Ở nước ta, trước thời kỳ Đổi mới, họcthuyết hình thái kinh tế - xã hội đã không được nhận thức một cách đầy đủ, cụ thể là quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, sự phù hợp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NĂM HỌC 2019 – 2020
BÀI TẬP LỚN
Đề tài: Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Sinh viên: Nguyễn Minh Nguyệt
Mã sinh viên: 11193920
Lớp học phần: Triết học Mác-Lênin (119)_19
Hà Nội, tháng 10 năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 2
PHẦN A: 3
HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI 3
I HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI LÀ GÌ? 3
II CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI 3 1 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội 3
2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 4
3 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội 5
4 Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên 7
5 Ý nghĩa học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác 7
PHẦN B 8
SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 8
I Nền kinh tế thị trường là gì? 8
II Vai trò quản lý của Nhà nước với nền kinh tế thị trường 8
III Tại sao phải xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường? 9
IV Đảng ta đã và đang xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường như thế nào? 11
1 Định hướng của Đảng trong chủ trương xây dựng kinh tế thị trường 11
2 Thành tựu và hạn chế trong kinh tế thị trường nước ta hiện nay 12
3 Phát huy thành tựu và khắc phục hạn chế trong xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường 15
V Kết luận 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
1
Trang 3Lời nói đầu
Triết học là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống xã hội của bất kỳquốc gia nào Triết học không chỉ tác động đến sự phát triển trong tư tưởng của conngười mà nó còn tham gia vào quá trình phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trênthế giới, trong đó có Việt Nam Triết học là nền tảng, cơ sở của mọi đường lối quanđiểm của Đảng và chính sách của Nhà nước, ngay cả trong thời đại hội nhập ngàynay
Một trong những vấn đề lớn của Triết học Mác – Lênin là học thuyết hìnhthái kinh tế - xã hội – là nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, được coi làmột trong những phát minh vĩ đạt nhất của C Mác, đem lại một cuộc cách mạngtrong triết học về xã hội Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội bao gồm một hệthống các quan điểm, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhaumột cách biện chứng Hiểu được mối quan hệ biện chứng này sẽ giúp cho quá trìnhphát triển của xã hội trở nên dễ dàng hơn Ở nước ta, trước thời kỳ Đổi mới, họcthuyết hình thái kinh tế - xã hội đã không được nhận thức một cách đầy đủ, cụ thể
là quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, sự phù hợp giữa quan hệsản xuất và lực lượng sản xuất, vì vậy cơ chế quan liêu,bao cấp kéo dài khiến nềnkinh tế trở nên trì trệ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đưa nước ta chính thứcbước vào thời kỳ Đổi mới Từ đây, Đảng đã không ngừng nâng cao về nhận thức
và lý luận, áp dụng linh hoạt vào việc Đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu là đưa Việt Nam trở thành mộtnước công nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển, được ứng dụng rộng rãitrong xã hội, năng suất lao động không ngừng tăng lên, đời sống nhân dân được cảithiện
Bài viết của em dưới đây sẽ làm sáng tỏ học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
và sự vận dụng của Đảng ta trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thịtrường Trong quá trình thực hiện bài viết, chắc chắn không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót do kiến thức của em còn hạn hẹp, em mong nhận được sự góp ý, chỉ bảocủa thầy để bài viết của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4PHẦN A:
HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
I HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI LÀ GÌ?
