1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) đề tài học THUYẾT HÌNH THÁI KINH tế xã hội và sự vận DỤNG của ĐẢNG TA ở VIỆT NAM HIỆN NAY

24 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học Thuyết Hình Thái Kinh Tế Xã Hội Và Sự Vận Dụng Của Đảng Ta Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế xã hội
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 275,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất...6 a Phương thức sản xuất...6 b Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất...10 3.. Đại hội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

ĐỀ TÀI:

HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN DỤNG

CỦA ĐẢNG TA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Họ và tên sinh viên : Phạm Kim Chi

Thái Nguyên, Tháng 12/2021.

Trang 2

Mc lc

PHẦN I: Lời nói đầu 3

PHẦN II: Nội dung 4

1 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội 4

2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 6

a) Phương thức sản xuất 6

b) Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 10

3 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 12

a) Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 12

b) Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 13

4 Sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên… 14

a) Phạm trù hình thái kinh tế xã hội 14

b) Tiến trình lịch sử-tự nhiên của xã hội loài người 14

c) Giá trị khoa học bền vững và ý nghĩa cách mạng 15

5 Quá trình vận dụng học thuyết HTKT_XH ở Việt Nam 16

a) Nội dung đã áp dụng 16

b) Thành tựu đạt được 18

c) Các hạn chế 19

d) Biện Pháp giải quyết 20

PHẦN III: KẾT LUẬN 22

PHẦN IV: Danh mục tài liệu tham khảo 23

Trang 3

PHẦN I: Lời nói đầu

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, vạch ra những quy luật cơ bản của sự vận động phát triển xã hội, là phương pháp luận khoa học để nhận thức, cải tạo xã hội Ngày nay, thế giới đang có những biến đổi to lớn, sâu sắc nhưng lý luận hình thái kinh tế - xã hội vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và thời đại

Đây chính là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học để chỉ đạo các chính sách, các chính Đảng và nhà nước XHCN vận dụng sáng tạo trong việc xác định cương lĩnh cũng như chủ trương, đường lối xây dựng CNXH trong đó

có Đảng Cộng Sản Việt Nam

Trong thực tiễn, Việt Nam đang tiến hành công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở bám sát tư tưởng Mác- Lênin và đặc biệt là việc vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào công cuộc xây dựngđất nước, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” Đó chính là sự cụ thể hóa học thuyết Mác – Lênin về hình thái kinh thái kinh tế - xã hội

Chính vì những lý do trên việc nghiên cứu để tài: “Học thuyết hình thái kinh tế

-xã hội và sự vận dụng của Đảng ta ở Việt Nam hiện nay " thực sự mang tính cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về thực tế và lí luận Do trình độ và vốn hiểu biết của em còn hạn hẹp nên trong quá trình làm bài không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự đánh giá và đóng góp của Thầy!

Trang 4

PHẦN II: Nội dung

1 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội

Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội là đặc trưng riêng cócủa con người mà không loài nào có được

Để tồn tại và phát triển được thì con người phải tiến hành sản xuất, không ngừngsáng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần Quá trình sản xuất diễn ra trong xã hội loài người chính là cái sức sản xuất xã hội hay là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực

Sự sản xuất xã hội chính là bao gồm ba phương diện không tách rời nhau đó là sản xuất vật chất sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Mỗi phương diện này có một vị trí, một vai trò khác nhau và trong đó thì sản xuất vậtchất giữ vai trò là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội và xét đến cùng thì nó quyết định toàn bộ sự vận động và phát triển của đời sống xã hội Vậy thì sản xuất vật chất là gì? Chúng ta có thể hiểu sản xuất vật chất là quá trình mà con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên nhằm cải biến các loại vật chất của tự nhiên thành sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con người và xãhội Một hoạt động sản xuất vật chất bao gồm ba đặc trưng cơ bản:

+ Thứ nhất là sản xuất vật chất là hoạt động mang tính mục đích của con người nhằm tạo ra những Tư liệu sinh hoạt cho mình Ví dụ như quá trình sản xuất lúa

mì tạo ra ngũ cốc, quá trình sản xuất thóc tạo ra gạo…

+ Thứ hai sản xuất vật chất luôn gắn liền với việc chế tạo và sử dụng công cụ lao động Con người sử dụng công cụ lao động một cách khoa học và hợp lý để tạo hiệu quả cao trong sản xuất vật chất

+ Thứ ba là sản xuất vật chất luôn gắn liền với việc biến đổi và cải tạo tự nhiên

và xã hội ở đây có nghĩa là việc biến đổi xảy ra theo hai chiều hướng tích cực vàtiêu cực, bao giờ quá trình sản xuất vật chất cũng làm biến đổi tự nhiên và xã hội Ví dụ như việc sản xuất ra xe máy đã giúp con người di chuyển dễ dàng hơn, tiết kiệm thời gian và sức lực nhưng đồng thời trong quá trình sử dụng xe

Trang 5

máy con người thải một lượng lớn khí CO2 vào khí quyển ảnh hưởng xấu đến môi trường.

