1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “điện tích điện trường” vật lí 11 THPT

109 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Và Sử Dụng Hệ Thống Bài Tập Trong Dạy Học Theo Chủ Đề Tự Chọn Chương “Điện Tích Điện Trường” Vật Lí 11 THPT
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Vật Lí
Thể loại luận văn thạc sĩ
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 13,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học theo chủ đề tự chọn trong chương trình dạy học phân hoá; Nghiên cứu cơ sở lí luận của xây dựng và sử dụng HTBT; Nghiên cứu chương trình chương “Điện tích Điện trường” và nội dung các chủ đề “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT; Nghiên cứu xây dựng HTBT cho chủ đề tự chọn chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 và đề xuất quy trình sử dụng HTBT; Soạn thảo một số bài dạy học theo chủ đề tự chọn chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11THPT có sử dụng HTBT đã xây dựng; Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc dạy học theo chủ đề tự chọn “Điện tích Điện trường” Vật lí 11.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn 4

Danh mục các bảng, biểu đồ, đồ thị và sơ đồ 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8

3 Mục tiêu của đề tài 9

4 Giả thuyết khoa học 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

6 Đối tượng nghiên cứu 10

7 Phạm vi nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 10

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 10

8.2 Phương pháp chuyên gia 10

8.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 10

8.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 10

8.5 Phương pháp thống kê toán học 11

9 Cấu trúc của luận văn 11

NỘI DUNG 12

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TỰ CHỌN 12

1.1 Dạy học theo chủ đề tự chọn 12

1.1.1 Dạy học tự chọn 12

1.1.2 Phân loại dạy học theo chủ đề tự chọn 12

1.1.3 Ưu nhược điểm dạy học theo chủ đề tự chọn 16

1.2 Vấn đề sử dụng bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn môn Vật lí 16

1.2.1 Sử dụng HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn 16

1.2.2 Phân loại HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn 18

1.3 Các yêu cầu, nguyên tắc xây dựng HTBT theo chủ đề tự chọn 20

1.3.1 Các yêu cầu của một bài tập được sử dụng trong HTBT theo chủ đề tự chọn 21

1.3.2 Những yêu cầu của HTBT theo chủ đề tự chọn 21

1.3.3 Các nguyên tắc xây dựng HTBT theo một chủ đề tự chọn 22

1.3.4 Quy trình xây dựng HTBT theo một chủ đề tự chọn 23

1.4 Thực trạng của dạy học theo chủ đề tự chọn ở trường THPT hiện nay 26

1.4.1 Thực trạng 26

1.4.2 Nguyên nhân 27

Trang 2

1.5 Tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn 29

1.5.1 Tính tích cực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn 29

1.5.2 Tính tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn 30

1.5.3 Mối liên hệ giữa tính tích cực và tính tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn 31

1.5.4 Những biểu hiện của tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn 31

1.5.5 Tiêu chí đánh giá tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn 32

1.5.6 Phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn Vật lí 33

1.6 Kết luận chương 1 35

Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀO DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TỰ CHỌN Ở CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH - ĐIỆN TRƯỜNG” .37

2.1 Nội dung của các chủ đề trong chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 THPT .37

2.1.1 Nội dung các chủ đề 37

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn khi dạy học BT theo chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” 40

2.2 Xây dựng HTBT cho từng chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” 41

2.2.1 Nội dung chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” 41

2.2.2 Cấu trúc của HTBT theo chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” 43

2.2.3 HTBT của chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” 46

2.3 Sử dụng HTBT vào dạy học theo chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” .59

2.3.1 Sử dụng HTBT trong giờ lên lớp 59

2.3.2 Sử dụng HTBT ngoài giờ lên lớp 60

2.4 Thiết kế một số tiến trình dạy học BT theo chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” có sử dụng HTBT đã xây dựng 61

2.5 Kết luận chương 2 74

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 76

3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 76

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 76

3.2 Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm 77

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 77

3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 77

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 77

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 77

3.3.2 Quan sát giờ học 78

3.3.3 Các bài kiểm tra 78

Trang 3

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 79

3.4.1 Nhận xét về tiến trình dạy học 79

3.4.2 Đánh giá kết quả học tập của học sinh 79

3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 83

3.4.4 Kiểm định giả thuyết thống kê 83

3.5 Kết luận chương 3 84

KẾT LUẬN 86

1 Đánh giá kết quả nghiên cứu 86

2 Hướng phát triển của đề tài 87

3 Kiến nghị 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

KHXH-NV Khoa học xã hội và nhân văn

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ VÀ SƠ ĐỒ

Trang

Bảng 3.1 Bảng số liệu HS được làm chọn mẫu TN 77

Bảng 3.2 Bảng thống kê các điểm số (Xi) của bài kiểm tra 79

Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất 80

Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất lũy tích 81

Bảng 3.5 Bảng phân loại theo học lực 81

Bảng 3.6 Bảng tổng hợp các tham số 82

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân bố điểm của hai nhóm ĐC và TN 80

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ phân phối tần suất điểm của hai nhóm ĐC và TN 80

Biểu đồ 3.3 Biểu đồ phân phối tần suất luỹ tích 81

Biểu đồ 3.4 Biểu đồ phân loại theo học lực của hai nhóm 82

Đồ thị 3.1 Đồ thị phân phối tần suất 80

Đồ thị 3.2 Đồ thị phân phối tần suất lũy tích 81

Sơ đồ 1.1 Quy trình xây dựng HTBT 24

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa kiến thức và kĩ năng 24

Trang 5

Sơ đồ 1.3 Sơ đồ cấu trúc hệ thống bài tập cho một chủ đề tự chọn 25

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nội dung các chủ đề chương “Điện tích - Điện trường” 39

Sơ đồ 2.2 Hệ thống kiến thức của chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” 42

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thế kỉ XXI mở ra cho thế giới cơ hội toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Điều đóđặt Việt Nam đứng trước cơ hội lớn nhằm tăng cường hợp tác quốc tế; đồng thời tạođộng lực thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập và phát triển đất nước Tuy nhiên cơ hội,hội nhập với thế giới cũng đặt ra không ít những thách thức với điều kiện nguồn nhânlực của nước ta hiện nay Nền kinh tế thị trường đòi hỏi con người phải chủ động nắmbắt cơ hội cũng như vượt qua được những rào cản nhất định mang tính truyền thống

Để giải quyết được vấn đề đó đòi hỏi mỗi người lao động trong xã hội phải biết cáchvận dụng tích cực và linh hoạt tri thức nhân loại vào thực tiễn cuộc sống nhằm đápứng được nhu cầu cạnh tranh ngày càng cao của xã hội hiện đại

Vì vậy nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho ngành Giáo dục - Đào tạo nước ta làlàm thế nào đào tạo và cung ứng cho xã hội những con người có đủ phẩm chất và tàinăng để xây dựng và phát triển đất nước trong tương lai gần và xa, đây là nhân tốđóng vai trò quyết định đối với sự phát triển mỗi đất nước Thực hiện quan điểm chỉ

đạo: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ và thẩm mỹ, phát triển được năng lực của cá nhân, đào tạo những người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành với lý tuởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Đó cũng chính là lí do ngành Giáo dục - Đào tạo nước ta đã đặt ra mục tiêu: “Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập trung học cơ sở”.[7]

Luật giáo dục 2005 đã quy định về mục tiêu, nội dung, phương pháp,chương trình giáo dục cấp Trung học phổ thông (THPT) Trong đó có quy định:

“Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học

Trang 7

ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh” [27].

Như vậy, quá trình dạy học (QTDH) phải hướng đến việc đáp ứng nhu cầu đadạng của người học, với những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng và cácđiều kiện học tập Hiện nay, ở cấp THPT đang thực hiện nguyên tắc dạy học phânhoá, thực hiện bằng cách phân ban kết hợp với dạy học tự chọn để đáp ứng nhữngnhu cầu đó cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho chương trình giáo dục của nhàtrường được thực hiện một cách linh hoạt, gắn bó với thực tiễn địa phương, phục vụyêu cầu đào tạo nguồn nhân lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội [8]

Việc dạy học theo chủ đề tự chọn trong môn Vật lý đã được áp dụng từ nămhọc 2007 - 2008 đến nay, tuy nhiên chưa được chú trọng và đầu tư đúng mức, vì thếchưa phát huy hết vai trò của bài tập (BT) vật lý trong việc thực hiện các nhiệm vụdạy học Việc sử dụng hệ thống bài tập (HTBT) có thể coi là một trong những biệnpháp quan trọng để bồi dưỡng năng lực tự học, phát huy tính tích cực, tự lực, chủđộng, năng lực sáng tạo cho học sinh (HS) trong dạy học vật lý, vì nó tạo ra được sựchuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động của người học Tuy nhiên,việc sử dụng cùng một HTBT cho những đối tượng HS khác nhau khó gây đượchứng thú cho HS, vì vậy cũng khó phát huy được tính tích cực, tự lực của HS [9]

BT vật lý ở trường phổ thông có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố, đàosâu, mở rộng, hoàn thiện kiến thức lí thuyết và rèn luyện cho HS khả năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn, góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp Giải

BT vật lý đòi hỏi ở HS sự hoạt động trí tuệ tích cực, tự lực và sáng tạo [20], [35] Vìvậy có tác dụng tốt đối với sự phát triển tư duy của HS

Việc dạy học các chủ đề tự chọn hiện nay chỉ chủ yếu căn cứ vào “Tài liệuchủ đề tự chọn Vật lí”, sách dùng cho giáo viên và học sinh do Bộ Giáo dục - Đàotạo ban hành BT được trình bày là những dạng BT cơ bản, các phương pháp cơ bản

để giải BT nhằm giúp HS được luyện tập nhiều hơn, qua đó nắm vững hơn phần líthuyết Tuy nhiên, các BT được giáo viên (GV) đưa vào giảng dạy các chủ đề tự

Trang 8

chọn ở trường THPT chưa đa dạng, ít có những BT khắc phục những chỗ còn mơ

hồ mà HS có thể phạm sai lầm khi vận dụng Những BT gắn với thực tế được đưavào còn ít, làm cho HS hết sức bỡ ngỡ khi bước vào cuộc sống và hạn chế độ sâusắc, sự sắc sảo của tư duy lí luận Tính “mới” so với các BT đã học trong các tiếtchính khóa của BT được đưa vào các tiết tự chọn còn hạn chế, vì vậy làm cho HSkhó hoàn thiện kiến thức

Như vậy có thể nói việc dạy học các chủ đề tự chọn hiện nay ở các trườngTHPT hiện nay còn chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức Xuất phát từ

những lí do đó chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng và sử dụng hệ thống

bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 THPT”.

có nghiên cứu về vấn đề dạy học tự chọn trong luận văn Thạc sĩ với đề tài: “ Tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 Trung học phổ thông với sự hỗ trợ của đa phương tiện”[19] Tuy nhiên đề tài chưa đề cập đến việc xây

dựng và sử dụng HTBT trong dạy học tự chọn

Bên cạnh đó việc sử dụng HTBT vào quá trình dạy học chủ đề tự chọn Vật lítrong những năm vừa qua đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lí Vấn đềnày cũng được tác giả Ngô Thanh Thuận nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ với đề

tài: “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học chủ đề tự chọn chương

“Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT” [30] Đề tài đã trình bày cơ sở lí luận

của dạy học theo chủ đề tự chọn và xây dựng được hệ thống bài tập trong dạyhọc tự chọn chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT Tuy nhiên đề tài

Trang 9

mới trình bày cơ sở lí luận khát quát của dạy học theo chủ đề tự chọn mà chưa đisâu làm rõ thế nào là dạy học tự chọn, có bao nhiêu loại dạy học tự chọn và ưunhược điểm của từng loại tác giả cũng chưa đề cập đến.

