét kết quả
TN Để rút ra những nhận xét, kết luận, hoàn thành nhiệm vụ PHT thì đòi hỏi họcsinh cần phải suy luận, phân tích so sánh, khái quát hóa kiến thức, từ đó góp phầnrèn luyện kỹ năng học tập của học sinh
TN Vật lý có tính đa phương án, nhiều kiến thức Vật lí có những ứng dụnggần gũi với cuộc sống hằng ngày do đó học Vật lí đòi hỏi HS luôn phải tự tìm tòisáng tạo Thông qua những câu hỏi gợi mở, PHT có thể dẫn dắt học sinh vào hoạtđộng tìm tòi, khám phá, qua đó rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS
1.3.3 Phiếu học tập là phương tiện cung cấp thông tin cho HS
Các thông tin đó có thể là các văn bản, số liệu, hình ảnh… phục vụ cho nghiêncứu kiến thức mới Trong điều kiện hiện nay, khi nguồn kiến thức của nhân loạiđang tăng lên rất nhanh, những kiến thức trong khuôn khổ sách giáo khoa (SGK)
Trang 21không đủ để HS tham gia vào quá trình lao động sản xuất sau này Phiếu học tập làphương tiện để GV có thể cung cấp thêm các thông tin liên quan đến vấn đề đangnghiên cứu, những ứng dụng trong thực tế, ý nghĩa của vấn đề… giúp HS mở rộng
và nắm vững kiến thức hơn [11], [15]
Việc cung cấp thông tin qua PHT sẽ tiết kiệm được thời gian trình bày, thờigian giao câu hỏi, bài tập của GV do đó tạo điều kiện cho HS hoạt động nhiều hơntrong giờ học
1.4 Sử dụng phối hợp thí nghiệm và phiếu học tập trong dạy học nhóm
1.4.1 Sự cần thiết của việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm
Trong hình thức dạy học nhóm, TN là một trong các phương tiện để tổ chứccho HS hoạt động Qua TN, HS quan sát các hiện tượng xảy ra để từ đó thu thậpthông tin, phân tích tổng hợp xử lí thông tin thông qua thảo luận nhóm để tự tìm rakiến thức Tuy nhiên khi tiến hành TN phải qua nhiều khâu khác nhau: lắp ráp TN,tiến hành TN, xử lí kết quả và rút ra kết luận Nhiều HS khi tiến hành TN khôngbiết bắt đầu từ đâu, tiến hành TN như thế nào, và rút ra kết luận ra sao Để giúp HS
tự tìm kiếm kiến thức thông qua TN cần phải có những gợi ý, định hướng, chỉ dẫn.Những gợi ý, định hướng chỉ dẫn đó được thể hiện tốt nhất qua PHT
PHT đặt ra những nhiệm vụ học tập cụ thể, những yêu cầu hoạt động, nhữnghướng dẫn học tập, những công việc và vấn đề để người học thực hiện hoặc giảiquyết Những nhiệm vụ, yêu cầu được trình bày một cách logic, khoa học, trong đó
GV đã tính toán kĩ từng bước nhỏ, vừa sức với HS để các em có thể tự làm được,qua đó có thể tự mình chiếm lĩnh kiến thức mới
1.4.2 Nguyên tắc sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm 1.4.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống TN sử dụng trong tổ chức DH nhóm
Việc xây dựng hệ thống các TN sử dụng trong tổ chức DH nhóm cần tuân theomột số nguyên tắc sau:
- Các TN trong hệ thống phải đảm bảo tính khoa học, phù hợp với bản chất vật
lí của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên
- Hệ thống các TN sử dụng phải phù hợp với nội dung chương trình SGK, đảmbảo thực hiện đúng các mục tiêu quá trình DH đã đề ra
Trang 22- Khi lựa chọn TN để đưa vào hệ thống, cần chọn TN phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh, nội dung DH cụ thể, phù hợp với các bước của DH nhóm
- Hệ thống các TN được sắp xếp tương ứng với từng hình thức nhóm.[11],[23]
PHT là một biện pháp để HS thực hiện nhằm đạt được mục tiêu của bài học
Vì vậy, PHT phải giúp HS khai thác và nắm bắt được những kiến thức cơ bản, kiếnthức trọng tâm của bài học thì mới có giá trị và hiệu quả PHT có thể chuyển tải nộidung một phần bài học, hoặc nội dung cả bài học
PHT phải phù hợp với trình độ HS, nghĩa là nội dung PHT phải đảm bảo tínhvừa sức đối với HS, các nhiệm vụ học tập trong phiếu không quá dễ nhưng cũngkhông quá khó, HS có thể tự lực hoàn thành được phiếu nhưng cũng có thể pháttriển được tư duy của các em Vì vậy, GV nên tìm hiểu về tâm lí, trình độ nhận thứccủa HS để thiết kế được PHT đảm bảo nguyên tắc này
- PHT phải vừa nêu nhiệm vụ học tập, vừa hướng dẫn và gợi ý cách thực hiện.