Quá trình sản xuất vật chất bao gồm có ba yếu tố cơ bản hợp thành Thứ nhất là bao giờ trong quá trình sản xuất vật chất thì cũng có sức lao động nghĩa là có sự tham gia của con người Thứ hai là có sự tham gia của đối tượng lao động và thứ

ba là có sự tham gia của tư liệu lao động Vậy thì sản xuất vật chất có vai trò như nào đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội? Có thể khẳng định vai trò đầu tiên của sản xuất vật chất sản xuất là nhân tố quyết định sự sinh tồn và phát triển của xã hội Trong quá trình tồn tại và phát triển thì con người không thỏa mãn với những cái đã sẵn có trong giới tự nhiên mà luôn tiến hành sản xuất vật chất nhằm tạo ra các tư liệu sinh hoạt Để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao, ngàycàng phong phú, đa dạng của con người thì việc sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt

là yêu cầu khách quan của đời sống xã hội và bằng việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình như thế thì con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình và các mặt khác của đời sống xã hội Ví dụ như ở Việt Nam của chúng ta là nước nông nghiệp chúng ta muốn phát triển nông nghiệp thì phải hợp tác về mặt khoa học với các quốc gia khác Như vậy thì từ mối quan

hệ sản xuất vật chất dẫn đến mối quan hệ khoa học và để hợp tác về khoa học được thì chúng ta phải có quan hệ với chính trị và từ quan hệ về chính trị thì sẽ dẫn đến sự giao thoa quan hệ về văn hóa, quan hệ về tôn giáo Vì vậy người ta gọi sản xuất vật chất là cơ sở là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hội Thứ ba sản xuất vật chất là cơ sở cho tiến bộ xã hội của loài người chúng ta thấy chính nhờ trong hoạt động sản xuất mà con người không ngừng sáng tạo và đặc biệt là sáng tạo ra công cụ lao động, khoa học kĩ thuật để phục vụ sản xuất, nâng cao năng suất Ví dụ như trước đây con người chỉ tính toán trên bảng tính nhưng dần dần cách thức này trở nên lạc hậu, đòi hỏicần có một phương pháp khác thay thế, kể tử đó máy tính đã ra đời Vậy thì rõ ràng sản xuất vật chất đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội là hoạt động nền tảng giữ vai trò quyết định trong việc duy trì sự tồn tại và phát triển của con

Trang 6

người Chính vì vậy chúng ta cần lưu ý rằng để thúc đẩy xã hội phát triển thì không còn cách nào khác chúng ta phải ưu tiên phát triển sản xuất vật chất trước

2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

a) Phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất ở đây có thể hiểu là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định Phương thức sản xuất thì bao giờ cũng là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong đó lực lượng sản xuất thể hiện nội dung vật chất của quá trình sản xuất còn quan hệ sản xuất thể hiện hình thức xã hội của phương thức sản xuất

Và mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất là mối quan hệ song trùng của nền sản xuất vật chất xã hội, đó là quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất

 Lực lượng sản xuất

Để hiểu được lực lượng sản xuất là gì thì chúng ta sẽ tìm hiểu ví dụ về quá trình sản xuất một chiếc áo Trong quá trình này ta thấy sự xuất hiện của người công nhân may, công nhân dệt, và các công cụ như máy dệt, vải, máy may Như vậy

có sự tham gia của rất nhiều các yếu tố, đó được gọi là lực lượng sản xuất Định nghĩa một cách ngắn gọn lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất để tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của tự nhiên thỏa mãn nhu cầu của con người

+ Người lao động ở đây là những người có trình độ trí thức, có kỹ năng lao động

có kinh nghiệm lao động và năng lực sáng tạo Trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội người lao động là chủ thể sáng tạo nhưng đồng thời cũng là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất trong xã hội Với sự phát triển của xã hội ngày nay thì tỷ lệ lao động cơ bắp trong xã hội đang có xu hướng giảm đi và tỷ lệ lao động trí tuệ trong xã hội đang có xu hướng tăng lên

+Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong đó đối tượng lao động là những thứ