Với mục tiêu góp phần bổ sung hoàn chỉnh hệ thống lí luận của hoạt động dạyhọc tự chọn và làm phong phú HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn chúng tôi lựachọn nghiên cứu vấn đề này ở chương “Điện tích - Điện trường” Vật lý 11 THPT

3 Mục tiêu của đề tài

Góp phần nâng cao chất lượng dạy học chương “Điện tích - Điện trường”thông qua việc:

- Xây dựng HTBT theo từng chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” Vật lý

11 THPT

- Thiết kế quy trình sử dụng HTBT đã xây dựng được vào tiến trình dạy học theo

chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” Vật lý 11 THPT

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng HTBT trong tổ chức dạy học theo chủ đề tự chọnchương “Điện tích - Điện trường” Vật lý 11 THPT theo quy trình tác giả đề xuất thì

sẽ phát huy được tính tích cực, tự lực của HS trong học tập, góp phần nâng cao chấtlượng dạy học chương “Điện tích - Điện trường” Vật lý 11 THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học theo chủ đề tự chọn trongchương trình dạy học phân hoá;

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của xây dựng và sử dụng HTBT;

- Nghiên cứu chương trình chương “Điện tích - Điện trường” và nội dung cácchủ đề “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 THPT;

- Nghiên cứu xây dựng HTBT cho chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điệntrường” Vật lí 11 và đề xuất quy trình sử dụng HTBT;

- Soạn thảo một số bài dạy học theo chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điệntrường” Vật lí 11THPT có sử dụng HTBT đã xây dựng;

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc dạy học theo chủ đề tự chọn “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11.

Trang 10

6 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động dạy học theo chủ đề tự chọn trong chương “Điện tích - Điện

trường” Vật lí lớp11 THPT

7 Phạm vi nghiên cứu

- QTDH theo các chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 THPT.

- Thực hiện thực nghiệm đề tài tại các trường THPT trên địa bàn huyện LệThủy, tỉnh Quảng Bình

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản của Nhà nước và của ngànhGiáo dục - Đào tạo

- Nghiên cứu các sách, bài báo, tạp chí chuyên ngành

- Nghiên cứu các tài liệu về dạy học phân hóa, tự chọn

- Nghiên cứu chương trình, SGV, SGK, sách bài tập Vật lí 11, tài liệu hướngdẫn dạy học tự chọn môn Vật lí và các sách bài tập tham khảo

- Nghiên cứu các luận văn, luận án có liên quan đến đề tài

8.2 Phương pháp chuyên gia

Gặp gỡ và trao đổi với những người hướng dẫn, lắng nghe sự tư vấn và giúp

đỡ của các chuyên gia, giúp định hướng cho việc triển khai và nghiên cứu đề tài

8.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Sử dụng các phiếu điều tra, thăm dò ý kiến GV, HS để khảo sát thực trạngcủa việc dạy học chủ đề tự chọn ở trường THPT

- Sử dụng các phiếu điều tra, thăm dò ý kiến GV, HS để khảo sát trình độ, thái

độ, quan điểm về chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 THPT

- Dự giờ một số tiết học theo chủ đề tự chọn “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11

8.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Chọn mẫu nghiên cứu

- Tiến hành tổ chức dạy học một số tiết theo chủ đề tự chọn chương “Điện tích

- Điện trường” Vật lí 11 theo ý tưởng của đề tài (có đối chứng)

- Quan sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động của HS khi học các tiết học theo chủ

đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11

Trang 11

- So sánh kết quả học tập với các lớp đối chứng, kết hợp với việc trao đổi ýkiến với GV giảng dạy rồi rút ra kết luận.

8.5 Phương pháp thống kê toán học

Thống kê, xử lí số liệu thu được từ phiếu điều tra và các kết quả thực nghiệm

sư phạm

9 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 3 phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 12

NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG

HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TỰ CHỌN

1.1 Dạy học theo chủ đề tự chọn

1.1.1 Dạy học tự chọn

Dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hànhcác hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, sởthích, nhu cầu và các điều kiện học tập, nhằm tạo ra những kết quả học tập tốt nhấtcho người học Phân luồng, phân ban, dạy học tự chọn là các hình thức thực hiệndạy học phân hoá

Dạy học tự chọn được thực hiện trong quá trình dạy học ở các cấp học Nếuphân ban hướng đến các nhóm học sinh với khả năng, sở thích, nhu cầu, điều kiệnhọc tập tương đối giống nhau thì dạy học tự chọn hướng đến từng cá nhân học sinh.Dạy học tự chọn cho phép mỗi học sinh, ngoài việc học theo một chương trìnhchung còn có thể học một chương trình, với các môn học khác nhau, hoặc có thểhọc các chủ đề khác nhau trong một môn học

Hình thức phân hóa bằng dạy học tự chọn cũng ra đời vào khoảng thế kỷ XIX.Dạy học tự chọn ngày càng được phát triển, đặc biệt ở Mỹ

Đặc điểm của hình thức này là mọi học sinh phải học một số môn học cốt lõi(hay còn gọi là môn học bắt buộc) Ngoài các môn học cốt lõi này học sinh có thểchọn học một số môn học khác theo năng lực, nguyện vọng của cá nhân Cũng cóhình thức tự chọn khác là ở tất cả các môn học trong nhà trường đều có hai loạichương trình: Chương trình chuẩn và chương trình nâng cao Học sinh căn cứ vàonăng lực và sở thích của mình để quyết định chọn học loại chương trình nào ở mỗimôn học [8]

1.1.2 Phân loại dạy học theo chủ đề tự chọn

Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều hình thức dạy học tự chọn:

1.1.2.1 Phân ban kết hợp với dạy học theo chủ đề tự chọn

Đặc điểm của hình thức phân ban kết hợp là học sinh vừa được phân chia theohọc các ban khác nhau, đồng thời học sinh được chọn một số môn học, chủ đề tự

Trang 13

chọn ngoài phần nội dung học tập bắt buộc chung cho mỗi ban Hình thức này kếthợp được ưu điểm của cả hai hình thức phân ban và dạy học theo chủ đề tự chọn, nóđược nhiều nước trên thế giới áp dụng Đây cũng chính là hình thức mà chúng tađang thực hiện ở trường THPT hiện nay.

1.1.2.2 Phân luồng kết hợp với dạy học theo chủ đề tự chọn

Đặc điểm của hình thức này là cấp THPT được tổ chức thành các loại trườngkhác nhau Chương trình của mọi loại hình trường được xây dựng theo một địnhhướng, thường là về lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kinh tế, côngnghệ,… Theo mỗi định hướng này, học sinh phải học theo một số môn bắt buộctheo quy định chung và một số môn tự chọn Việc lựa chọn các môn học theo một

số định hướng xác định hiện đang được áp dụng ở khá nhiều nước

1.1.2.3 Phân ban kết hợp với dạy học theo chủ đề tự chọn ở trường THPT Việt Nam

Ở bậc học THPT của nước ta đang sử dụng hình thức phân ban kết hợp vớidạy học theo chủ đề tự chọn

Chương trình chuẩn của THPT

Điều 29 của Luật Giáo dục 2005 quy định “Chương trình giáo dục phổ thôngthể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi

và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạtđộng giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp

và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông”[27]

Như vậy, chương trình giáo dục phổ thông là một kế hoạch sư phạm bao gồm:

- Mục tiêu giáo dục

- Phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục

- Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ đối với từng môn học sautừng đơn vị kiến thức, sau mỗi lớp học và cấp học

- Phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục

- Đánh giá kết quả giáo dục từng môn học ở từng lớp, từng cấp học

Trong chương trình giáo dục phổ thông của nước ta, chuẩn kiến thức, kỹ năng

và yêu cầu về thái độ là những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng và yêu cầu vềthái độ mà mỗi học sinh đều cần phải và có thể đạt được Nói cách khác, chuẩn kiến

Trang 14

Một chương trình với những quy định cụ thể về nội dung giáo dục nhằm đạtđược các chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ như vậy được gọi là

“chương trình chuẩn” Chương trình chuẩn có thể được hiểu là chương trình nhằmđảm bảo giáo dục mang tính phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho tất

cả học sinh trong cả nước

Chương trình nâng cao của THPT

Ở cấp THPT ngoài chương trình chuẩn, để thực hiện dạy học phân hoá, một sốmôn học còn có nội dung nâng cao như: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn,Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ Chương trình của các môn học với nội dung nâng caonày gọi là chương trình nâng cao

Tổ chức dạy học tự chọn ở cấp THPT dựa trên các ban đã qui định:

- Ban khoa học tự nhiên (KHTN): Ban này phù hợp với những học sinh cónăng lực, hứng thú, nguyện vọng học sâu hoặc lựa chọn các nghề nghiệp đòi hỏikiến thức về lĩnh vực Toán và khoa học tự nhiên

- Ban khoa học xã hội và nhân văn (KHXH-NV): Ban này phù hợp với nhữnghọc sinh có năng lực hứng thú, nguyện vọng học sâu hoặc lựa chọn các nghề nghiệpđòi hỏi kiến thức về lĩnh vực văn hoá xã hội

- Ban cơ bản: Thực hiện phân hoá linh hoạt bằng dạy học tự chọn ở các mức

độ năng cao khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu của các bộ phận học sinh học lên đạihọc, cao đẳng, trung cấp nghề, đi vào lao động sản xuất

Học sinh ban KHTN học theo chương trình nâng cao của 4 môn: Toán, Lí,Hoá, Sinh và chương trình chuẩn của các môn còn lại

Học sinh học ban KHXH-NV học theo chương trình nâng cao của 4 môn: Văn,

Sử, Địa, Ngoại ngữ và chương trình chuẩn của các môn còn lại

Học sinh học ban cơ bản sử dụng thời lượng tự chọn (4 tiết/tuần) để học theochương trình sách giáo khoa nâng cao của một số môn có nội dung nâng cao hoặchọc theo tài liệu dạy học tự chọn dành cho giáo viên và học sinh

Tổ chức dạy học tự chọn trong các trường học là giải pháp thực hiện dạy họcphân hoá triệt để nhất vì mang đến cơ hội lựa chọn cho từng người học

Tuy nhiên, việc thực hiện dạy học tự chọn đòi hỏi rất nhiều điều kiện:

Trang 15

- Ngoài các môn học truyền thống, phải thiết kế và đưa vào chương trình giáodục nhiều môn học khác để có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của học sinh Việc xâydựng chương trình và biên soạn tài liệu dạy học cho các môn học như vậy đòi hỏirất nhiều thời gian.