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch
sử, vạch ra những quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển của xã hội; mà chủnghĩa duy vật lịch sử là sự vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng để giải quyếtnhững vấn đề xã hội vậy nên học thuyết hình thái kinh tế xã hội là phương phápluận khoa học để nhận thức, cải tạo và phát triển xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa Mác – Lê nin bao gồm một hệthống các quan điểm cơ bản:
+ Sản xuất vật chất là cơ sở của sự phát triển xã hội
+ Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
+ Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
+ Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên
II CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH
TẾ - XÃ HỘI
1 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội
Trước hết, sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ laođộng, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào giới tự nhiên nhằm biến các dạng vậtchất của giới tự nhiên thành sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con người
Sản xuất vật chất là việc làm luôn có tính mục đích, gắn liền với việc chế tạo
và sử dụng công cụ lao động; biến đổi thế giới xung quanh theo cả hai hướng tíchcực và tiêu cực Quá trình sản xuất vật chất bao giờ cũng bao gồm 3 yếu tố: ngườilao động, tư liệu sản xuất và đối tượng lao động
Có thể nói, sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội loàingười, vì sản xuất vật chất là tiền đề trực tiếp tạo ra “tư liệu sinh hoạt của conngười” nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con người cũng như của xã hội Nógiúp hình thành nên các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người, từ đó hìnhthành các quan hệ xã hội khác như: quan hệ về chính trị, đạo đức, pháp luật, tôngiáo,…
Sản xuất vật chất có vai trò to lớn, không chỉ là cơ sở của sự tồn tại của xãhội mà còn là cơ sở cho mọi tiến bộ xã hội
Nhờ hoạt động sản xuất vật chất mà con người hình thành nên ngôn ngữ,nhận thức, tư duy, Phải khẳng định rằng, nhờ có hoạt động sản xuất vật chất mà
3
Trang 5con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hòa nhập với tự nhiên, cải tạo tự nhiên, sángtạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, đồng thời sáng tạo ra chính bản thân conngười.
2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
a, Phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất
ở những giai đoạn lịch sử nhất định Phương thức sản xuất quyết định đặc điểm củamột chế độ xã hội, vì vậy khi phương thức sản xuất thay đổi thì chế độ xã hội cũngthay đổi theo Phương thức sản xuất, xét về mặt tổ chức kết cấu, đó là sự thốngnhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất,tạo ra sức mạnh tổng hợp làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiêntheo nhu cầu của con người và xã hội Lực lượng sản xuất thể hiện mặt tự nhiêncủa sản xuất, trong đó người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹnăng và năng lực sáng tạo là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, vì trình
độ của con người sẽ quyết định trình độ của tư liệu sản xuất; trình độ của conngười càng cao thì tư liệu sản xuất càng phát triển
Đáng chú ý trong lực lượng sản xuất nói chung và tư liệu sản xuất nói riêng
đó là công cụ lao động Công cụ lao động là những phương tiện vật chất mà conngười trực tiếp sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng
để tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của con người và xã hội Công cụ laođộng đóng vai trò rất quan trọng trong tư liệu lao động do nó là bộ phận thườngxuyên biến đổi nhất, biến đổi theo những nhu cầu ngày càng gia tăng của conngười Sự biến đổi của công cụ lao động mang đến sự biến đổi mang tính cáchmạng, khoa học của xã hội (Ví dụ: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn
ra do sự ra đời của máy hơi nước.)
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất.Quan hệ sản xuất được thể hiện trên 3 khía cạnh: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất,quan hệ về tổ chức, quản lý tư liệu sản xuất và quan hệ về phân phối sản xuất
b, Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối quan hệ biện chứng vớinhau Lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất như thế ấy, lực lượngsản xuất biến đổi thì quan hệ sản xuất cũng biến đổi theo Tương ứng với một lựclượng sản xuất nhất định thì có quan hệ sản xuất nhất định phù hợp với nó về tínhchất và trình độ
Trang 6Quan hệ sản xuất cũng tác động ngược trở lại quan hệ sản xuất theo haihướng: Nếu phù hợp thì thúc đấy lực lượng sản xuất phát triển, còn nếu không phùhợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc vận dụng và phát triểnquan điểm, chính sách, đường lối của Đảng trong việc xây dựng và phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
3 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội.