PHT chính là nhiệm vụ học tập mà người giáo viên giao cho nhóm, được cụthể hóa bằng các câu hỏi, bài tập hoặc những tình huống yêu cầu các nhóm thựchiện và giải quyết Các nhiệm vụ này xuất phát từ nội dung của bài học Thôngthường giáo viên đặt ra câu hỏi, bài tập hoặc tình huống kèm theo những gợi ý và
hướng dẫn để HS biết phải làm gì, làm như thế nào và dựa vào cơ sở nào để làm -PHT phải thể hiện được phương pháp hoạt động và giao tiếp của HS.
Những gợi ý được nêu ra trong PHT chính là những gợi ý về phương pháphoạt động và các thao tác tư duy để HS thực hiện nhiệm vụ học tập Ví dụ: dựa vàohình vẽ, SGK, đồ thị, thí nghiệm thì HS phải sử dụng các PP khai thác kiến thức
từ hình vẽ, SGK, đồ thị, thí nghiệm
Trang 23Những câu hỏi, bài tập yêu cầu phân tích, chứng minh, so sánh cũng buộc
HS phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp
để thực hiện nhiệm vụ học tập của mình
- PHT phải đảm bảo tính khoa học, tính chính xác và tính thẩm mỹ.
Tính khoa học và độ tin cậy thể hiện trong PHT ở chỗ các thông tin trongphiếu phải đảm bảo khách quan, chính xác và có hệ thống, ngoài ra, các thông tinphải có xuất xứ đáng tin cậy
Tính thẩm mỹ của PHT thể hiện ở cách trình bày đẹp, ngôn ngữ ngắn gọn, súctích PHT có tính thẩm mỹ cao sẽ tăng tính hấp dẫn, tạo hứng thú học tập của HS
- PHT phải đảm bảo HS làm việc trong khoảng thời gian nhất định
Vì thời gian tiết học có giới hạn nên khi thiết kế PHT GV cần phải dự kiếnthời gian phù hợp để HS làm việc với phiếu đảm bảo thực hiện đúng quy trình sửdụng PHT [9], [11]
1.4.2.3 Nguyên tắc sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học nhóm
Để việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học nhóm đạt hiệu quả cao,bên cạnh những yêu cầu của việc sử dụng riêng lẻ các phương tiện thì GV cần đảmbảo một số nguyên tắc sau:
- TN sử dụng phải phù hợp với từng hình thức nhóm;
Dựa vào nội dung chương trình sách giáo khoa (SGK), đặc điểm của PPDHnhóm, các yêu cầu của TN, để lựa chọn hình thức DH nhóm phù hợp với loại TN sửdụng nhằm tạo hiệu quả cao trong dạy học
- Không lạm dụng TN;
Trong quá trình khai thác TN có thể có nhiều TN cùng thể hiện một vấn đềhoặc thể hiện hai vấn đề có tầm quan trọng khác nhau trong bài học Lúc đó, GVphải chọn lọc các TN “đắc” nhất để sử dụng và phối hợp với PHT, không làm phântán sự chú ý của HS khỏi kiến thức trọng tâm
- TN phải thành công ngay và phải có kết quả rõ ràng theo yêu cầu của PHT;
TN thành công thì PHT sẽ phát huy tối đa vai trò của nó vì lúc đó HS mớiquan sát được những hiện tượng xảy ra đúng như bản chất của nó; ghi chép, thảoluận, nhận xét, đánh giá và tính toán đúng để xây dựng được kiến thức mới Đồngthời, TN thành công ngay sẽ tiết kiệm thời gian và nâng cao niềm tin của HS vào
Trang 24kiến thức sẽ thu nhận Để đảm bảo nguyên tắc này thì GV phải đầu tư chuẩn bị làm
TN nhiều lần trước đó sao cho chắc chắn thu được những kết quả khoa học nhất, ítsai số nhất
- PHT phải phù hợp với mục đích, trình tự thao tác TN; logic với tiến trình dạy học và thể hiện vai trò định hướng HS ghi chép, thảo luận nhóm để phân tích kết quả TN;
Đây là nguyên tắc quan trọng khi sử dụng phối hợp TN và PHT Chỉ khinguyên tắc này được thỏa mãn thì HS mới vượt qua được khó khăn khi tiến hành,quan sát, ghi chép, thảo luận nhóm, phân tích kết quả TN để xây dựng kiến thứcmới, từ đó góp phần rèn luyện kỹ năng thực hành và bồi dưỡng phương pháp nhậnthức vật lý cho các em
- PHT phải yêu cầu vừa sức và cung cấp những gợi ý rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với từng TN và khả năng thực hành của HS;
Những lần đầu HS sử dụng, PHT cần có những câu hỏi cụ thể, đơn giản, từngbước và trong giới hạn khả năng của HS Có thể tăng dần mức độ khái quát tùy theokết quả của PHT mà GV đã thu được trước đó Tuy nhiên, theo nguyên lý “Vùngphát triển gần” của Vưgôtxki, tất cả các yêu cầu phải vừa sức để HS có thể hoànthành được nếu tích cực suy nghĩ và làm việc nếu không sẽ làm HS nản chí và mất