- Phải thiết kế chương trình chuẩn và chương trình nâng cao cho tất cả cácmôn học trong kế hoạch giáo dục Đồng thời, phải biên soạn SGK và tài liệu dạyhọc khác cho cả 2 loại chương trình này Những việc làm trên đòi hỏi quá trìnhchuẩn bị nhiều năm

- Phải chuẩn bị đội ngũ giáo viên cho các môn học mới

- Phải có đủ phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành để có thể bố trí các lớphọc theo sự lựa chọn đa dạng của học sinh

- Ngoài những điều kiện nêu trên, dạy học tự chọn còn đòi hỏi nhiều điều kiệnkhác mà hiện nay nền kinh tế - xã hội của nước ta chưa đáp ứng đầy đủ

Hiện nay trong chương trình THPT có hai loại chủ đề tự chọn của chươngtrình chuẩn:

Ban cơ bản có nguyện vọng học tự chọn thì sẽ học các chủ đề nâng cao trong

số các môn học có nội dung nâng cao (Toán, Lí, Hoá, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoạingữ) Các chủ đề này đề cập đến các nội dung nâng cao, nhằm bổ sung và phát triểnchương trình chuẩn đạt mức tương đương chương trình nâng cao

Các chủ đề bám sát chương trình chuẩn của các môn học trong kế hoạch giáodục Các chủ đề này nhằm củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kĩ năng củacác môn học

Ngoài ra, trong chương trình THPT còn có một loại chủ đề tự chọn củachương trình nâng cao là chủ đề bám sát chương trình nâng cao Chương trình nângcao sẽ học các môn học với nội dung nâng cao như: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinhhọc, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ Các chủ đề bám sát chương trình nângcao này nhằm củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kĩ năng của các môn họcvới nội dung nâng cao

Chương trình giáo dục THPT thể hiện tính phân hoá, nhằm phát triển kĩ năng

và hứng thú cá nhân của học sinh nhưng vẫn đảm bảo tính phổ thông toàn diện.Mức độ phân hoá ở cấp THPT chưa quá sâu và rõ rệt

Trang 16

Phương pháp dạy học các chủ đề tự chọn có khác phương pháp dạy học các môn học không ?

Phưong pháp dạy học phải căn cứ vào trình độ học sinh Đối với các học sinhhọc các chủ đề bám sát cần phải gợi ý, củng cố, làm mẫu,

Đối với học sinh chọn các chủ đề tự chọn nâng cao thì nên tổ chức và hướngdẫn học sinh bằng các gợi ý cần thiết để học sinh tự giải quyết, tìm kiếm các mối liên

hệ giữa phần đã học và phần nâng cao, gơi ý để tiếp tục nghiên cứu phát triển các vấn

đề đó nhằm tạo hứng thú và đáp ứng nguyện vọng của những đối tượng HS này

1.1.3 Ưu nhược điểm dạy học theo chủ đề tự chọn

1.1.3.1 Ưu điểm dạy học theo chủ đề tự chọn

Ưu điểm nổi bật của dạy học theo chủ đề tự chọn là đáp ứng được yêu cầuphân hóa cao của học sinh Bên cạnh đó, dạy học theo chủ đề tự chọn góp phầnnâng cao, củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kỹ năng các môn học, hoạtđộng giáo dục nhằm giúp HS rèn luyện năng lực tự học, phát huy tính tích cực, chủđộng và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn Cụ thể đối với phương pháp dạy

học theo chủ đề tự chọn nâng cao hướng vào bổ sung, nâng cao kiến thức, khai thác

sâu chương trình, rèn luyện kỹ năng và năng lực tư duy sáng tạo cho HS Phương

pháp dạy học theo chủ đề tự chọn bám sát hướng vào củng cố, hệ thống hoá, khắc

sâu kiến thức, kỹ năng (không bổ sung kiến thức nâng cao mới)

1.1.3.2 Nhược điểm dạy học theo chủ đề tự chọn

Dạy học theo chủ đề tự chọn đòi hỏi về điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạyhọc đặc biệt là hệ thống phòng học phải đáp ứng Bên cạnh đó, đội ngũ GV, nănglực quản lý và kinh phí để thực hiện việc dạy học theo chủ đề tự chọn cũng đang làmối bận tâm của nhiều trường THPT và của ngành Giáo dục - Đào tạo

1.2 Vấn đề sử dụng bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn môn Vật lí

1.2.1 Sử dụng HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn

Giải BT là một phần quan trọng trong hầu hết các bài học vật lí, và là nội dungquan trọng nhất của dạy học các chủ đề tự chọn môn Vật lí hiện nay ở trườngTHPT Trong dạy học tự chọn BT có thể được sử dụng ở bất cứ khâu nào trongQTDH, góp phần hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu và yêu cầu của các bài dạy học

Trang 17

BT không phải là nội dung, nhưng nó chứa đựng nội dung dạy học BT phùhợp tốt với nội dung dạy học, với năng lực nhận thức của HS và phải phục vụ cho ý

đồ dạy học cho GV [35]

Kiến thức chứa đựng trong mỗi BT phải nằm trong hệ thống kiến thức đượcquy định trong chương trình Khi ra một BT, GV phải xác định được vị trí của nótrong bài dạy học, để BT trở thành một bộ phận hữu cơ của cả một hệ thống bài học

1.2.1.1 Bài tập được sử dụng khi mở bài

Trong dạy học chủ đề tự chọn vật lí, ở khâu mở bài, BT thường được sử dụng đểkiểm tra kiến thức HS hoặc tạo ra một mâu thuẫn giữa những điều đã biết và nhữngđiều chưa biết, đặt HS vào một tình huống có vấn đề, tạo ra nhu cầu khám phá cho HS Các BT được dùng để mở bài, thường phải ngắn gọn, không quá phức tạp, để

HS dễ nắm bắt được các dữ kiện và yêu cầu mà BT đặt ra Tuy nhiên, để mở bàiđược lí thú thì BT dùng mở bài phải có tính bất ngờ và thường gắn các hiện tượngtrong đời sống mà HS đã biết nhưng chưa giải thích được [35] Trong dạy học theochủ đề tự chọn hiếm khi tạo được sự bất ngờ do nội dung mới, mà sự bất ngờ chỉ cóthể tạo ra khi nhìn sự vật, hiện tượng dưới một góc độ mới

1.2.1.2 Bài tập dùng khi luyện tập, củng cố và đào sâu kiến thức

Đây là giai đoạn mà hiện nay BT thường được sử dụng nhiều nhất, có thểdùng BT khi luyện tập, ôn tập một khái niệm, một định lí, định luật hoặc của cả mộtchủ đề hay một chương

Trong bất kì trường hợp nào, BT dùng cho việc luyện tập hay ôn tập cũngnhằm làm cho HS nắm vững và khắc sâu hơn kiến thức đã biết Về mặt sinh lí, đó làviệc rèn luyện hệ thống thần kinh tạm thời, làm cho những kiến thức HS lĩnh hộiđược vững chắc hơn [35]

Tuy nhiên, nếu BT dùng để ôn tập chỉ lặp lại những điều mà HS đã biết thìkhông thể hoàn thiện kiến thức cho HS được Nghĩa là những BT dùng để ôn tậpphải chú ý đến việc khắc phục những sai phạm của HS, phải làm sáng tỏ nhữngđiểm mà HS còn mơ hồ Vì vậy để việc ôn tập có kết quả, BT được sử dụng khôngchỉ lặp lại những điều đã biết, mà phải nhìn các kiến thức dưới một góc độ mới, làmcho kiến thức sâu hơn, rộng hơn, làm rõ những chỗ còn mơ hồ mà HS có thể phạmsai lầm khi vận dụng

Trang 18

Khi ôn tập cho cả chủ đề, thì BT được dùng phải giúp HS nắm được hệ thốngkiến thức, làm thể hiện được mối liên hệ hữu cơ của các đơn vị kiến thức trong hệthống kiến thức đã nghiên cứu.

1.2.2 Phân loại HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn

Vì tầm quan trọng của BT đối với QTDH mà hiện nay các BT được sử dụngtrong nhà trường cũng hết sức đa dạng và phong phú Việc phân loại HTBT đa dạngnhư vậy thì tương đối khó khăn Tuy nhiên hiện nay dựa trên nhiều cơ sở khác nhau,

có nhiều cách phân loại HTBT vật lý Tất cả các cách phân loại đều có tính chấttương đối và có tính chất quy ước, bởi vì trong bất kì loại BT nào cũng có thể chứađựng những yếu tố của loại BT khác

Phân loại BT dựa vào nội dung: Bài tập toán, bài tập lí, bài tập hoá,…trong

mỗi môn học lại chia thành nhiều chuyên ngành riêng, như trong vật lí học thì cóbài tập cơ học, bài tập nhiệt học, bài tập điện học, bài tập quang học, bài tập vật líhạt nhân,…[35]

Phân loại BT dựa vào độ khó: Bài tập cơ bản, bài tập nâng cao [35].

Phân loại BT dựa trên tính chất:

- Bài tập định tính, bài tập định lượng;

- Bài tập lí thuyết, bài tập thực hành;

- Bài tập tình huống, bài tập nhận thức,…[35]

Phân loại BT dựa trên đặc điểm của hoạt động nhận thức:

- Bài tập tái hiện;

- Bài tập sáng tạo [35]

Phân loại BT dựa vào các bước của quá trình dạy học:

- Bài tập mở bài, tạo tình huống dạy học;

- Bài tập vận dụng;

- Bài tập củng cố hệ thống hoá kiến thức;

- Bài tập về nhà;

- Bài tập kiểm tra [35]

Tuy nhiên qua thực tiễn dạy học theo chủ đề tự chọn, cách phân loại BT dựavào mục tiêu của dạy học theo chủ đề tự chọn là thuận tiện cho việc dạy học theo chủ

đề tự chọn hơn cả Theo cách phân loại này BT vật lí được chia thành các loại sau:

Trang 19

1.2.2.1 Bài tập luyện tập, củng cố kiến thức và kỹ năng

Bài tập luyện tập, củng cố kiến thức và kỹ năng là BT yêu cầu HS áp dụngnhững kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết vấn đề trong tình huống quen thuộcnhưng dưới những hình thức khác nhau Loại BT này giúp HS củng cố, khắc sâukiến thức và rèn luyện cho HS những kiến thức và kỹ năng cơ bản, khắc phục cácsai phạm, làm bước đầu cho việc đào sâu kiến thức, nâng cao kỹ năng

Việc chuẩn bị cho HS một hệ thống các bài tập luyện tập, củng cố kiến thức và

kỹ năng là hết sức cần thiết trong dạy học các chủ đề tự chọn, nhằm đảm bảo cho sựvững chắc của kiến thức trong quá trình học tập của HS Nó là bước chuẩn bị quantrọng để HS khám phá những bài tập tổng hợp, nâng cao phức tạp hơn

