1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) đề tài học thuyết hình thái kinh tế xã hội và sự vận dụng của đảng ở việt nam hiện nay

15 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội và sự vận dụng của Đảng ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 194,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUSau khi rơi vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế-xã hội qua cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt với đế quốc Mỹ, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình x

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN

Đề tài: Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội và sự vận dụng của Đảng ở Việt

Nam hiện nay.

Họ và tên:

Mã sinh viên:

Lớp học phần:

Hà Nội, tháng 12 năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

Phần I Lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 1

1 Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1

2 Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 2

Phần II Lý luận về cách mạng công nghiệp 4.0 2

1 Cách mạng công nghiệp 4.0 2

2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 3

Phần III Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 4

1 Thành tựu 5

2 Tồn tại, hạn chế 6

Phần IV Giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay 7 1 Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, chuyển đổi mô hình kinh tế 8

2 Tăng cường hiệu quả huy động, phát triển nguồn lực tài chính 9

3 Tăng cường hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực 9

4 Phát triển các yếu tố tiền đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa 9

5 Phát triển khoa học-công nghệ 9

6 Phát triển nông nghiệp, nông thôn 10

7 Tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn 10

8 Thúc đẩy phát triển kinh tế vùng 10

C KẾT LUẬN 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Sau khi rơi vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế-xã hội qua cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt với đế quốc Mỹ, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước là tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bởi chỉ có con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới đưa nước ta trở nên giàu mạnh, đồng thời xây dựng được một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ đó rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu Hiện nay, cách mạng công nghiệp 4.0 đưa tới nền kinh tế thông minh và đang phát triển rất mạnh mẽ, tạo cơ hội phát triển cho mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Đây sẽ là bước ngoặt, bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại Tuy nhiên, nó cũng tạo ra những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, nhiều đối tượng xã hội, trên nhiều lĩnh vực Các thành tựu khoa học-công nghệ trong cách mạng công nghiệp 4.0 làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông giá rẻ ngày càng mất lợi thế Việc làm rõ những vấn đề đặt ra và đưa ra những định hướng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư thời gian tới là cấp bách và thiết thực Và đây cũng là lí

do để em chọn đề tài”Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”

B NỘI DUNG

Phần I Lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1 Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi nền sản xuất xã hội từ dựa trên lao động thủ công là chính sang nền sản xuất xã hội dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Công nghiệp hóa có lịch sử phát triển khoảng ba trăm năm, bắt đầu từ nước Anh vào cuối thế kỉ XVIII, sau đó lan sang các nước ở Tây Âu, Bắc Mỹ và ngày nay ở các nước đang phát triển Nguồn vốn để công nghiệp hóa của các nước tư bản cổ điển chủ yếu do bóc lột lao động làm thuê, làm phá sản những người sản xuất nhỏ trong nông nghiệp, đồng thời gắn liền với việc xâm chiếm và cướp bóc thuộc địa Quá trình này

đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa tư bản và lao động, làm bùng nổ những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại nhà tư bản ở các nước tư bản lúc bấy giờ, tạo

Trang 4

tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác-vũ khí lí luận của giai cấp công nhân chống lại Chủ nghĩa tư bản

Ngày 30 tháng 7 năm 1994, Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khóa VII

đã ra Nghị quyết số 07-NQHNTW về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, trong đó chỉ rõ:”Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, khinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên

sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học-công nghệ, tạo ra năng suất lao động

xã hội cao.”

2 Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Một là, tạo lập những điều kiện để có thể thực hiện chuyển đổi từ nền sản xuất-xã hội lạc hậu sang nền sản xuất-xã hội tiến bộ Muốn thực hiện chuyển đổi trình độ phát triển, đòi hỏi phải dựa trên những tiền để trong nước, quốc tế Do đó, nội dung quan trọng hàng đầu để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phải thực hiện tạo lập các điều kiện cần thiết trên tất cả các mặt của đời sống sản xuất xã hội Tuy vậy, không có nghĩa là chờ chuẩn bị đầy đủ mới thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực tế phải thực hiện các nhiệm vụ một cách đồng thời

Hai là, thực hiện các nhiệm vụ để chuyển đổi nền sản xuất–xã hội lạc hậu sang nền sản xuất-xã hội hiện đại Cụ thể:

+ Đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới, hiện đại

+ Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiệ đại, hợp lí và hiệu quả

+ Từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Phần II Lý luận về cách mạng công nghiệp 4.0

1 Cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp 4.0 xuất phát từ khái niệm”Industrie 4.0”trong một báo cáo của Chính phủ Đức năm 2013 Nó là kỷ nguyên công nghiệp lớn lần thứ tư kể từ cuộc

Trang 5

cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở thế kỷ XVIII Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể được mô tả như là sự ra đời của một loạt các công nghệ mới, kết hợp tất

cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học, và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp,

Trung tâm đến cuộc cách mạng này đang nổi lên những đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3D và công nghệ nano

2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra cơ hội phát triển cũng như thách thức cho mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam có thể tận dụng được những thành tựu khoa học-công nghệ mới, có thể đi tắt, đón đầu”, đồng thời cũng có thể sẽ làm tụt hậu ngày càng xa hơn nếu không tận dụng được cơ hội này

2.1 Cơ hội

Toàn cầu hóa làm cho thị trường thế giới ngày nay càng rộng lớn về quy mô, hoàn thiện về cơ chế hoạt động Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có cơ hội kế thừa, tiếp thu, sử dụng những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại, nhất là những thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; có cơ hội mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân, tham gia quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế Đây rõ ràng là lợi thế của những nước đi sau

Với ưu thế dân số trẻ, tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh và Internet cao, mức độ tiếp cận ứng dụng khoa học công nghệ tốt, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra cho doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội lớn trong việc xây dựng và phát triển dữ liệu lớn, làm nền tảng triển khai các trụ cột khác của nền công nghiệp 4.0 Theo thống kê, lượng người dùng Internet tại Việt Nam trong năm 2019 là xấp xỉ 64 triệu người, chiếm khoảng 65,98 % tổng dân số; số người dùng điện thoại di động kết nối internet

là 58 triệu người và số thuê bao điện thoại lên đến 143,3 triệu số

Trang 6

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã bước đầu có được những thành tựu về các mặt ứng dụng công nghệ thông tin như các tiến bộ trong y học, kỹ thuật, công nghệ thông tin để sẵn sàng đón nhận cơ hội từ cách mạng công nghiệp 4.0 Các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng ta cũng đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại nước ta Theo đó, ngày 4/5/2017, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về tăng cường năng lực tiếp cận CMCN 4.0 Việt Nam đã

có các chính sách phát triển kinh tế tri thức, công nghệ cao, liên quan nhiều đến CMCN 4.0 Theo đó, các Đề án “Thanh toán không dùng tiền mặt của NHNN”;”Số hóa”của Bộ TT & TT Đổi mới công nghệ của Bộ KH & CN và các chỉ thị của các cấp cao hơn Qua đó có thể thấy, dù xuất phát điểm là nước đi sau nhưng với tâm thế chuẩn bị trước cùng những ưu thế nhất định thì cơ hội bứt phá trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 của nước ta là điều hoàn toàn có thể thấy rõ

2.2 Thách thức, nguy cơ

Bên cạnh cơ hội, chúng ta đang đứng trước thách thức to lớn, suyên suốt và cơ bản trong hiện tại, trước mắt và tương lai trước cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, thể hiện như sau:

Thứ nhất, thách thức từ những nhu cầu đào tạo (bao gồm nhu cầu đào tạo cho đối tượng người học mới, đối tượng chuyển đổi nghề nghiệp, đối tượng học bổ sung, nâng cấp trình độ và đào tạo lại) đáp ứng cả về số lượng, chất lượng, tính hiệu quả của lực lượng lao động với thị trường gần 54 triệu lao động phù hợp với điều kiện mới, thời thời kỳ mới của đất nước góp phần làm tăng năng suất lao động, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, ổn định xã hội và giảm tỷ lệ tệ nạn, tội phạm trong xã hội

Thứ hai, thách thức trước sự đòi hỏi tính linh hoạt, cấp bách đáp ứng kịp thời đồng thời 2 nhiệm vụ hết sức lớn lao do đặc trưng của cuộc CMCN 4.0 đặt ra, đó là phải đào tạo được những nghề mà việc làm chưa từng tồn tại trước đó và nghề mà việc làm sử dụng công nghệ chưa từng được phát minh