tự tin vào bản thân mình Bên cạnh đó, GV cần sử dụng những từ ngữ mà người họcbiết nghĩa của nó Trong TN thường có những thuật ngữ chuyên môn, GV cần giảithích cho sáng tỏ Nếu đọc câu hỏi mà HS không hiểu được thì PHT không nhữngkhông hỗ trợ mà ngược lại còn cản trở việc sử dụng TN vật lý trong dạy học
- GV phải có sự giúp đỡ kịp thời khi các nhóm tiến hành TN và có nhận xét thích hợp hoặc thu lại những PHT để đánh giá;
GV cần chăm chú theo dõi và sẵn sàng cộng tác trong quá trình HS hoạt động.Bởi bất cứ người học nào cũng cần những tăng cường tích cực, thậm chí người họctrò giỏi nhất cũng không nằm ngoài quy luật này Một sự chú ý đặc biệt, một cử chỉ,một lời khuyên bản chất là kích thích người học, hỗ trợ sự nhiệt tình của HS và duytrì sự hứng thú của các em nhất là trong lúc học căng thẳng, vất vả
Bên cạnh đó, quy tắc thực hành trong giao tiếp khuyên người ta không bao giờnói không với một ý nghĩ được phát ra Nếu GV bỏ qua kết quả của phiếu sẽ làm
Trang 25cho HS không thấy sự cần thiết phải hoàn thành phiếu Ngược lại, phản ứng tích cựccủa GV như những góp ý, ghi điểm, khen thưởng… đối với kết quả PHT sẽ thúcđẩy HS tiếp tục tham gia vào quá trình học, người học ý thức được rằng đóng gópcủa mình thậm chí rất nhỏ cũng có ích cho việc thực hiện nhiệm vụ học tập chungcủa cả lớp Đồng thời qua những nhận xét của GV, HS cũng có thể phần nào tựđánh giá về năng lực học tập của mình và có những điều chỉnh kịp thời.
- Sau thời gian quy định hoàn thành PHT, giáo viên phải đưa ra đáp án phù hợp với TN.
Việc sử dụng PHT phối hợp với TN có thể không yêu cầu HS làm việc một lần
để hoàn thành phiếu mà còn phụ thuộc vào các giai đoạn của phương pháp dạy họcđược sử dụng Nhưng để chính xác hóa kết luận cuối cùng của HS, GV cần đưa rađáp án phù hợp với TN [10], [15]
1.4.3 Các bước thiết kế PHT để sử dụng phối hợp TN trong tổ chức dạy học nhóm
Bước 1: Xác định ý tưởng
Để PHT thực hiện tốt vai trò định hướng HS quan sát và phân tích kết quả TNtrước hết GV phải xác định được mục tiêu của bài học để biết được cái đích mà HScần đạt tới trong toàn bộ bài học và cụ thể trong TN mà chúng ta sử dụng Căn cứvào mục tiêu của bài học, nội dung bài học, và điều kiện thực tế để lựa chọn TN sửdụng và lựa chọn hình thức nhóm phù hợp Từ đó, GV mới có thể lựa chọn cáchthức đạt được mục tiêu đó tức là xác định được yêu cầu và nhiệm vụ HS cần thựchiện trong PHT, số lượng PHT cần sử dụng Như vậy, bước này bao gồm cả cácthao tác: phân tích nội dung bài học, định hướng hình thức tổ chức dạy học nhóm,xác định nhiệm vụ học tập chủ yếu của HS khi sử dụng TN
Bước 2: Thu thập thông tin, dữ liệu
PHT sử dụng phối hợp với TN nên các câu hỏi đặt ra là những yêu cầu cần đạtđược sau TN và những gợi ý nhằm vào những khó khăn mà HS có thể gặp phải,những sai lệch mà HS có thể vi phạm Do đó, GV cần tiến hành hay quan sát trướccác TN, đo đạc thu thập thông tin, số liệu để có thể dự kiến những khó khăn đó vàđưa ra những hướng dẫn, cung cấp thêm những thông tin hợp lý Ngoài ra, thông tincòn có thể được thu thập thông qua sách, báo, tạp chí chuyên ngành, internet…
Trang 26Trong đó, có các TN hay, các ứng dụng mới của vật lý trong kỹ thuật và đời sống.Những thông tin đó còn là dữ liệu để xây dựng đáp án của PHT một cách chính xác
và khoa học ở bước sau
Bước 3: Xác định nội dung PHT và trình bày PHT
Việc xác định nội dung của PHT thường dựa vào những kiến thức trọng tâmcủa bài học Nội dung của phiếu chính là những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà HScần khám phá, lĩnh hội và rèn luyện