a, Các khái niệm
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp các quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế củamột xã hội nhất định Cơ sở hạ tầng của một xã hội gồm: Quan hệ sản xuất của xãhội cũ tàn dư, quan hệ sản xuất của xã hội thống trị và quan hệ sản xuất mầmmống
Kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ các quan điểm, tư tưởng về chính trị, phápluật, đạo đức, … cùng các tiết chế xã hội tương ứng như đảng phải, nhà nước, giáohồi,…
b, Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng có vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng, được thểhiện ở chỗ: Cơ sở hạ tầng thế nào thì kiến trúc thượng tầng thế ấy, cơ sở hạ tầngbiến đổi thì kiến trúc thượng tầng biến đổi theo Cơ sở hạ tầng quyết định nộidung, bản chất, tổ chức, kết cấu và khuynh hướng vận đông, phát triển của kiếntrúc thượng tầng
Có thể nói, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của một xã hội nhất địnhthay đổi, xét cho cùng là do sự biến đổi của lực lượng sản xuất Nhưng đối với sựbiến đổi của kiến trúc thượng tầng thì nguyên nhân trực tiếp không phải là do biếnđổi của lực lượng sản xuất, mà do sự biến đổi của cơ sở hạ tầng
Sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng diễn ra là một quátrình Có bộ phận diễn ra nhanh chóng, tức thì, nhưng cũng có bộ phận diễn ra từ
từ, những hình thức cũ còn tồn tại lâu dài, có tính chất tàn dư
Nguyên lý cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong thực tiễn Nó chỉ ra rằng, trong đời sống hằng ngày, phải coitrọng đời sống sinh hoạt vật chất cũng như đời sống tinh thần của con người (ăn, ở,
đi lại) một cách đúng mức trong điều kiện cho phép Phải có chính sách xã hội thỏađáng để động viên, khuyến khích sức lực, trí tuệ người lao động trên các lĩnh vực.Nhưng cũng cần phê phán chủ nghĩa thực dụng quá nhấn mạnh vào lợi ích vật chất
mà không chú ý tới lợi ích tinh thần
5
Trang 7Kiến trúc thượng tầng cũng tác động ngược trở lại cơ sở hạ tầng theo 2hướng: Nếu kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng thì sẽ thúc đấy cơ sở
hạ tầng phát triển, còn nếu không phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của cơ sở
hạ tầng Mà cơ sở hạ tầng thể hiện mặt kinh tế của xã hội, kiến trúc thượng tầngthể hiện mặt chính trị của xã hội Nghĩa là, khi kiến trúc thượng tầng phản ánhđúng tính tất yếu kinh tế, các quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế pháttriển Và ngược lại, khi kiến trúc thượng tầng không phản ánh đúng tính tất yếukinh tế, các quy luật kinh tế khách quan sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế và đờisống xã hội
Vì kiến trúc thượng tầng có vị trí, vai trò quan trọng trong việc tác động trởlại cơ sở hạ tầng như vậy (đặc biệt là nhà nước và quan điểm tư tưởng, chính trị)nên các giai cấp thống trị mới lên cầm quyền bao giờ cũng phải thường xuyênchăm lo đến việc củng cố và kiện toàn bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật và hệthống tư tưởng, chính trị của mình
Trong điều kiện nhà nước ta hiện nay, để phát huy vai trò của Nhà nướctrong việc quản lý kinh tế - xã hội, phải sớm xây dựng được một thống pháp luậttương đối hoàn chỉnh sớm, yêu cầu mọi người sống và làm theo pháp luật Trướcmắt là cải cách phương thức hoạt động và tổ chức bộ máy hành chính cho phù hợpvới nền kinh tế thị trường
* Thực tiễn áp dụng mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượngtầng là cơ sở khoa học cho việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ giữakinh tế và chính trị Nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào giữa kinh tế vàchính trị là một sai lầm Tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặc phủ nhận yếu tố chínhtrị là rơi vào quan điểm duy vật tầm thường, duy vật kinh tế sẽ dẫn đến vô chínhphủ, bất chấp kỉ cương, pháp luật và không tránh khỏi thất bại, đổ vỡ Nếu tuyệtđối hóa về chính trị, hạ thấp hoặc phủ định vai trò về kinh tế sẽ dẫn đến duy tâm,chủ quan, đốt cháy giai đoạn và cũng không tránh khỏi thất bại