Các bài tập luyện tập, củng cố kiến thức và kỹ năng còn có tác dụng kích thíchhứng thú, tạo ra niềm vui do HS cảm nhận được những thành công bước đầu củamình trong học tập, dần dần hình thành niềm tin vào năng lực, vào sức mạnh củabản thân tạo điều kiện quan trọng để hình thành tính tích cực và tính tự lực, mộttrong những phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách con người

Vì vậy, nếu không nhận thức đúng mức tầm quan trọng của bài tập luyện tập,củng cố kiến thức và kỹ năng đối với QTDH chủ đề tự chọn, mà vội vàng lướt qua

để lao vào các bài toán khó sẽ dẫn đến tình trạng tạo ra lỗ hỏng trong kiến thức của

HS, nhất là đối với những HS yếu kém, thì kết quả sẽ rất tai hại

1.2.2.2 Bài tập mở rộng kiến thức và kỹ năng

Bài tập mở rộng kiến thức và kỹ năng là những BT mà muốn giải nó HS phảivận dụng kiến thức tổng hợp từ nhiều khái niệm, định luật, quy tắc khác nhau.Ngoài ra, HS phải nỗ lực tư duy để tìm ra lời giải Loại BT này được dùng cho việcbồi dưỡng các phẩm chất của tư duy: tính linh hoạt, mềm dẻo, độc đáo, nhạy cảmcho HS

Tính chất mở rộng thể hiện ở chỗ không có một cách giải chuyên biệt cho mỗi

BT Với bài tập mở rộng, người giải phải vận dụng nhiều kiến thức một cách linhhoạt trong những tình huống mới (về kiến thức, kĩ năng)

Việc xây dựng bài tập mở rộng kiến thức và kỹ năng là hết sức quan trọng.Tính chất đa dạng, phức tạp của BT đòi hỏi các em huy động trí nhớ, nỗ lực tư duy

Trang 20

và tưởng tượng,…làm phát triển ở HS năng lực sáng tạo là phẩm chất rất quan trọngcủa con người trong thời đại mới.

Đối với những HS có năng lực, thích khám phá, thích và biết xoay sở trongnhững tình huống phức tạp, thì những BT có tính chất mở rộng lại tạo cho các em sựhứng thú, kích thích lòng ham hiểu biết, tính tò mò và tạo ra niềm vui cho các em Đó

là những động lực lành mạnh để HS hoạt động tích cực, tự lực và năng động

HS cần được rèn luyện để có thói quen nhìn nhận mỗi sự kiện, mỗi vấn đề dướinhững góc độ mới, biết đặt ra nhiều giả thuyết, đề xuất nhiều giải pháp khác nhau vàphải biết chọn một giải pháp tối ưu khi giải quyết một tình huống Bằng những BTđược xây dựng thành một hệ thống, được tính toán phù hợp với trình độ HS và đượcsắp xếp có độ khó tăng dần, sẽ tạo cơ hội cho HS từng bước đạt được sự thành côngtrong quá trình học tập, dần dần tự xây dựng cho mình niềm tin sáng tạo

Việc phân chia như trên chỉ mang tính tương đối, phụ thuộc vào đối tượng

và phụ thuộc thời điểm sử dụng BT: là bài tập mở rộng kiến thức và kỹ năng tạithời điểm này, nhưng khi đã biết thì lại trở thành bài tập củng cố, luyện tập kiếnthức và kỹ năng

Bài tập luyện tập củng cố, hay bài tập mở rộng đều có tác dụng tích cực trongdạy học các chủ đề tự chọn Vì vậy, GV cần xây dựng HTBT từ luyện tập, củng cốkiến thức và kỹ năng đến bài tập mở rộng kiến thức và kỹ năng và phải đảm bảo sựcân bằng giữa chúng, phù hợp với đối tượng HS

1.3 Các yêu cầu, nguyên tắc xây dựng HTBT theo chủ đề tự chọn

HTBT theo chủ đề tự chọn là một hệ thống gồm nhiều BT thuộc các chủ đềcủa từng chương, chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau, được dùng để luyện tập,củng cố kiến thức, kỹ năng đã học trong chương, đồng thời được dùng để mở rộngkiến thức, nâng cao kỹ năng, hình thành tính tích cực, tự lực và phát triển tư duygóp phần giáo dục HS

Một giờ học theo chủ đề tự chọn có lí thú không, có tích cực hoá hoạt động nhậnthức của HS hay không phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của HTBT mà GV xây dựng

và sử dụng

Trang 21

1.3.1 Các yêu cầu của một bài tập được sử dụng trong HTBT theo chủ đề tự chọn

Khái niệm BT được dùng theo nghĩa rộng của nó thì rất phong phú, bao gồmcâu hỏi, bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm, Để có một HTBTtốt, có tác dụng tích cực cho QTDH thì mỗi BT được biên soạn phải thoả mãnnhững yêu cầu sau [35]:

- Mỗi BT phải có một nhiệm vụ, một vị trí nhất định trên bài học BT có thểdùng để mở bài, luyện tập củng cố kiến thức, mở rộng kiến thức, phát triển tưduy sáng tạo,

- Mỗi BT phải chứa đựng những kiến thức được quy định trong chương trìnhmôn học, phải đảm bảo tính chính xác, khoa học và sư phạm Hơn nữa, BT phải cómối liên hệ hữu cơ với những kiến thức trong chủ đề

- BT phải chứa đựng những mâu thuẫn vừa sức và tạo được hứng thú đối với HS

- BT phải hỗ trợ tốt PPDH của GV

- BT phải phối hợp tốt với các phương tiện dạy học khác

- Về hình thức, BT phải được diễn đạt rõ ràng, súc tích các dữ kiện và các yêucầu đặt ra, ngôn ngữ phải chính xác, uyển chuyển, phản ảnh sự vận động của hiệntượng, quá trình

1.3.2 Những yêu cầu của HTBT theo chủ đề tự chọn

HTBT cho một chủ đề có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạyhọc tự chọn, góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn phải thoả mãn nhữngyêu cầu sau [35]:

- Bảo đảm tính hệ thống: Các BT trong HTBT phải có quan hệ chặt chẽ vớinhau, và gắn chặt với mục tiêu dạy học của chủ đề, chứa đựng nội dung của từngđơn vị kiến thức trong chủ đề

- HTBT phải có tác dụng luyện tập kỹ năng, củng cố, đào sâu kiến thức cho

HS, chú ý khắc phục những chỗ HS còn mơ hồ và dễ mắc sai lầm của HS

- HTBT phải góp phần hình thành tính tự lực, phát triển tư duy sáng tạo cho HS

- HTBT phải có tác dụng góp phần rèn luyện năng lực thực hành, thí nghiệmcho HS Đồng thời giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS

- HTBT phải đa dạng, phong phú để cung cấp nội dung cho các bước của QTDH

Trang 22

- Số lượng BT cho mỗi chủ đề không quá nhiều, cũng không quá ít, cótrọng tâm được đưa ra hợp lí, phù hợp với cấu trúc chủ đề, đảm bảo cho HS họctập tập trung, nhưng nhẹ nhàng, thư thái Có như vậy, tư duy của HS không rơivào tình trạng bị động.

1.3.3 Các nguyên tắc xây dựng HTBT theo một chủ đề tự chọn

Muốn HTBT có tác dụng tích cực trong dạy học theo chủ đề tự chọn môn Vật lí,khi xây dựng HTBT cho một chủ đề tự chọn, thì cần phải tuân thủ các nguyên tắc sauđây [35]:

1.3.3.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu của chủ đề dạy học

BT là một phương tiện hữu hiệu để tổ chức các hoạt động cho HS nhằm khắc sâu,vận dụng và mở rộng hệ thống kiến thức đã học, hình thành và rèn luyện kỹ năng cho

HS HTBT chứa đựng nội dung của các đơn vị kiến thức trong chủ đề, thông qua việcrèn luyện hệ thống kỹ năng củng cố những kiến thức đó Vì thế, HTBT được xây dựngphải bám sát mục tiêu, góp phần hoàn thiện mục tiêu môn học

1.3.3.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính đa dạng

HTBT được xây dựng cho một chủ đề phải đảm bảo tính đa dạng, phong phú,

nó phản ảnh được tính đa dạng phong phú của tự nhiên Sự đa dạng của HTBT sẽgiúp cho hệ thống kiến thức của HS được hoàn thiện hơn, làm cho việc hình thành

và phát triển hệ thống kỹ năng cũng hiệu quả hơn Có BT định tính, BT định lượng,

BT thí nghiệm, BT kiểm tra,

1.3.3.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính vừa sức và phát huy được tính tích cực của học sinh

HTBT phải được sắp xếp từ dễ đến khó, từ lí thuyết đến thực tiễn, từ tái hiệnđến sáng tạo Bắt đầu HTBT là những BT vận dụng vào những tình huống quenthuộc đơn giản, càng về sau thì những BT vận dụng càng phức tạp hơn, và cuốicùng là những BT yêu cầu HS phải sáng tạo để giải quyết vấn đề Sự sắp xếp các

BT như vậy tạo tâm lí thoả mái, nhẹ nhàng cho HS khi giải quyết các BT

Khi xây dựng HTBT cho một chủ đề, thì số lượng BT vừa phải, không yêu cầu

HS giải quyết giải quyết quá nhiều những BT Cần xây dựng những BT điển hình, vớinhững mức độ khó khăn khác nhau, chứa đựng những phương pháp giải khác nhau

Trang 23

Các vấn đề BT đưa ra phải có mức độ mâu thuẫn vừa phải, kích thích được sựhứng thú, lòng ham hiểu biết của HS, tạo điều kiện tốt để HS hình thành tính tự lực

và phát huy được tính tích cực nhận thức của HS

QTDH chỉ đạt hiệu quả cao khi HS hoạt động tích cực, chủ động Do đó, khixây dựng HTBT phải đưa HS vào trạng thái tâm lí tích cực, có nhu cầu giải quyếtvấn đề và có khả năng giải quyết được Để HTBT thêm phần lí thú, thì các vấn đềđưa ra trong các BT phải gắn với thực tế cuộc sống hàng ngày của HS, tạo cơ hộicho HS tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn

1.3.3.4 Hệ thống bài tập phải phù hợp với quá trình dạy học

Hiện nay, qua trình dạy học ở trường THPT đã có nhiều đổi mới cả về mụctiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạyhọc, Thực hiện dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS, pháttriển khả năng tư duy độc lập, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp và nhucầu tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập Dovậy, việc xây dựng HTBT cũng phải xuất phát từ những cơ sở đó, để góp phần nângcao hiệu quả của việc rèn luyện kỹ năng cho HS

Việc xây dựng HTBT cho một chủ đề còn xuất phát từ việc xác định mục tiêu cụthể của môn học, mục tiêu từng phần, mục tiêu của chủ đề, từ đó xác định nội dungkiến thức, kỹ năng cơ bản, cần thiết của chương trình dạy học Việc giải BT trong dạyhọc tự chọn chỉ được thực hiện sau khi HS đã nắm vững lý thuyết, do đó BT thiết kếcho một chủ đề phải bám sát toàn bộ nội dung cơ bản của từng bài học, từng chủ đề