Nội dung PHT phải phù hợp và cụ thể hóa ý tưởng đã xác định Từ nhiệm vụcần đạt được phải đưa ra những thao tác các nhóm cần thực hiện trong TN, nhữnghiện tượng cần quan sát và định hướng suy luận để HS trả lời được các câu hỏi nêu
ra, tức là khám phá, lĩnh hội và rèn luyện được các kiến thức, kỹ năng cơ bản; gópphần bồi dưỡng các phương pháp nhận thức vật lý cho các em
Các thông tin, nhiệm vụ học tập được giao trong phiếu phải được trình bàymột cách rõ ràng, ngắn gọn dưới dạng tường minh Các câu hỏi, nhiệm vụ học tậpđưa ra trong phiếu phải đảm bảo mọi HS đều hiểu được phải làm gì, thông thường,những yêu cầu đưa ra cần phải chỉ rõ căn cứ, nguồn để HS có thể dễ dàng hoàn
thành nhiệm vụ đề ra, như: “Căn cứ vào hãy cho biết ”, “Dựa vào hãy chứng
minh ”, “Từ thí nghiệm hãy nhận xét ” Sau mỗi câu hỏi, bài tập cần có một
khoảng trống thích hợp để HS trình bày kết quả Khối lượng công việc cần phù hợpvới thời gian suy nghĩ và thời gian trình bày phiếu Mỗi phiếu có thể thể hiện mộtđơn vị kiến thức hoặc nhiều đơn vị kiến thức
Khi trình bày PHT, nên ghi cụ thể là phiếu dùng cho phần nào của bài học,
như dùng để củng cố sau khi học bài , hoặc dùng trong phần 2 bài để HS dễ
sắp xếp, lưu giữ Nếu trong một bài học sử dụng nhiều PHT thì nên đánh số thứ tự,
như PHT số 1, PHT số 2,
Để tăng hứng thú học tập cho HS, khi thiết kế PHT, GV cần tăng tính thẩm
mỹ của PHT và đa dạng hóa về hình thức trình bày
Bước 4: Xây dựng đáp án của PHT dựa vào kết quả của TN
Một bước quan trọng không thể thiếu là phải viết đáp án của PHT Có đáp án
GV mới ấn định được thời gian hoàn thành phiếu và đưa ra những nhận xét câu trảlời của HS một cách logic, khoa học Đặc biệt, việc sử dụng phối hợp TN và PHT
Trang 27nhằm vào những khó khăn mà HS thường gặp trong quá trình sử dụng TN, do đócần có đáp án để HS tham khảo, tự đánh giá bản thân, rèn luyện kỹ năng học tập.
Bước 5: Chuẩn bị những thao tác TN, những lập luận, câu hỏi và nhận xét để
tổ chức và điều khiển quá trình học tập
Cũng giống như thiết kế bài dạy học, GV cần dự kiến những tình huống có thểxảy ra và cách xử lý, việc thiết kế PHT cũng cần dự đoán trước những khó khăn mà
HS sẽ gặp để đưa ra những hỗ trợ kịp thời Bước này là sự kết hợp sử dụng PHT và
TN với những kỹ thuật quản lý lớp, kỹ thuật sử dụng lời nói, câu hỏi và hành độngtrên lớp Trong PHT có thể có những sự kiện, những tình huống có tính chất sâu xa
cả về mặt nhận thức lý trí lẫn tình cảm Nếu thiếu những lập luận và kiến giải sắcsảo của GV trong những trường hợp này thì quá trình học tập có thể rơi vào tìnhtrạng bế tắc, hoặc ít nhất cũng lãng phí thời gian, giảm sút hiệu quả Việc chuẩn bịđịnh hướng và điều chỉnh là một thủ tục bắt buộc, không được chủ quan, coithường GV phải là người chủ động xử lý tất cả những tình huống đột ngột và bấtngờ Tuy nhiên, xử lý tốt không phải là giải đáp mọi thắc mắc, làm thay mọi việc
mà HS không làm được Ý nghĩa chủ yếu của việc xử lý là thúc đẩy quá trình họctập tiến triển theo hướng tích cực, ví dụ lặp lại một thao tác quan trọng trong TN,nhấn mạnh một cơ sở lý luận cho việc giải quyết vấn đề đặt ra.[10], [11], [15]
1.4.4 Các bước sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm
Trường hợp HS tự làm TN trên lớp
Bước 1: Đặt vấn đề, giới thiệu mục tiêu cần đạt được đối với vấn đề đó
Bước 2: Tổ chức nhóm, phát PHT, hướng dẫn cách làm việc trong nhómBước 3: Giúp HS nắm vững mục đích, yêu cầu và cách tiến hành TN
Bước 4: Giao cho mỗi nhóm một bộ TN để tiến hành và ghi chép kết quảBước 5: Thảo luận nhóm, hoàn thành PHT
Bước 6: Đại diện các nhóm trình bày và thảo luận dưới sự điều khiển của GVBước 7: GV nhận xét và nêu đáp án PHT, thu lại dụng cụ TN
Bước 8: HS nêu thắc mắc (nếu có), GV giải đáp và chuyển sang vấn đề khác
Trường hợp GV tiến hành TN biểu diễn