Để giải quyết những vấn đề nêu trên, chúng ta phải chủ động nhận thức vàgiải quyết bằng các chính sách mới cho phù hợp Trải qua hơn 10 năm đổi mới đấtnước, chúng ta đang thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đã đạt được nhiều thắng lợi tolớn Kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay cũng được đổi mới theo hướng: đổimới cả về cơ cấu tổ chức, bộ máy, con người, đổi mới phong cách quản lý lãnhđạo, mở rộng dân chủ để quy tụ quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo nênsức mạnh thúc đẩy xã hội và nền kinh tế phát triển một cách bền vững
Trang 94 Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
a, Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là một xã hội cụ thể tồn tại trong một giai đoạnphát triển nhất định của lịch sử, với kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng, phù hợp vớitrình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, với kiến trúc thượng tầng đượcdựng lên trên quan hệ sản xuất đó
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có 3 bộ phận cơ bản hợp thành đó là: quan
hệ sản xuất, lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng Mỗi bộ phận đều có một
vị trí, vai trò nhất định trong tổ chức, kết cấu của mỗi hình thái kinh tế - xã hội
Lịch sử xã hội loài người đã và đang trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội, đólà: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộngsản chủ nghĩa
Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao là một quátrình lịch sử tự nhiên Đó là do sự phát triển này tuần theo quy luật khách quan, màtrước hết và quan trọng nhất là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với lựclượng sản xuất Suy cho cùng, nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự phát triển của xã hội
là do lực lượng sản xuất, mà trước hết là do công cụ lao động biến đổi Thôngthường, sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội diễn ra tuần tự từ thấp đến cao.Tuy nhiên, một số quốc gia có thể phát triển nhảy vọt bằng việc bỏ qua một vàihình thái để lên hình thái cao hơn Để phát triển nhảy vọt, đòi hỏi quốc qua đó phải
có đủ điều kiện chủ quan, khách quan của thời đại và cả nhân tố chủ quan của mỗiquốc gia, dân tộc
5 Ý nghĩa học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở khoa học cho việc xác định conđường phát triển của Việt Nam là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa Con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa ở Việt Nam là phù hợp với tính quy luật của việc “bỏ qua” một hayvài hình thái kinh tế - xã hội trong sự phát triển lịch sử
Ngày nay, Đảng ta chủ trương tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa là đểphát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất Trên cơ sở đó xác lập quan hệ sản xuất mới
và xây dựng kiến trúc thượng tầng mới để xác lập hình thái kinh tế xã hội mới
Đây cũng là cơ sở khoa học và cách mạng trong cuộc đấu tranh tư tưởngchống lại các quan điểm phiến diện, sai lầm, phản động hòng phủ định mục tiêu, lýtưởng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 10PHẦN B
SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
I Nền kinh tế thị trường là gì?
Kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà nó
là sản phẩm của nền văn minh nhân loại Sự ra đời và phát triển của nó trải quanhiều giai đoạn: từ nền kinh tế hang hóa đến thị trường tự do cạnh tranh và ngàynay là nền kinh tế thị trường hiện đại Ở nước ta, sản xuất hàng hóa nhỏ còn là phổbiến và trong quá trình vận động theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủnghĩa Theo nghĩa rộng, kinh tế thị trường được hiểu là tổng hợp các quan hệ kinh
tế hình thành trong lĩnh vực mua – bán
II Vai trò quản lý của Nhà nước với nền kinh tế thị trường
Sự nhận thức đầy đủ các yếu tố của các quy luật khách quan, vận dụngchúng để điều khiển sự vận động của thị trường phù hợp với yêu cầu phát triểnkinh tế và các mục tiêu công bằng xã hội khác, cho phép con người có thể điều tiếtđược thị trường; kết hợp cơ chế thị trường với sự điều tiết, quản lý của nhà nướctạo ra cơ chế vận hành của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Quản lý kinh tế của nhànước trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở sự tác động của nhà nước đối với cáchoạt động kinh tế, đối với thị trường nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chếnhững mặt tiêu cực, khắc phục những khuyết điểm của nền kinh tế thị trường
Sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường được thể hiện bằngluật pháp và các chính sách kinh tế vĩ mô Các công cụ chủ yếu của nhà nước đểxây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường là:
Pháp luật: Pháp luật có vai trò cực kì quan trọng trong quản lý kinh tế Việc xây
dựng và ban hành một hệ thống luật dân sự và luật kinh tế là nhằm đảm bảo điềuchỉnh đồng bộ và thống nhất các quan hệ hang hóa – tiền tệ trong nền kinh tế
Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa sự phát triển kinh tế - xã hội là rất quan trọng và cần
thiết Trước kia, kế hoạch chủ yếu mang tính pháp lệnh; hiện nay, kế hoạch chủ yếumang tính định hướng Trong việc đổi mới kế hoạch cần lấy thị trường làm đốitrượng quan trọng hàng đầu của công tác kết hoạch Kế hoạch phải biết tác độngvào thị trường, tạo ra sự ổn định, hình thành và duy trì môi trường lành mạnh chocác hoạt động sản xuất – kinh doanh
Củng cố các tổ chức kinh tế nhà nước: Các doanh nghiệp nhà nước là một lực
lượng kinh tế, một phương tiện không thể thiếu được để nhà nước điều tiết và địnhhướng nền kinh tế Thông thường, các doanh nghiệp nhà nước chỉ hoạt động trong
9
Trang 11các lĩnh vực trọng điểm yếu của nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo, mở đường và hỗtrợ cho các thành phần kinh tế khác, nhưng không nhất thiết phải chiếm tỷ trọngcao trong thành phần kinh tế Vấn đề đặt ra là, cần phải chấn chỉnh và xây dựngkhu vực kinh tế này hoạt động có hiệu quả, vươn lên đảm nhiệm được vai trò chủđạo trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Sử dụng các công cụ đòn bẩy tài chính, tín dụng, ổn định và điều tiết lưu thông tiền tệ: Các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng có vai trò rất quan trọng trong điều
kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường Chỉ khi nhà nước kiểm soát được tài chính
và tiền tệ thì nhà nước mới có thể kiểm soát, điều tiết đươc thị trường Các công cụquan trọng nhất để nhà nước kiểm soát và điều tiết vốn và tiền tệ là thuế và lãi suấtngân hang
Ban hành các chính sách xã hội: Nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của nền kinh
tế thị trường (như cạnh tranh không lành mạnh, phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môitrường,…) nhà nước nhất thiết phải ban hành các chính sách xã hội
III Tại sao phải xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường?
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cấu thành của phươngthức sản xuất Theo quy luật khách quan, quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất Phù hợp ở đây có nghĩa quan hệ sản xuất phải
là “hình thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất, tạo địa bàn, động lực thúcđẩy lực lượng sản xuất phát triển Cần quan niệm sự phù hợp một cách biện chứng,lịch sử - cụ thể, trong quá trình, trong trạng thái động Do bản tính của mình, lựclượng sản xuất là yếu tố động, biến đổi nhanh hơn, còn quan hệ sản xuất là yếu tốtương đối ổn định, biến đổi chậm hơn Vì vậy lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất là hai mặt đối lập biện chứng trong phương thức sản xuất C.Mác đã chứngminh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất đồng thờicũng chỉ ra tính độc lập tương đối của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất.Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, quy định mục đích xã hội củasản xuất, tác động đến lợi ích của người sản xuất, từ đó hình thành một hệ thốngnhững yếu tố hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất nói riêng phải phù hợp với điều kiện thực tiễn cụ thể của từng quốcgia dân tộc, từng giai đoạn phát triển của đất nước và sự biến đổi của tình hìnhquốc tế Chẳng hạn như nước Nga sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, mộtnước tuy đã trải qua giai đoạn phát triển trung bình của chủ nghĩa tư bản, trong thời
kỳ nội chiến, chống thù trong giặc ngoài, V.I Lê-nin và những người bôn-sê-víchcũng đã tưởng rằng có thể bằng “chính sách cộng sản thời chiến” tiến nhanh lênchủ nghĩa cộng sản Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội mùa xuân năm 1921