Số lượng BT trong hệ thống cũng phải vừa đủ, phù hợp với thời gian trênlớp và thời gian rèn luyện ở nhà của HS Hiện nay số tiết dạy học tự chọn chomỗi lớp là không nhiều, nên số lượng và yêu cầu của mỗi BT cũng phải phù hợpvới khả năng HS

Tóm lại khi xây dựng HTBT cho một chủ đề, phải chú ý đến những yếu tố củaQTDH như mục tiêu, nội dung chương trình, khả năng của GV và HS, quỹ thời giancho phép,

1.3.4 Quy trình xây dựng HTBT theo một chủ đề tự chọn

Hệ thống bài tập là một yếu tố rất quan trọng của quá trình dạy học Có thể nóihọc tập là giải một hệ thống bài tập đa dạng Trong thực tế một giờ học các chủ đề tựchọn có hiệu quả, có thỏa mãn được yêu cầu nâng cao tính tích cực, sáng tạo của HS

Trang 24

xây dựng HTBT cho một chủ đề tự chọn, thì cần phải thực hiện theo năm giai đoạn

trong quy trình xây dựng HTBT (sơ đồ 1.1):

Sơ đồ 1.1 Quy trình xây dựng HTBT

Bước 1: Xác định nội dung HTBT

- Bước này phân tích nội dung của chủ đề rồi từ đấy xây dựng một sơ đồ Grap đểbộc lộ nội dung kiến thức

- Xác định những kỹ năng cần hình thành và phát triển cho HS

- Xác định những nội dung cần trang bị cho HS

Bước 2: Phân tích quan hệ giữa kiến thức và kỹ năng

Kiến thức và kỹ năng đều là mục tiêu của QTDH, chúng không tồn tại độc lập

mà có mối liên hệ với nhau Thông qua việc vận dụng kiến thức, HS hình thành hệthống kỹ năng Ngược lại, khi rèn luyện kỹ năng thì hệ thống kiến thức của HScũng được cũng cố và hoàn thiện hơn

Trong bước này, ta phải tìm thấy con đường hợp lí liên hệ giữa kiến thức và kỹnăng Mối quan hệ ấy được thể hiện trong bảng sau:

Trang 25

Bước 3: Xác định cấu trúc của hệ thống bài tập

- Xác định vị trí, nhiệm vụ từng loại BT

- Xác định số lượng BT tương ứng với từng kỹ năng cần rèn luyện Cấu trúc củaHTBT cho một chủ đề được cụ thể hoá theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.3 Sơ đồ cấu trúc hệ thống bài tập cho một chủ đề tự chọn

Bước 4: Thu thập thông tin và xây dựng HTBT

- Thu thập SGK, sách BT, các tài liệu tham khảo liên quan đến HTBT cần xây dựng

- Tìm hiểu, nghiên cứu thực tiễn giáo dục, những vấn đề đang xảy ra trong thực tếdạy học

Số tài liệu thu thập được càng nhiều, càng đa dạng và phong phú thì việc xâydựng HTBT càng nhanh chóng, hiệu quả và có chất lượng Vì thế cần sưu tầm tưliệu một cách khoa học và dành cho nó một thời gian thích đáng

Trang 26

dụng trong HTBT như đã nêu trên.

- Xây dựng các phương án giải BT

- Sắp xếp các BT thành các loại theo trình tự: từ dễ đến khó, từ lí thuyết đến thựctiễn, từ tái hiện đến sáng tạo,

Bước 5: Tiến hành dạy học và đánh giá HTBT

Khi sử dụng HTBT để dạy học theo chủ đề tự chọn phải đáp ứng yêu cầu củng

cố, hệ thống hoá kiến thức, làm rõ các nội dung khó nhằm giúp HS nắm vững kiếnthức và rèn luyện kỹ năng để đạt được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng củachương trình Do đó để đánh giá HTBT vừa triển khai thông qua việc phân tích hệthống các dữ liệu thu thập được Từ kết quả đó cùng với sự trao đổi với HS và đồngnghiệp, điều chỉnh và cải tiến HTBT sao cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả dạyhọc tốt hơn

Phân tích, thiết kế, xây dựng, thực hiện và đánh giá phụ thuộc lẫn nhau và có tácđộng qua lại Thực hiện sự bổ sung liên tục HTBT thông qua sự thử nghiệm với cácquy trình xây dựng HTBT tiếp theo, nơi mà những thiếu sót trong mỗi quy trình đượcxác định để tái thiết kế, thực hiện, và thẩm định lại

1.4 Thực trạng của dạy học theo chủ đề tự chọn ở trường THPT hiện nay 1.4.1 Thực trạng

Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã tiến hành quan sát sư phạm,tham khảo giáo án, dự giờ, trao đổi ý kiến với một số GV bộ môn, dùng phiếu thăm

dò ý kiến của 30 GV, phiếu điều tra HS ở các trường THPT trên địa bàn huyện LệThủy, tỉnh Quảng Bình nhằm thu thập số liệu cụ thể về thực trạng của việc dạy họctheo chủ đề tự chọn môn Vật lí ở các trường THPT hiện nay

Qua phỏng vấn một số GV, chúng tôi nhận thấy các GV bước đầu đã có sự chútrọng về việc dạy học các chủ đề tự chọn Tuy nhiên số lượng GV tự xây dựng và sửdụng HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn còn ít, đặc biệt là việc xây dựngHTBT chủ yếu dựa vào cảm tính, chưa có quy trình cụ thể

Kết quả điều tra cho thấy, hầu hết các GV đều nhận thức được sự cần thiếtcủa việc dạy học theo chủ đề tự chọn trong chương trình dạy học phân hoá,nhưng hầu hết GV chưa từng tham gia các lớp bồi dưỡng về dạy học theo chủ đề

tự chọn Hơn nữa, GV chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng HTBT cho

Trang 27

chủ đề tự chọn cụ thể như sau: chỉ có 26,7% GV thường xuyên tự xây dựngHTBT, có 56,7% GV thỉnh thoảng tự xây dựng HTBT, còn 16,6% chưa bao giờ

tự xây dựng HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn

HTBT GV thường sử dụng trong dạy học theo chủ đề tự chọn chủ yếu lànhững BT có sẵn trong “Tài liệu chủ đề tự chọn” do Bộ GD - ĐT ban hành, ít cónhững BT khắc phục những chỗ còn mơ hồ mà HS có thể phạm phải sai lầm khivận dụng Những BT có nội dung gắn với thực tế còn ít được đưa vào

Chúng tôi tiến hành điều tra về nhu cầu học tập của HS đối với các chủ đề tựchọn bộ môn Vật lí ở trường THPT Trần Hưng Đạo, huyện Lệ Thủy, tỉnh QuảngBình, với số lượng HS điều tra là 177 HS (4 lớp) Kết quả điều tra cho thấy, phầnlớn HS ý thức được tầm quan trọng của việc học các chủ đề tự chọn Vật lí đối vớichất lượng học tập bộ môn, tuy nhiên HS chưa thật sự hứng thú trong việc học cácchủ đề tự chọn HS chưa có thói quen tự học, tự nghiên cứu giải quyết vấn đề, cụthể: chỉ có 37,8% HS thường xuyên tự rèn luyện giải BT ở nhà Đa số HS còn chưa

có “Tài liệu chủ đề tự chọn” hoặc nếu có thì chỉ sử dụng trong các tiết học theo chủ

đề tự chọn

1.4.2 Nguyên nhân

Để khắc phục những hạn chế nói trên nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạyhọc tự chọn vật lí, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu và phân tích nguyên nhân củathực trạng này Về cơ bản gồm các nguyên nhân sau đây:

- Hầu hết các GV dạy học theo chủ đề tự chọn chưa tham gia các lớp bồidưỡng về dạy học tự chọn, vì vậy GV thường gặp lúng túng trong việc xây dựngmục tiêu, lựa chọn nội dung, PPDH, hình thức dạy học, phương tiện dạy học phục

vụ cho bài dạy học theo chủ đề tự chọn

- Tài liệu phục vụ cho dạy học theo chủ đề tự chọn chưa thật sự phong phú,việc dạy học theo chủ đề tự chọn hiện nay GV chủ yếu dựa vào “Tài liệu chủ đề tựchọn nâng cao và tài liệu chủ đề tự chọn bám sát (chương trình chuẩn)” và “tài liệuchủ đề tự chọn bám sát chương trình nâng cao” do Bộ GD-ĐT ban hành Tuy nhiêncấu trúc của các tài liệu ở cùng một khối lớp có sự khác nhau (do nhiều nhóm tácgiả viết), thiếu tính thống nhất và đồng bộ giữa các tài liệu

Qua điều tra khảo sát thực tế thì tài liệu phục vụ cho dạy học chủ đề tự chọn

Trang 28

Trong số tài liệu hướng dẫn dạy học các chủ đề tự chọn vật lí đối với lớp 11

và lớp 12 chỉ có tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao dành cho đối tượng học sinh họcchương trình cơ bản Còn không có tài liệu hướng dẫn học các chủ đề tự chọn bámsát dành cho đối tượng học sinh, học chương trình cơ bản và cả chương trình nângcao Số tiết học các chủ đề tự chọn do giáo viên quyết định Một số trường giáo viêntrong tổ bộ môn thống nhất được với nhau về chương trình, nội dung chủ đề dạyhọc tự chọn Một số trường tuỳ từng giáo viên và tuỳ từng từng đối tượng học sinh,giáo viên tự tìm tài liệu và tự chọn kiến thức để tổ chức dạy học theo chủ đề tự chọnbám sát cho học sinh

- Tuy vẫn ý thức được tầm quan trọng của việc dạy học theo chủ đề tự chọnđối với việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nhưng không ít GV quan niệmhọc tự chọn giống như là học môn phụ nên chưa thật sự chú trọng đầu tư và quantâm đúng mức Giáo án dạy học theo chủ đề tự chọn chưa được đầu tư nhiều thờigian và công sức, chưa quan tâm nhiều đến việc xây dựng HTBT trong dạy học cácchủ đề tự chọn vì ngại vất vả và mất nhiều thời gian

- HS với tâm lí học tự chọn là học môn phụ, vì vậy HS cũng không thật sựhứng thú trong học chủ đề tự chọn Hơn nữa, đa số HS còn khá thụ động trong họctập, chưa phát huy tốt năng lực tự học và tự nghiên cứu của HS

- Đa số các trường hiện nay phòng học thường cũng chỉ tạm đủ, trang thiết bịcòn thiếu thốn, chưa hỗ trợ tốt cho dạy học theo chủ đề tự chọn

1.4.3 Giải pháp

Để khắc phục những hạn chế trên, ngoài sự nỗ lực của các cấp lãnh đạo đòi hỏi

Trang 29

mỗi GV phải phát huy tinh thần trách nhiệm, đầu tư và quan tâm hơn nữa đối vớiQTDH tự chọn Có như vậy mới phát huy tốt chức năng dạy học theo chủ đề tự chọn,góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí Dựa trên việc tìm hiểu và phântích các nguyên nhân ở trên, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp cơ bản sau đây:

- Tổ chức các lớp bồi dưỡng về dạy học theo chủ đề tự chọn cho các GV ở cácđịa phương

- Tổ chức biên soạn tài liệu dùng để dạy học theo chủ đề tự chọn thống nhấtgiữa Bộ GD - ĐT và các địa phương bao gồm: SGK, sách tham khảo và các thiết bị,phương tiện, băng, đĩa hình giáo khoa (theo từng chủ đề và môn học tự chọn)

- Xây dựng kế hoạch dạy học theo chủ đề tự chọn phải khả thi, thiết thực, bám

sát mục tiêu, phù hợp với điều kiện đội ngũ GV và cơ sở vật chất của từng nhàtrường Thực hiện nghiêm túc thời lượng dạy học theo quy định trong kế hoạch,chương trình giáo dục, không được tự ý giảm nhẹ, cắt xén nội dung hoặc gây quá tảitrong dạy học theo chủ đề tự chọn

- Đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rènluyện năng lực tự học, tự nghiên cứu, phân tích, suy luận, sát với từng loại đốitượng HS GV tổ chức cho HS thực hiện các hoạt động để thu thập và xử lý thôngtin, phát hiện các vấn đề đặt ra từ thực tiễn để giải quyết

- Khi dạy học theo chủ đề tự chọn nâng cao phải đáp ứng yêu cầu bổ sung, nângcao kiến thức, khai thác sâu chương trình, rèn luyện kỹ năng và năng lực tư duy sángtạo cho HS Dạy học các chủ đề tự chọn bám sát phải tập trung củng cố, hệ thống hoákiến thức, làm rõ các nội dung khó nhằm giúp HS nắm vững kiến thức và rèn luyện kỹ

năng để đạt được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình [9].