Bước 1: Đặt vấn đề, giới thiệu mục tiêu cần đạt được đối với vấn đề đó
Bước 2: Tổ chức nhóm, phát PHT
Trang 28Bước 3: Giới thiệu với HS về mục đích, dụng cụ và cách tiến hành TN
Bước 4: Tiến hành TN, các nhóm quan sát và ghi chép kết quả
Bước 5: Thảo luận nhóm làm việc với PHT để hoàn thành phiếu
Bước 6: Đại diện các nhóm trình bày và thảo luận dưới sự điều khiển của GVBước 7: GV nhận xét và nêu đáp án PHT
Bước 8: HS nêu thắc mắc (nếu có), GV giải đáp và chuyển sang vấn đề khác
1.5 Thực trạng sử dụng TN và PHT trong dạy học nhóm ở trường THPT 1.5.1 Thực trạng
Qua điều tra khảo sát GV dạy Vật lý ở các trường THPT thuộc địa bàn tỉnhThừa Thiên Huế, chúng tôi đã chỉ ra một số thực trạng của việc sử dụng TN và PHTtrong dạy học nhóm của giáo viên hiện nay, đó là:
- Việc sử dụng TN
Nhiều giáo viên được hỏi cho rằng việc sử dụng TN trong Vật lí là rất cầnthiết (34%), cần thiết là 61%, không cần thiết lắm và hoàn toàn không cần thiết là5% (biểu đồ 1.1) Điều đó cho thấy đa số GV đều ý thức được tầm quan trọng của
TN trong DH Vật lí Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng TN trong dạy học của GVcòn rất hạn chế: 89% GV không thường xuyên và ít khi sử dụng, chỉ có 11% thườngxuyên sử dụng (biểu đồ 1.2)
34%
61%
5%
Rất cần thiết Cần thiết không cần thiết lắm Hoàn toàn không cần thiết
Biểu đồ 1.1 Tính cần thiết của việc sử dụng TN trong dạy học Vật lý
Trang 29Hoàn toàn không
Biểu đồ 1.2 Mức độ sử dụng TN trong dạy học Vật lý
Không khi nào
Biểu đồ 1.4 Mức độ sử dụng PHT trong dạy học Vật lý
Trang 30Không khi nào
Biểu đồ 1.5 Mức độ sử dụng hình thức tổ chức dạy học theo nhóm
Kết quả điều tra cho thấy 75% GV được hỏi cho rằng đối với những nội dungphù hợp, PPDH theo hình thức nhóm mang lại hiệu quả cao góp phần đổi mớiphương pháp dạy học nhưng chỉ có 9% GV thường xuyên sử dụng hình thức dạy
học theo nhóm (biểu đồ 1.5)
- Tình hình sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học vật lý
Mặc dù có hơn 70% GV cho rằng việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạyhọc có tác dụng tốt hơn so với khi chỉ sử dụng TN Tuy nhiên rất ít GV sử dụngphối hợp TN và PHT trong dạy học vật lý: 77% rất ít khi và hoàn toàn không, chỉ có23% thỉnh thoảng sử dụng ( biểu đồ 1.6)
1.5.2 Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng TN và PHT trong dạy học nhóm
Kết quả điều tra cho thấy khi sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy họcnhóm có những thuận lợi và khó khăn sau:
Trang 31- Thuận lợi
Nhiều GV cho rằng ý thức học tập của HS đối với môn VL ngày càng cao,hơn nữa học sinh THPT đang hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu nên rấtthích hợp cho việc học tập độc lập, tự làm việc theo nhóm dưới sự hướng dẫn của
GV thông qua PHT Bên cạnh đó, theo xu thế đổi mới PPDH hiện nay, nhà trườngđang khuyến khích, ủng hộ các GV tiếp cận những PP mới nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập Đây là nguồn động viên rất lớn cho
GV trong việc sử dụng các hình thức dạy học mới
Trong thời gian qua các phòng TN vật lý đã được nâng cấp, trang bị tương đốiđầy đủ thiết bị, dụng cụ Đa số các GV đều nhận thấy tầm quan trọng của việc sửdụng TN trong dạy học vật lý Một số GV cũng đầu tư nghiên cứu các TN tự tạo,
TN mô phỏng, TN ảo để hỗ trợ thêm trong quá trình dạy học
Xu hướng sử dụng PHT của GV trong DH ngày càng phổ biến và đem lại hiệuquả ngày càng cao
- Khó khăn
Trên thực tế vẫn tồn tại thực trạng là dụng cụ TN cho các trường chưa đượcđồng bộ, HS trong một lớp học còn đông, không gian lớp học chật hẹp, chươngtrình học còn quá nhiều so với thời gian… đã làm hạn chế việc GV áp dụng cácPPDH tích cực nói chung cũng như việc sử dụng TN nói riêng