Thứ ba, thách thức trong việc chuyển dịch cơ cấu việc làm khi mà việc chuyển dịch trong vòng 30 năm qua kể từ khi đổi mới đất nước là khá chậm Nền kinh tế hiện nay vẫn dựa nhiều vào các ngành sử dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên

Trang 7

Phần III Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Trong nhiều thập niên qua, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xu hướng phát triển chung của nhiều nước trên thế giới Đối với Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới, việc thực hiện các chủ trương, đường lối về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần quan trọng trong quá trình phát triển, đưa đất nước thoát nghèo và lạc hậu, nâng cao mức sống của người dân Đánh giá chung về thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam có thể khái quát trên một số nét như sau:

1 Thành tựu

+ Duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá

Về cơ bản, từ năm 1991 đến nay, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá Trong đó, giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 6,32 %/năm, giai đoạn

2011-2015 đạt bình quân khoảng 5,82 % / năm, giai đoạn 2011-2015-2019 đạt bình quân 6,64

%/năm

- Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong cơ cấu ngành công nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất của công nghiệp khai khoáng giảm dần, trong khi tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống Trong đó, các ngành dịch vụ gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa như dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý, bưu chính viễn thông phát triển nhanh, chiếm tỷ trong ngày càng cao trong GDP

- Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực

Gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phục vụ tốt hơn các mục tiêu CNH, HĐH Tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp đã giảm mạnh còn 38 % năm 2019, tỷ trọng lao động ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ tăng liên tục

+Hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh

Việt Nam đã tham gia hội nhập trên tất cả các cấp độ, từng bước tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị cung ứng, đưa hoạt động của doanh nghiệp và nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh toàn cầu Xuất khẩu tăng nhanh và là động lực quan trọng cho

Trang 8

tăng trưởng kinh tế Cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng sản phẩm chế biến, nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng cho sản xuất, giảm tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng thô và tài nguyên Trong khi đó, cơ cấu hàng nhập khẩu chuyển dịch theo hướng ưu tiên phục vụ sản xuất để xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước

+ Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Cùng với thúc đẩy tăng trưởng, Việt Nam cũng đã giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo vượt mục tiêu phát triển Thiên niên

kỷ GDP bình quân đầu người tăng mạnh, từ 113 USD năm 1991 lên 1.273 USD năm

2010 và đến năm 2019 đạt khoảng 2.786 USD Người dân cũng đã có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ công cơ bản, trong đó đáng kể là dịch vụ y

tế, giáo dục Tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt qua các năm, kể cả khu vực nông thôn và thành thị Tỷ lệ hộ nghèo tính theo chuẩn nghèo năm 2019 đã giảm còn dưới 4 %

2 Tồn tại, hạn chế

+ Kinh tế phát triển chưa bền vững

Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp so với tiềm năng và thấp hơn nhiều nước trong khu vực thời kỳ đầu công nghiệp hóa Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào các ngành công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động Vai trò của khoa học-công nghệ, của tính sáng tạo trong tăng trưởng kinh tế còn thấp Yêu cầu về thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng rút ngắn đứng trước nhiều thách thức Kể từ khi bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 25 năm sau đó của Hàn Quốc là 7,79 % (giai đoạn 1961-1985), của Thái Lan là 7,11 % (giai đoạn 1961-1985), của Ma-lai-xi-a là 7,66 % (giai đoạn 1961-1985) và của Trung Quốc là 9,63 % (1979-2003) Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam kể từ khi thực hiện đổi mới đến nay chỉ khoảng 6,5 %

+ Nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực đang hiện hữu

Mặc dù đã đạt được các kết quả tích cực về phát triển kinh tế, song đến nay, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn còn thấp, chênh lệch khá lớn so các nước trong

Trang 9

khu vực GDP bình quân đầu người của Thái Lan năm 1996 là 3.026 USD thì đến năm

2014 là 5.550 USD và của Trung Quốc năm 1996 là 728 USD thì đến năm 2014 là

7572 USD, trong khi con số tương ứng của Việt Nam chỉ tăng từ mức 337 USD lên 2.072 USD GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 chỉ ngang bằng mức GDP bình quân đầu người của Trung Quốc năm 2006, In-đô-nê-xi-a năm 2007, Thái Lan năm 1993 + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu lao động đã”chững lại”trong nhiều năm nhưng chậm có sự điều chỉnh phù hợp