1.5 Tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn 1.5.1 Tính tích cực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, tính tích cực là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của bản thân chủ thể khi tương tác với đối tượng Nó cũng biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy [35].

Khi nói đến tính tích cực của HS là nói đến tính tích cực nhận thức Tính tích cực nhận thức là tính tích cực xét trong điều kiện phạm vi của quá trình dạy học và

Trang 30

chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của học sinh [35].

Theo tâm lí học, tính tích cực nhận thức của học sinh tồn tại với tư cách là cánhân với toàn bộ nhân cách của nó Cũng như bất kì một hoạt động nào khác, hoạtđộng nhận thức được tiến hành trên cơ sở huy động các chức năng nhận thức, tìnhcảm và ý chí, trong đó chức năng nhận thức đóng vai trò chủ yếu Các yếu tố tâm líkết hợp với nhau tạo nên tâm lí hoạt động nhận thức Sự tác động này không cứngnhắc mà trái lại luôn luôn biến đổi tạo nên rất nhiều dạng khác nhau của các nhiệm

vụ nhận thức cụ thể mà học sinh phải thực hiện Sự biến đổi này càng linh hoạt baonhiêu thì học sinh càng dễ thích ứng với nhiệm vụ nhận thức khác nhau và tính tíchcực nhận thức càng thể hiện ở mức độ cao [13]

Như vậy, có thể hiểu tính tích cực nhận thức của HS là trạng thái hoạt động thểhiện khát vọng cao trong học tập, sự cố gắng về trí tuệ và nghị lực của HS trong quátrình học tập và nghiên cứu, huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giảiquyết những nhiệm vụ học tập, góp phần phát triển nhân cách của HS

1.5.2 Tính tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Tự lực” là sự tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn

đề, không a dua, ỷ lại, nhờ cậy người khác [35].

Tính tự lực nhận thức của học sinh đó là sự sẵn sàng tự học, thể hiện sự thốngnhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa ý thức tình cảm và hành động, giữa tri thức

và phương pháp hoạt động tự học [1]

Như vậy, tính tự lực nhận thức của HS biểu hiện ở sự cố gắng tự mình nắm bắt

về nhiều mặt trong quá trình tìm tòi nắm vững kiến thức, trong bất cứ việc gì cũngdựa vào sức mình là chính, biết tự suy nghĩ để tìm ra cách giải quyết vấn đề màkhông chờ đợi sự giúp đỡ của người khác

Tính tự lực nhận thức là một phẩm chất có tính chất tổng hợp, liên quan đếnnhững phẩm chất và năng lực khác của học sinh như: kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo; cóhứng thú, yêu thích môn học; có sự nỗ lực của ý chí; có tính quyết đoán, kiên trì,nhẫn nại; có tính mục đích và tính kỉ luật;…

1.5.3 Mối liên hệ giữa tính tích cực và tính tự lực của học sinh trong dạy học

BT theo chủ đề tự chọn

Trang 31

Hoạt động tự lực là không dựa dẫm vào người khác, mà phải tự nỗ lực để pháthuy sức mạnh về trí tuệ, ý chí, tâm hồn,…của bản thân để giải quyết vấn đề Điều

đó cho thấy giữa tính tích cực và tính tự lực có mối quan hệ chặt chẽ Tính tích cựcnhận thức là điều kiện cần thiết và cũng là kết quả của tính tự lực nhận thức Khôngthể nào có tính tự lực nhận thức mà thiếu tính tích cực nhận thức

Trong tính tự lực nhận thức đã thể hiện tính tích cực nhận thức, đồng thờitrong sự thể hiện tính tích cực nhận thức lại có tác dụng hướng cá nhân đến tính tựlực nhận thức ở mức độ cao hơn Như vậy, khái niệm tính tự lực và tính tích cực làhai khái niệm có mối liên hệ mật thiết nhưng không thể đồng nhất với nhau

Đối với HS, tính tích cực, tự lực trong học tập chính là dựa vào năng lực củamình để giải quyết các vấn đề trong học tập Tính tích cực gắn liền với hoạt động,tính tích cực luôn mang tính tự lực và ngược lại

1.5.4 Những biểu hiện của tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, tính tích cực, tự lực của HS được biểu hiện quanhững dấu hiệu bên trong, bên ngoài và kết quả học tập của HS [35], cụ thể như sau:

- Những dấu hiệu bên ngoài thể hiện qua thái độ, hành vi và hứng thú của HS

HS thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng, hay đặt ra những câu hỏi, nêu ranhững thắc mắc của mình với GV, yêu cầu được giải thích cặn kẽ, rõ ràng Các emchú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm, hăng háitham gia phát biểu, nhiệt tình hứng thú tham gia vào các hoạt động học tập

- Những dấu hiệu bên trong thể hiện ở việc HS tích cực sử dụng các thao tácnhận thức, đặc biệt là các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, kháiquát hóa,…vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức; tích cực vận dụng vốn kiếnthức, kĩ năng, kĩ xảo vào việc giải quyết các tình huống mới, các bài tập khác nhau;phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát; có những biểuhiện của tính độc lập, sáng tạo và ý chí như sự nỗ lực, cố gắng khắc phục và vượtqua các khó khăn trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức

- Kết quả học tập: đây là dấu hiệu quan trọng và có tính khái quát của tính tíchcực, tự lực nhận thức Chỉ những HS tính cực học tập một cách thường xuyên, liên

Trang 32

tục, tự giác mới đạt kết quả tốt HS tích cực hoạt động thì mới có thể hoàn thànhnhiệm vụ được giao, ghi nhớ tốt những điều đã học, vận dụng được kiến thức đãhọc vào thực tế, phát huy được tính năng động, sáng tạo Cuối cùng, biểu hiện rõràng nhất của tính tích cực, tự lực là kết quả kiểm tra, thi cử của HS đạt được cao.

1.5.5 Tiêu chí đánh giá tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề tự chọn

Để đánh giá tính tích cực, tự lực của HS trong học tập, chúng tôi phân thànhbốn mức độ: mức độ yếu, mức độ trung bình, mức độ khá và mức độ tốt Sau đây lànhững tiêu chí để đánh giá ứng với từng mức độ:

Mức độ yếu

- Trong giờ học, HS có biểu hiện không thích và không tập trung chú ý, haylàm việc riêng, nói chuyện riêng HS học rất thụ động, chỉ ghi chép đơn thuần,không tham gia hoạt động nhóm, không tự mình suy nghĩ giải quyết vấn đề đặt ra

- Sau bài học, HS hoàn toàn không nắm được các kiến thức trong bài

- Lúc kiểm tra HS chỉ nắm được kiến thức ở mức độ tái hiện, nhận biết hoặchọc thuộc lòng mà không hiểu bản chất

Mức độ trung bình

- Trong giờ học, HS không tỏ thái độ thích hay không thích, nhận biết khôngchủ định, GV nói gì nghe nấy, không phân biệt đúng, sai HS học nghiêm túc, cóchú ý, nhưng còn giả tạo, không tập trung vào bài học Tham gia nhóm nhưngkhông đóng góp ý kiến gì, không có sự tranh luận để đi đến kết luận, trước một vấn

đề cũng có tự mình suy nghĩ nhưng gặp khó khăn là từ bỏ ngay

- Sau giờ học, HS có thể ghi nhớ một số kiến thức trọng tâm nhưng còn máymóc, không hiểu rõ vấn đề nên không diễn đạt được theo ý mình và không vận dụngđược kiến thức vừa học vào trong các tình huống mới

- Lúc kiểm tra, HS chỉ có thể nắm được kiến thức ở mức độ ghi nhớ, tái hiện

và có thể làm được một số bài tập vận dụng công thức đơn giản, quen thuộc

Mức độ khá

- Trong giờ học, HS nhận thức có chủ định, tiếp thu các kiến thức một cách cóchọn lọc, có sự đánh giá riêng của bản thân, chủ động học hỏi nhằm lĩnh hội trithức HS cảm thấy thích thú và tập trung chú ý theo dõi bài, thắc mắc những vấn đề

Trang 33

chưa hiểu rõ Tham gia nhiệt tình vào các hoạt động nhóm, có ý thức tự nghiên cứu,

tự tìm tòi để giải quyết vấn đề

- Sau giờ học, HS hiểu bài, có thể diễn đạt các nội dung của bài học theo cáchhiểu của mình, vận dụng được các kiến thức vừa học để giải một số BT liên quanđến bài học và vận dụng được vào trong thực tế cuộc sống

- Khi kiểm tra, HS nắm được kiến thức ở mức độ thông hiểu, vận dụng, có thểtrình bày kiến thức theo ngôn ngữ của mình, giải được các bài toán ở mức độ vậndụng, trả lời được các câu hỏi mang tính thực tế, tính mới lạ

Mức độ tốt

- Trong giờ học, HS rất thích thú, tập trung chú ý cao độ trong giờ học, có sựliên hệ với những hiện tượng thực tế HS tích cực suy nghĩ, hăng hái tham gia cáchoạt động nhóm; thường xuyên phát biểu, bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình tronggiờ học; có sự tranh luận, học hỏi, nỗ lực để giải quyết nhiệm vụ học tập Mạnh dạnhỏi ý kiến thầy cô và các bạn về các vấn đề thu thập được từ thực tế, từ các nguồnthông tin như sách, báo, internet

- Sau giờ học, HS có thể nắm vững một cách sâu sắc các kiến thức trọng tâmcủa bài, có khả năng diễn đạt theo ngôn ngữ của mình; vận dụng sáng tạo kiến thứcvừa học vào các tình huống mới

- Khi kiểm tra, HS hiểu bài, vận dụng thành thạo kiến thức, có thể giải đượccác bài toán thực tế, các bài toán mang tính tổng hợp, sáng tạo, có nhiều cách giảihay, mới lạ, độc đáo

1.5.6 Phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học BT theo chủ đề

tự chọn Vật lí

Dạy học ngày nay không còn là kiểu truyền thụ kiến thức một chiều, mà GVphải dạy cho HS cách học, để HS có thể tự mình phát hiện và giải quyết vấn đề, làmchủ tri thức Việc nghiên cứu các biện pháp để phát huy tính tích cực, tự lực của HS

là việc làm cần thiết của GV trong quá trình dạy học Theo các tác giả Lê Văn Giáo,Thái Duy Tuyên các biện pháp chủ yếu gồm [15], [35]:

- Tạo không khí lớp học thân thiện, quan hệ giữa GV và HS gần gũi, GV lắngnghe ý kiến của HS, động viên khuyến khích và khen thưởng kịp thời HS trong quátrình học tập

Trang 34

thích hứng thú học tập của HS Muốn vậy cách tiếp cận vấn đề của GV phải hấpdẫn, bất ngờ nhằm tạo ra mâu thuẫn trong nhận thức của HS.