Do thói quen học cũ nên HS chưa tích cực tham gia tranh luận, thảo luậnnhóm và trình bày trước đám đông khi tổ chức DH nhóm, các kĩ năng học hợp táccủa HS còn thấp nên các em rất lúng túng khi phân các công việc cho cá nhân,quản lý nhóm khi tham gia thảo luận Trong giờ học có thảo luận nhóm, một số HScòn ở trạng thái thụ động, không tích cực tham gia hoạt động mà trông chờ, ỷ lạivào kết quả của người khác nên chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sángtạo trong học tập
Một số GV sử dụng TN chưa thành thạo, chưa tổ chức các hoạt động học tậpcủa HS một cách hợp lý khi sử dụng TN
Nhiều HS chưa có kỹ năng thực hành, quan sát và phân tích kết quả TN.Một số GV ngại sử dụng TN trong DH vì sợ làm mất thời gian, không kịphoàn thành nội dung bài học Đối với các tiết dạy trên lớp, muốn sử dụng TN thì
Trang 32GV phải di chuyển thiết bị từ phòng bộ môn đến phòng học, trong khi dụng cụ TNthường tương đối cồng kềnh, rườm rà, do đó gây khó khăn cho việc sử dụng TN vào
DH Hơn nữa, tính hiệu quả, độ bền, độ chính xác của các dụng cụ TN ở trường phổ
thông hiện nay không đạt yêu cầu, vì vậy để thực hiện TN, GV cần tốn nhiều côngsức hơn, có khi phải tìm tòi, linh hoạt, tự chế tạo, lắp ráp TN nên GV không mặn
mà với việc sử dụng TN
Những bất cập trong kiểm tra đánh giá hiện nay cũng là một trong những trởngại đối với việc sử dụng TN của GV Các bài thi, bài kiểm tra đều chưa đề cập tớinhững nội dung liên quan tới TN Do đó, cả GV và HS đều không “mặn mà” vớiviệc sử dụng TN vật lý trong dạy và học
- Hầu hết GV đều gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình thiết kế và sử dụngPHT, trong đó khó khăn mà không phải ai cũng khắc phục được đó là việc soạnPHT mất nhiều thời gian, GV phải đầu tư nhiều công sức, việc in sao phiếu lại rấttốn kém đối với mức thu nhập của người GV GV cũng chưa có nhiều kinh nghiệmtrong thiết kế và sử dụng PHT để phát huy hết những vai trò của PHT và thu hút sựchú ý của HS mà đa số chỉ là những câu hỏi trắc nghiệm củng cố
1.6 Kết luận chương I
Trong chương 1, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễncủa việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong tổ chức DH nhóm Những nội dungđược trình bày trong chương 1 có thể tóm tắt như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học nhóm
- Nghiên cứu vai trò của TN và PHT trong tổ chức dạy học nhóm
- Trình bày nguyên tắc sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học nhóm
- Đưa ra các bước thiết kế PHT để sử dụng phối hợp với PHT trong dạy họctheo nhóm
- Phân tích kết quả điều tra thực trạng để làm rõ những thuận lợi và khó khăncủa việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học nhóm
Từ đó đi đến kết luận: việc sử dụng phối hợp TN và PHT trong dạy học nhómgiúp HS tích cực rèn luyện kỹ năng thực hành và nghiên cứu kiến thức mới, pháthuy vai trò của từng phương tiện, làm giảm những khó khăn khi sử dụng chúng một
Trang 33cách riêng lẻ, từ đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở trường phổthông hiện nay.
CHƯƠNG 2 SỬ DỤNG PHỐI HỢP THÍ NGHIỆM VÀ PHIẾU HỌC TẬP TRONG TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG”VẬT LÍ
11 NÂNG CAO
2.1 Đặc điểm của chương “Từ trường” Vật lí 11 nâng cao
2.1.1 Cấu trúc và mục tiêu dạy học chương “Từ trường” Vật lí 11 nâng cao
Trang 34Cấu trúc chương từ trường gồm 12 bài học, trong đó 9 bài học lí thuyết, 2 bàihọc bài tập và 1 bài học thực hành Các bài đó được giảng dạy trong 14 tiết, gồm 11tiết lí thuyết, 2 tiết bài tập và 1 tiết thực hành.
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương từ trường chỉ ra mức độ cần đạt của HSnhư sau:
Về kiến thức
Lực từ
Ứng dụng của lực từLực Lo-ren-xơ
Lực từ tác dụng lên khung dây dẫn mang dòng điện
Lực tương tác giữa hai dây dẫn song song mang dòng điện
Lực từ tác dụng lên đoạn dây dẫn mang dòng điện
Trang 35- Nêu được từ trường tồn tại ở đâu, có tính chất gì.