+ Các ngành dịch vụ tham dụng tri thức, khoa học công nghệ phát triển còn chậm Nếu như trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cơ cấu kinh

tế có tốc độ chuyển dịch khá, cơ cấu ngành nông nghiệp trong GDP giảm mạnh, từ mức 38 % năm 1986 xuống 27 % năm 1995 và 19,3 % năm 2005, thì từ năm 2006 đến nay, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP giảm không đáng kể Năm 2014, ngành nông nghiệp vẫn chiếm hơn 18 % GDP, cao hơn đáng kể so với tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP của các nước xung quanh (tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP của Trung Quốc là 10,1 %, của In-đô-nê-xi-a là 14,4 %, của Ma-lai-xi-a là 10,1 % và của Thái Lan là 12,3 %) Dù vậy, năm 2019, tỷ trọng ngành nông nghiệp cũng đã giảm xuống còn 13,69 % trong khi tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ không có quá nhiều sự thay đổi

+ Sự hợp tác, liên kết trong phát triển công nghiệp còn yếu, CNHT phát triển còn chậm, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên, phụ liệu

+ Sức cạnh tranh nền kinh tế còn thấp, năng suất lao động có khoảng cách lớn so với nhiều nước và chậm được cải thiện

Theo số liệu từ Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2018-2019 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 67 trong số 148 quốc gia trong bảng xếp hạng, tăng 10 bậc so với thứ hạng 77 trong năm 2012-2013 Việt Nam luôn nằm trong nhóm các quốc gia gần thuộc nửa cuối bảng xếp hạng, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á (Ma-lai-xi-a đứng thứ 27, Thái Lan đứng thứ 40, In đô-nê-xi-a đứng thứ 50, Phi-líp-pin đứng thứ 64) và còn một khoảng cách rất xa so khu vực Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản)

Trang 10

Mức độ tham gia của các doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi giá trị toàn cầu còn rất hạn chế Việt Nam đã thực hiện cải cách và mở cửa trong gần 30 năm, xuất khẩu liên tục được mở rộng nhưng mức độ tham gia của các doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi giá trị toàn cầu còn rất hạn chế Hàm lượng GTGT của xuất khẩu còn thấp Các mặt hàng có lợi thế so sánh cao vẫn thuộc các nhóm sử dụng nhiều nguyên liệu, tài nguyên và lao động rẻ như nhóm hàng công nghiệp nhẹ (da giây, thủ công mỹ nghệ ), nhóm nông sản, thủy sản

Phần IV Giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với các đặc điểm khác nhau Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá thúc đẩy công tác xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời gian qua cũng đang bộc lộ những hạn chế nhất định Để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện cách mạng 4.0, Việt Nam cần có những giải pháp đồng bộ, trong đó phải thực hiện quyết liệt quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế, nâng cao hiệu quả huy động phát triển nguồn lực, đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế về tài chính, thu hút nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển, chú trọng quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, góp phần phát huy lợi thế cạnh tranh, tăng cường hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực, trong đó, nâng cao vai trò định hướng của nguồn lực tài chính nhà nước trong đầu tư phát triển kinh tế-xã hội gắn với thu hút đầu tư của khu vực tư nhân, tạo

cơ chế tài chính để các địa phương thu hút các nguồn lực cho phát triển, hình thành các chính sách phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của các yếu tố tiền đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong đó, có tám giải pháp được xem là trọng tâm trong việc thúc đẩy phát triển quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1 Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, chuyển đổi mô hình kinh tế

Đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước, nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách, thực hiện phối hợp hiệu quả trong quản lý kinh tế vĩ mô, tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ thận trọng, linh hoạt đảm bảo duy trì và củng cố ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường công tác thông tin kinh tế-xã hội, công tác kế toán, thống kê

Ngày đăng: 02/12/2022, 09:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đề tài: Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội và sự vận dụng của Đảng ở Việt Nam hiện nay. - (TIỂU LUẬN) đề tài học thuyết hình thái kinh tế xã hội và sự vận dụng của đảng ở việt nam hiện nay
t ài: Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội và sự vận dụng của Đảng ở Việt Nam hiện nay (Trang 1)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w