- Nội dung học tập phải mới nhưng không quá xa lạ với HS mà phải kế thừacác kiến thức cũ, gần gũi với cuộc sống, có nhiều ứng dụng trong thực tiễn, thỏamãn nhu cầu nhận thức của HS

- Cần cho HS thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu đốivới việc hình thành kiến thức và đối với thực tiễn cuộc sống HS có thể biết đượcviệc học kiến thức đó để làm gì thì sẽ kích thích được lòng ham muốn hiểu biết, tìmtòi của các em

- Vận dụng hợp lí và linh hoạt các PPDH có tác dụng tốt đối với việc phát huytính tích cực của HS như: PP nêu và giải quyết vấn đề, PP thực nghiệm, PP mô hình,

PP kiến tạo,… nhằm phát huy tối đa tính tích cực của HS trong học tập

- Sử dụng các hình thức dạy học hợp lí, biết phối hợp các hình thức dạy họcnhư làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm, làm việc theo lớp

- Sử dụng hợp lí các phương tiện dạy học như phiếu học tập, tranh ảnh minhhọa, các dụng cụ thí nghiệm, máy vi tính và công nghệ thông tin, các băng đĩa ghi

âm và ghi hình Nên tăng cường sử dụng các dụng cụ thí nghiệm để tích cực hóahoạt động nhận thức của HS

- Lựa chọn kĩ lưỡng các vấn đề giao cho HS, các vấn đề này phải vừa sức để

HS có thể tự lực giải quyết

- Cho HS luyện tập dưới nhiều hình thức khác nhau như luyện tập trên lớp,trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa, để tăng cường việc vận dụng các kiến thức đãhọc vào các tính huống mới và vào thực tiễn cuộc sống

Qua các biện pháp để phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong quá trình dạyhọc chúng tôi nhận thấy dạy học BT theo chủ đề tự chọn có thể sử dụng các biệnpháp sau để phát huy tính tích cực, tự lực của HS:

- Tạo không khí lớp học sôi nổi, thân thiện, quan hệ giữa GV và HS gần gũi,

GV luôn lắng nghe ý kiến của HS, động viên khuyến khích và khen thưởng kịp thời

HS trong quá trình học tập

Trang 35

- Tạo điều kiện cho HS tham gia vào quá trình xây dựng phương án giải BT vàkích thích hứng thú học tập của HS Muốn vậy các BT mà GV đưa ra phải hấp dẫn,bất ngờ nhằm tạo ra mâu thuẫn trong nhận thức của HS.

- Nội dung BT phải có tính mới nhưng không quá xa lạ với HS mà phải kếthừa các kiến thức cũ, nội dung BT gần gũi với cuộc sống, có nhiều ứng dụng trongthực tiễn, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS

- Vận dụng hợp lí và linh hoạt các PPDH phù hợp với việc dạy học BTnhư HStrao đổi, thảo luận nhóm, làm các bài tập mẫu dưới sự hướng dẫn của GV,… nhằmphát huy tối đa tính tích cực của HS trong học tập

- Sử dụng các hình thức dạy học BT hợp lí, biết phối hợp các hình thức dạy họcnhư làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm, làm việc theo lớp trong việc giải các BT

- Lựa chọn kĩ lưỡng các BT giao cho HS, các bài tập này phải vừa sức để HS

có thể tự lực giải quyết

- Cho HS rèn luyện giải BT dưới nhiều hình thức khác nhau như rèn luyện giải

BT trên lớp, trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa và rèn luyện giải BT ở nhà để tăngcường việc vận dụng các kiến thức đã học vào các tính huống mới và vào thực tiễncuộc sống

1.6 Kết luận chương 1

Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng HTBTtrong dạy học theo chủ đề tự chọn vật lý, chúng tôi đã thu được những kết quả sau:

1 Dạy học tự chọn là một trong các hình thức của dạy học phân hoá Các nước

trên thế giới đã thực hiện dạy học phân hoá từ lâu, nước ta mới bắt đầu thực hiệndạy học phân hoá Hình thức dạy học phân hoá ở nước ta là phân ban kết hợp vớidạy học theo chủ đề tự chọn

2 Việc xây dựng và sử dụng HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn vật lí là

một biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn, góp phần đáng kể đổi mớiPPDH theo định hướng của Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục Theo đó HS vừa làđối tượng, vừa là chủ thể của quá trình nhận thức Đồng thời, chúng tôi đã đề xuấtđược các nguyên tắc, quy trình xây dựng HTBT cho một chủ đề tự chọn Vật lý

3 Việc sử dụng HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn góp phần tích cực

Trang 36

hóa hoạt động nhận thức của HS HTBT là yếu tố rất quan trọng để gắn kết lí thuyếtvới thực tiễn Sử dụng HTBT vật lý sẽ giúp HS củng cố, đào sâu kiến thức vật lý;phát triển năng lực tư duy; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, kĩnăng thực hành và tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học; phát huy đượckhả năng tự lực giải quyết vấn đề và khả năng tự học của HS.

4 Dạy học bài tập theo chủ đề tự chọn với việc xây dựng và sử dụng HTBT

nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình học tập, từ đó sẽgóp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Vật lý

5 Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng của việc xây dựng và sử dụng

HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn ở một số trường THPT trên địa bàn huyện

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Thực trạng cho thấy, hiện nay có rất ít GV chú ý đếnviệc xây dựng HTBT để sử dụng trong dạy học theo các chủ đề tự chọn vật lý, nếu

có xây dựng HTBT thì theo cảm tính, chưa theo một quy trình khoa học, HS chưathật sự hứng thú, chưa có tinh thần tự lực cao trong học tập Nguyên nhân của thựctrạng này thì có nhiều, có thể nêu ra một số nguyên nhân như: GV chưa được tậphuấn về dạy học theo chủ đề tự chọn; tài liệu phục vụ cho dạy học theo chủ đề tựchọn chưa phong phú và thiếu tính đồng bộ; đa số GV chưa thiết tha với việc tự xâydựng và sử dụng HTBT; tính tự lực của HS chưa cao;

Kết quả nghiên cứu cho thấy vẫn còn một số khó khăn nhất định khi xây dựng

và sử dụng HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn vật lý Tuy nhiên với quyếttâm cao của ngành Giáo dục - Đào tạo, với sự nỗ lực lớn từ GV và HS, chắc chắnviệc xây dựng và sử dụng HTBT trong dạy học theo chủ đề tự chọn vật lý sẽ thànhcông, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Vật lý

Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀO DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TỰ CHỌN Ở CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH - ĐIỆN TRƯỜNG”

2.1 Nội dung của các chủ đề trong chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 THPT 2.1.1 Nội dung các chủ đề

Chương “Điện tích - Điện trường” thuộc phần “Điện học - Điện từ học”

Trang 37

nghiên cứu sự tương tác và điều kiện cân bằng của các hạt (hay vật) mang điện ởtrạng thái đứng yên đối với hệ quy chiếu quán tính

Hệ quy chiếu gồm: vật được chọn làm mốc, hệ toạ độ và đồng hồ gắn liền vớinó; dùng để xác định vị trí của vật khác

Hệ quy chiếu = Hệ toạ độ gắn với vật mốc + đồng hồ và gốc thời gian

Hệ quy chiếu quán tính là hệ quy chiếu trong đó các định luật Niutơn đượcnghiệm đúng

Vì đây là chương mở đầu nên những kiến thức là khá mới trong chương trìnhvật lý 11, vì vậy nội dung chủ yếu của chương “Điện tích - Điện trường” là địnhluật Cu-lông, các khái niệm cơ bản như điện tích, điện trường và mối liên hệ giữađiện tích và điện trường, những đặc trưng cơ bản của trường tĩnh điện (cường độđiện trường và điện thế) và thuyết êlectron cổ điển Trong đó, định luật Cu-lông là

cơ sở của chương “Điện tích - Điện trường”

Chương “Điện tích - Điện trường” được giảng dạy trong 10 tiết, trong đó

có 7 tiết lý thuyết, 3 tiết bài tập Một số hiện tượng cơ bản đề cập trong chươngnày đã được nghiên cứu ở lớp 9 Tuy nhiên do trình độ nhận thức của HS cònthấp nên các hiện tượng đó chỉ khảo sát một cách định tính, sơ lược và có tínhchất giới thiệu, chứ chưa đi sâu vào mặt định lượng Hơn nữa việc dạy học cácvấn đề này chưa được chú ý đúng mức nên HS hiểu các vấn đề này rất nông cạn

và hình thức Chính vì vậy khi giảng dạy chương này, GV một mặt cần tận dụngnhững hiểu biết đã có của HS, mặt khác không vì thế mà xem nhẹ việc hìnhthành cho HS các khái niệm cơ bản cũng như coi nhẹ việc đào sâu bản chất vật

lý và mặt định lượng của hiện tượng đó

Đặc biệt, những kiến thức trong chương này còn làm nền tảng để HS sau này

dễ tiếp cận những kiến thức liên quan đến từ trường Bởi vì từ trường là trường tồntại xung quanh điện tích đang chuyển động, còn điện trường (điện trường tĩnh) làtrường tồn tại xung quanh điện tích đứng yên; như vậy, để nghiên cứu về điện tíchchuyển động thì trước hết ta tìm hiểu về điện tích đứng yên

Nội dung cơ bản của chương “Điện tích - Điện trường” có thể chia thành

Trang 38

• Chủ đề thứ nhất là điện tích bao gồm: Định nghĩa, phân loại điện tích;

sự nhiễm điện của các vật; vật dẫn, điện môi; định luật bảo toàn điện tích; địnhluật Cu-lông và thuyết êlectron

• Chủ đề thứ hai là điện trường bao gồm: Khái niệm, đặc trưng của điện

trường; nguyên lý chồng chất điện trường; đường sức điện trường; vật dẫn vàđiện môi trong điện trường và năng lượng điện trường