- Nêu được các đặc điểm của từ đường sức từ của thanh nam châm thẳng, củanam châm chữ U, của dòng điện thẳng dài, của ống dây có dòng điện chạy qua
- Phát biểu được định nghĩa và nêu được phương, chiều của cảm ứng từ tạimột điểm của từ trường Nêu được đơn vị đo cảm ứng từ
- Viết được công thức tính cảm ứng từ tại một điểm của từ trường gây bởidòng điện thẳng dài vô hạn, tại tâm của dòng điện tròn và tại một điểm trong lòngống dây có dòng điện chạy qua
- Viết được công thức tính lực từ tác dụng lên một đoạn dây dẫn thẳng có dòngđiện chạy qua đặt trong từ trường đều
- Nêu được lực Lo-ren-xơ là gì và viết được công thức tính lực này
Về kĩ năng
- Vẽ được các đường sức từ biểu diễn từ trường của thanh nam châm thẳng, củadòng điện thẳng dài, của ống dây có dòng điện chạy qua và của từ trường đều
- Xác định được độ lớn, phương, chiều của vectơ cảm ứng từ tại một điểm trong
từ trường gây bởi dòng điện thẳng dài, tại tâm của dòng điện tròn và tại một điểmtrong lòng ống dây có dòng điện chạy qua
- Xác định được vectơ lực từ tác dụng lên một đoạn dây dẫn thẳng có dòng điệnchạy qua được đặt trong từ trường đều
- Xác định được độ lớn và chiều của mômen lực từ tác dụng lên một khung dâydẫn hình chữ nhật (các cạnh của khung dây này vuông góc với các đường sức từ) códòng điện chạy qua được đặt trong từ trường đều
- Xác định được độ lớn, phương, chiều của lực Lo-ren-xơ tác dụng lên một điệntích q chuyển động với vận tốc v trong mặt phẳng vuông góc với các đường sứccủa một từ trường đều
2.1.2 Đặc điểm nội dung kiến thức
Trong chương “Từ trường” vật lí 11 nâng cao có những khái niệm, hiện tượng
cơ bản HS đã được nghiên cứu ở lớp 9, tuy nhiên do trình độ còn thấp nên các hiệntượng đó chỉ được khảo sát một cách định tính, sơ lược chứ không đi sâu vào mặtđịnh lượng Bên cạnh đó có những khái niệm những định luật vật lí không quá phức
Trang 36tạp, các TN để tìm hiểu các khái niệm hay kiểm chứng các định luật không quá khó
để thực hiện Ngoài ra trong chương này còn có nhiều kiến thức liên quan đến cáchiện tượng trong thực tế Đây là những đặc điểm rất phù hợp để GV tổ chức cho HS
tự chiếm lĩnh tri thức thông qua hoạt động nhóm với sự hỗ trợ phối hợp của TN vàPHT
Trong bài đầu tiên, để đi đến khái niệm tương tác từ thì phải sử dụng ba thínghiệm: thí nghiệm thứ nhất khảo sát về tương tác giữa nam châm và nam châm, ởlớp 9 HS đã biết về các cực cùng tên thì đẩy nhau, các cực khác tên thì hút nhau; thínghiệm thứ hai là thí nghiệm Ơ-xtét, thí nghiệm này nhằm đưa đến nhận xét khôngchỉ nam châm tác dụng lên nam châm mà dòng điện cũng tác dụng lên nam châm.Thí nghiệm thứ ba là thí nghiệm về tương tác giữa hai dòng điện Các TN này rấtđơn giản, khả năng thành công cao HS có thể tự tiến hành TN, thảo luận nhóm đểrút ra nhận xét Tuy nhiên để đảm bảo thời gian và nâng cao hiệu quả thảo luận, GV
sử dụng phối hợp với PHT để gợi ý cho HS quan sát, hướng dẫn các thao tác TN vàsuy luận kết quả TN
Về từ phổ và các đường sức từ HS đã được học ở lớp 9 Đồng thời trongchương I HS đã quen với khái niệm điện phổ, đường sức điện và các tính chất củađường sức điện Ngoài ra các TN về từ phổ cũng có thể tiến hành rất dễ dàng Do đó
GV có thể tổ chức cho HS tiến hành TN theo nhóm, hoặc quan sát TN qua các đoạnphim sau đó thảo luận nhóm để đưa ra kết luận về từ phổ nam châm thẳng, namchâm chữ U, rút ra định nghĩa đường sức từ và các tính chất của đường sức từ GV
sử dụng PHT để hướng dẫn HS các thao tác TN, đồng thời cung cấp thêm hình ảnh
từ phổ của một số nam châm, hình ảnh về đường sức từ của hệ nhiều nam châm
Để khảo sát phương của lực từ tác dụng lên đoạn dòng điện GV có thể dùngPHT để định hướng cho các nhóm HS quan sát TN để tìm ra mối liên hệ giữaphương của lực từ tác dụng lên đoạn dòng điện với các đường sức từ
HS đã học quy tắc tay trái xác định chiều của lực từ tác dụng lên một đoạndòng điện ở lớp 9 Vì vậy giáo viên chỉ cần gợi ý về chiều của dòng điện, chiều củacảm ứng từ và chiều của lực từ để HS nhớ lại và phát biểu quy tắc Sau đó yêu cầucác nhóm HS vận dụng quy tắc bàn tay trái để xác định chiều của lực từ tác dụng
Trang 37lên dòng điện trong một số trường hợp trên hình vẽ ở PHT, sau đó kiểm chứng lạibằng TN.
Để đưa ra định nghĩa cảm ứng từ cần phải thực hiện ba thí nghiệm 1, 2, 3 SGK
từ đó thành lập các bảng 28.1, 2, 3 SGK Dùng các bảng số liệu thu được để hướngdẫn HS rút ra kết luận TN1 khảo sát mối liên hệ giữa F và I, TN 2 khảo sát mối liên
hệ giữa F và l, TN 3 khảo sát mối liên hệ giữa F vàsin Để đảm bảo về mặt thờigian GV nên sử dụng hình thức nhóm, mỗi nhóm sẽ thực hiện một TN dưới sựhướng dẫn cụ thể thông qua PHT để rút ra các kết luận
Trong bài “Từ trường của một số dòng điện có dạng đơn giản” có ba TN hoàntoàn độc lập: TN1 khảo sát từ trường của dòng điện thẳng dài; TN2 khảo sát từtrường của dòng điện tròn; TN3 khảo sát từ trường của dòng điện trong ống dây.Các TN rút ra các kết luận hoàn toàn độc lập với nhau, đồng thời các TN này dễthực hiện và cũng dễ thành công Vì vậy GV có thể tổ chức cho mỗi nhóm tiếnhành một TN để rút ra nhận xét về dạng của các đường sức từ Sau đó mỗi nhóm sẽtrình bày kết luận của nhóm về dạng của đường sức trong mỗi trường hợp Sử dụngPHT để hướng dẫn HS thao tác, định hướng quan sát TN và gợi ý để HS tìm ra vàphát biểu quy tắc xác định chiều các đường sức từ Đồng thời sử dụng PHT để giúp
HS luyện tập vận dụng quy tắc nắm tay phải
Để khảo sát lực từ tác dụng lên khung dây mang dòng điện đặt trong từ trường
GV tiến hành TN như trên hình 33.1 SGK với các trường hợp: đường sức từ nằmtrong mặt phẳng khung dây và đường sức từ vuông góc với mặt phẳng của khung
Sử dụng PHT để yêu cầu các nhóm giải thích các hiện tượng vừa quan sát đượcbằng cách biểu diễn lực từ tác dụng lên các các cạnh của khung Điều này khôngkhó khăn đối với HS vì chỉ vận dụng các kiến thức đã học trong các bài trước
2.2 Những kiến thức của chương có thể tổ chức dạy học nhóm có sử dụng thí nghiệm
Để lựa chọn kiến thức có thể sử dụng TN trong DH theo từng hình thứcnhóm chúng ta cần dựa vào nội dung, chương trình sách giáo khoa (SGK), đặc điểmcủa PPDH nhóm, các yêu cầu của TN cũng như tính thực tiễn trong DH ở nước tahiện nay Theo đó TN sử dụng có hiệu quả trong tổ chức DH nhóm các kiến thức cónhững đặc điểm sau:
Trang 38● Các khái niệm vật lí, định luật vật lí không quá phức tạp và các TN dùng
để tìm hiểu hay kiểm chứng các khái niệm, định luật này không quá khó để thựchiện Điều này đảm bảo cho TN dễ thành công và HS được giao nhiệm vụ vừa sức
● Các định luật vật lí mà việc tìm ra chúng phải thông qua quá trình làm TN,thử và sai nhiều lần, cần nhiều lập luận mới có được Nếu tổ chức dạy các kiến thứcnày cho hình thức toàn lớp thì không đảm bảo về mặt thời gian Vì vậy, hiệu quảnhất là tổ chức DH theo hình thức nhóm, trong đó mỗi nhóm giải quyết một nhiệm
vụ cụ thể
Trong chương “Từ trường” vật lí 11 nâng cao có những kiến thức đã được đềcập từ THCS, bên cạnh đó có những khái niệm những định luật vật lí không quáphức tạp, các TN để tìm hiểu các khái niệm hay kiểm chứng các định luật dễ thựchiện và dễ thành công Ngoài ra còn có nhiều kiến thức liên quan đến các hiệntượng trong thực tế rất gần gũi với HS Do đó trong chương này có nhiều kiến thức
có thể tổ chức dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của TN
Sau đây là những kiến thức trong chương “Từ trường” phù hợp tổ chức dạyhọc nhóm với sự hỗ trợ của TN và PHT
- Khái niệm tương tác từ, từ trường
- Khái niệm đường sức từ, từ phổ
- Phương và chiều của lực từ tác dụng lên dòng điện
- Khái niệm cảm ứng từ, định luật Am-pe
- Từ trường của một số dòng điện có dạng đơn giản
- Tương tác giữa hai dòng điện thẳng song song
- Lực Lo-ren-xơ
- Khung dây có dòng điện đặt trong từ trường
- Thực hành: xác định thành phần nằm ngang của từ trường Trái Đất
2.3 Hệ thống TN sử dụng trong dạy học nhóm chương “Từ trường”
a Nhóm TN tương tác từ
- Mục tiêu sử dụng TN
Ba TN này dẫn đến khái niệm tương tác từ và từ đó hình thành khái niệm từtrường
Trang 40- GV tiến hành TN hoặc cho HS quan sát đoạn phim TN tương tác giữa haidây dẫn mang dòng điện, yêu cầu học sinh quan sát hiện tượng khi cho hai dòngđiện cùng chiều qua hai dây dẫn và khi cho hai dòng điện ngược chiều chạy qua haidây dẫn.
b Thí nghiệm từ phổ của nam châm thẳng và nam châm chữ U
Hình 2.3 Tương tác giữa hai dòng điện