Nội dung các chủ đề của chương phù hợp với phương pháp truyền thụ thôngqua thí nghiệm và phương pháp thực nghiệm Các thí nghiệm trong chương đa số cóthể thực hiện trực tiếp trên lớp Ngoài ra một số nội dung trong chủ đề cần có nhiềuhình ảnh minh hoạ giúp HS dễ dàng nhận thức và hiểu sâu bản chất của các hiệntượng và quá trình vật lý hơn Cách tốt nhất để truyền đạt kiến thức đến HS mộtcách hiệu quả, đó là GV nên kết hợp thêm với các đoạn phim thí nghiệm, các hìnhảnh minh hoạ tĩnh hoặc động

Bên cạnh đó, đa số các em HS học theo chương trình cơ bản nên có một sốvấn đề sẽ không được tìm hiểu rõ ràng, sâu sắc như nội dung liên quan đến vật dẫn

và điện môi trong điện trường và năng lượng điện trường sẽ làm các em khónắm được bản chất của các vấn đề Do đó, với việc giải các BT sẽ giúp các emhiểu thêm về các vấn đề này

Sơ đồ nội dung các chủ đề chương “Điện tích - Điện trường” như sơ đồ 2.1:

Trang 39

Điện tích – Điện trường

Định luật bảo toàn điện tích

Định luật Cu- lông

Điện

tích

dương

Giải thích sự nhiễm điện

Phát biểu Công thức

Điện

tích âm Do cọ xát Do tiếp xúc hưởng Do

ứng

Thuyết êlectron

Vật dẫn, điện môi

Điện trường

Đặc

sức điện

Nguyên

lý chồng chất điện trường

Vật dẫn

và điện môi trong điện trường

Điện dung

Điện dung tụ điện tụ điện Ghép Ghép

Định nghĩa

Định nghĩa

Khái niệm

Năng lượng điện trường

Năng lượng

tụ điện

Năng lượng

tụ điện

Điện phổ

Cường

độ điện trường

Điện thế nghĩa Định Tính chất điện Tụ

Hiệu điện thế

Hiệu điện thế

Công của lực điện

Công của lực điện

Xác định lực tương tác tĩnh điện

Xác định tại một điểm

Xác định công của lực điện

Xác định năng lượng điện trường,

tụ điện

Xác định điện dung của tụ

Trang 40

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn khi dạy học BT theo chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường”

Những thuận lợi

- Chương “Điện tích - Điện trường” tác giả sách giáo khoa (SGK) đã đưa vào một

lượng lớn các kênh thông tin hỗ trợ hiệu quả cho việc lĩnh hội kiến thức cho HS Cáckênh thông tin hỗ trợ trong SGK được trình bày ở chương “Điện tích - Điện trường” làmột thuận lợi lớn cho việc dạy, học chương “Điện tích - Điện trường” Nếu HS có thểkhai thác được thì sẽ nhanh chóng hiểu rõ bài học cũng như bản chất của hiện tượnghơn Chương “Điện tích - Điện trường” chứa nhiều thông tin nhằm hỗ trợ cho HStìm hiểu kiến thức của bài học được trình bày qua kênh hình và kênh chữ Nếu HS

có kỹ năng làm việc với các kênh thông tin này các em sẽ nắm bắt kiến thức của bàihọc một cách tường tận và hiệu quả hơn Ví dụ: hình vẽ biểu diễn lực tương tác giữacác điện tích điểm có thể xem là cơ sở hỗ trợ để HS giải quyết các bài toán về tươngtác điện, nghiên cứu đặc điểm của vectơ cường độ điện trường, nguyên lí chồngchất điện trường, từ đó HS có thể giải quyết các bài tập lực tương tác tĩnh điện

- BT của các chủ đề trong chương “Điện tích - Điện trường” gắn với các hiệntượng rất gần gũi với đời sống hàng ngày, những ứng dụng trong khoa học kỹ thuật,

vì vậy phần nào gây được hứng thú cho HS trong học tập

- Một số khái niệm, hiện tượng cơ bản đề cập trong các chủ đề của chương

đã được nghiên cứu ở chương trình vật lí THCS Tuy nhiên do trình độ nhậnthức của HS còn thấp nên các hiện tượng đó chỉ khảo sát một cách định tính, sơlược và có tính chất giới thiệu, chứ chưa đi sâu vào mặt định lượng Ví dụ cáckhái niệm: Điện tích, hai loại điện tích, vật dẫn điện, vật cách điện, hoặc hiệntượng nhiễm điện do cọ xát

Những khó khăn

- Nội dung các chủ đề của chương phù hợp với phương pháp truyền thụ thôngqua thí nghiệm và phương pháp thực nghiệm Các thí nghiệm trong chương đa số cóthể thực hiện trực tiếp trên lớp Tuy nhiên các thí nghiệm này thường xảy ra trênmặt phẳng ngang với các dụng cụ thí nghiệm có kích thước nhỏ như các thí nghiệmđiện phổ, các thí nghiệm về sự nhiễm điện, HS khó quan sát, theo dõi hiện tượng,

Ngày đăng: 02/12/2022, 15:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Tài liệu BDTX chu kì 1993-1996 cho giáo viên THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quátrình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
2. Lương Duyên Bình (Tổng Chủ biên), Vũ Quang (Chủ biên), Nguyễn Xuân Chi, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh (2007), Vật lý 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 11
Tác giả: Lương Duyên Bình (Tổng Chủ biên), Vũ Quang (Chủ biên), Nguyễn Xuân Chi, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
3. Lương Duyên Bình (Tổng Chủ biên), Vũ Quang (Chủ biên), Nguyễn Xuân Chi, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh (2007), Sách Giáo viên vật lý 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Giáo viên vật lý 11
Tác giả: Lương Duyên Bình (Tổng Chủ biên), Vũ Quang (Chủ biên), Nguyễn Xuân Chi, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2007
4. Lương Duyên Bình, Vũ Quang (Đồng Chủ biên), Nguyễn Xuân Chi, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh (2007), Bài tập vật lý 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập vật lý 11
Tác giả: Lương Duyên Bình, Vũ Quang (Đồng Chủ biên), Nguyễn Xuân Chi, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Lương Duyên Bình (2004), Vật lí đại cương tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí đại cương
Tác giả: Lương Duyên Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
6. Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên: Thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 11 môn vật lý, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên: Thực hiện chươngtrình sách giáo khoa lớp 11 môn vật lý
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2009 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2009 -2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Hỏi đáp về phân ban Trung học phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về phân ban Trung học phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Hướng dẫn dạy học tự chọn cấp THCS và cấp THPT năm học 2006-2007, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn dạy học tự chọn cấp THCS và cấpTHPT năm học 2006-2007
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
10. Hà Văn Chính (2007), Các dạng bài tập tự luận và trắc nghiệm Vật lý 11, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dạng bài tập tự luận và trắc nghiệm Vật lý 11
Tác giả: Hà Văn Chính
Nhà XB: NXBĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
11. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hànhTW Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12. Lê Hiển Dương (2009), Rèn luyện và phát triển năng lực tư duy qua day học môn Toán, Tài liệu dùng giảng dạy học viên cao học, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện và phát triển năng lực tư duy qua day họcmôn Toán
Tác giả: Lê Hiển Dương
Năm: 2009
13. Huỳnh Trọng Dương (2005), “Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh phổ thông trong dạy học vật lí”, Tạp chí giáo dục, (128), tr. 32-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức củahọc sinh phổ thông trong dạy học vật lí”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Huỳnh Trọng Dương
Năm: 2005
14. Nguyễn Đình Đoàn (2001), Chuyên đề bồi dưỡng Vật lý 11, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề bồi dưỡng Vật lý 11
Tác giả: Nguyễn Đình Đoàn
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2001
15. Lê Văn Giáo (2007), Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông, Bài giảng cho học viên cao học chuyên ngành LL&PPDH Vật lí, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong dạyhọc Vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Lê Văn Giáo
Năm: 2007
16. Nguyễn Thanh Hải (2008), Câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tự luận Vật lý 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tự luận Vật lý 11
Tác giả: Nguyễn Thanh Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
17. Bùi Quang Hân (Chủ biên), Đào Văn Cự, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thành Tương (2003), Giải toán Vật lý 11 (Tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải toán Vật lý 11 (Tập 1)
Tác giả: Bùi Quang Hân (Chủ biên), Đào Văn Cự, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thành Tương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
18. Bùi Quang Hân, Nguyễn Duy Hiền, Nguyễn Tuyến (2007), Hướng dẫn giải bài tập và câu hỏi trắc nghiệm Vật lý 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giải bàitập và câu hỏi trắc nghiệm Vật lý 11
Tác giả: Bùi Quang Hân, Nguyễn Duy Hiền, Nguyễn Tuyến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
19. Trương Thị Song Hương (2009), Tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 với sự hỗ trợ của đa phương tiện, luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực họcvật rắn Vật lí 12 với sự hỗ trợ của đa phương tiện
Tác giả: Trương Thị Song Hương
Năm: 2009
20. Nguyễn Văn Khải (Chủ biên), Nguyễn Duy Chiến, Phạm Thị Mai (2001), Lý luận dạy học vật lí ở trường THPT, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lýluận dạy học vật lí ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Văn Khải (Chủ biên), Nguyễn Duy Chiến, Phạm Thị Mai
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.3. Sơ đồ cấu trúc hệ thống bài tập cho một chủ đề tự chọn - Luan van thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “điện tích   điện trường” vật lí 11 THPT
Sơ đồ 1.3. Sơ đồ cấu trúc hệ thống bài tập cho một chủ đề tự chọn (Trang 25)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ nội dung các chủ đề chương “Điện tích - Điện trường” - Luan van thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “điện tích   điện trường” vật lí 11 THPT
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ nội dung các chủ đề chương “Điện tích - Điện trường” (Trang 39)
Sơ đồ 2.2. Hệ thống kiến thức của chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” - Luan van thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “điện tích   điện trường” vật lí 11 THPT
Sơ đồ 2.2. Hệ thống kiến thức của chủ đề tự chọn chương “Điện tích - Điện trường” (Trang 42)
Bảng 3.2. Bảng thống kê các điểm số (X i ) của bài kiểm tra - Luan van thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “điện tích   điện trường” vật lí 11 THPT
Bảng 3.2. Bảng thống kê các điểm số (X i ) của bài kiểm tra (Trang 79)
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần suất - Luan van thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “điện tích   điện trường” vật lí 11 THPT
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần suất (Trang 80)
Đồ thị 3.1. Đồ thị phân phối tần suất - Luan van thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “điện tích   điện trường” vật lí 11 THPT
th ị 3.1. Đồ thị phân phối tần suất (Trang 80)
Đồ thị 3.2. Đồ thị phân phối tần suất lũy tích Bảng 3.5. Bảng phân loại theo học lực - Luan van thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “điện tích   điện trường” vật lí 11 THPT
th ị 3.2. Đồ thị phân phối tần suất lũy tích Bảng 3.5. Bảng phân loại theo học lực (Trang 81)
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp các tham số - Luan van thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề tự chọn chương “điện tích   điện trường” vật lí 11 THPT
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp các tham số (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w