Trang 7

mà con người dùng tư liệu lao động tác động lên nhầm biến đổi chúng phù hợp với mục đích của mình Đối tượng lao động được chia làm 2 loại là đối tượng lao động tự nhiên và đối tượng lao động nhân tạo Đối tượng lao động tự nhiên

là những cái có sẵn trong tự nhiên, con người không phải sáng tạo ra Ví dụ để sản xuất ra muối thì phải sử dụng nước biển, nước biển là có sẵn đó gọi là đối tượng lao động tự nhiên Đối tượng lao động nhân tạo là đối tượng lao động mà con người phải tạo ra ví dụ như người công nhân muốn sản xuất ra khẩu trang thì phải tác động lên vải mà vải lại không có sẵn con người phải tự làm ra thì đấy gọi là tượng lao động nhân tạo hay còn gọi là đối tượng lao động đã qua chếbiến Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình Tư liệu lao động thì được phân ra làm công cụ lao động và phương tiện lao động Trong đó thì phương tiện lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất cùng với công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất vật chất, ví dụ như hệ thống bình chứa, hệ thống kết cấu hạ tầng sản xuất Đối tượngthứ hai của tư liệu lao động là công cụ lao động ở đây là những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng tạo ra của cải vật chất phục vụ cho mình Có thể xem công cụ laođộng là yếu tố vật chất trung gian truyền dẫn giữa người lao động và đối tượng lao động trong tiến trình sản xuất Ví dụ như trong sản xuất khẩu trang thì công

cụ lao động ở đây là máy may, máy dệt Trong xã hội ngày hôm nay dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học Kĩ thuật thì công cụ lao động cũng có xu hướng ngày càng phát triển được tin học hóa, tự động hóa và có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất Công cụ lao động cũng là yếu tố cách mạng nhất trong sản xuất và là nguyên nhân xấu xa của mọi biến đổi kinh tế xã hội Trong lịch sử đó chính là thước đo trình độ cải biến tự nhiên của con người và làtiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế và chính vì vậy C.Mác đã từng nói:

“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ là chúng sản xuất ra cái gì

mà là chúng sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động như thế nào”

Trang 8

Trong các bộ phận của lực lượng sản xuất thì có thể nói người lao động là nhân

tố hàng đầu giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất vì người lao động chính là chủ thể sáng tạo trong qtrinh sản xuất vật chất và chính người lao động tạo ra tư liệu sản xuất chứ không phải tư liệu sản xuất tạo ra người lao động Lý

do thứ hai đó chính là trình độ của tư liệu sản xuất được quyết định bởi trình độ của người lao động Người lao động ở trình độ thấp tạo ra tư liệu sản xuất thấp, lao động trình độ cao thì tạo ra từ liệu sản xuất cao Thứ ba là hiệu quả sản xuất

do người lao động quyết định Ví dụ bạn có thể sở hữu rất nhiều công cụ và thiết

bị hiện đại nhưng nếu không biết sử dụng chúng thì cũng không thể tạo ra sản phẩm được

Cùng với sự phát triển của xã hội thì lực lượng sản xuất cũng không ngừng phát triển và sự phát triển của lực lượng sản xuất thì được thể hiện trên hai góc độ Thứ nhất nó thể hiện tính chất của lực lượng sản xuất, đó có thể là tính chất cá nhân hoặc tính chất xã hội trong việc sử dụng tư liệu sản xuất Trong xã hội hiệnđại ngày nay thì lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa ngày càng cao Sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng được thể hiện trên khia cạnh trình độ của lực lượng sản xuất: trình độ của người lao động, công cụ lao động, ứng dụng lao động vào sản xuất

Ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nguyên nhân của mọi biến đổi Khoa học rất ngắn khoảng cách từ phát minh sáng chế đến ứng dụng sản xuất và làm cho năng suất lao động không ngừng tăng và do đó của cải

xã hội làm ra nhiều hơn, kịp thời giải quyết những mâu thuẫn mà sản xuât đặt ra

Nó thâm nhập vào các yêu tố và trở thành yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất Khoa học còn kích thích sự phát triển năng lực làm chủ sản xuất của con người, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển và cả người lao động và công cụ lao động đều được trí tuệ hóa Hình thành nền kinh tế tri thức lànền kinh tế mà trong đó việc sử dụng tri thức của con người vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế từ đó tạo ra của cải vật chất để nâng cao đời sống cho con người

Trang 9

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quy định địa vị kinh tế xã hội của con người trong quá trình sản xuất và từ đó quy định quan hệ quản lý và phân phối Chính

vì thế quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất được coi là xuất phát cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, quyết định các quan hệ khác Nắm được các phương tiện chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất

và phân phối sản phẩm Ví dụ trong các bộ phim hàn quốc luôn có sự cạnh tranhlẫn nhau quyền thừa kế tập đoàn, vì nếu giành được quyền sở hữu thì có quyền còn lại như quản lý, phân phối

Quan hệ về tổ chức quản lí sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động Có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội Ngày nay, khoa học tổ chức quản lí, sản xuất hiện đại có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất

Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô củacải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng Có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người, là chất xúc tác kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất, năng động hoá đời sống kinh tế xã hội Hoặc ngược lại, nó

có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất

Trang 10

b) Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mốiquan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau Trong đó thì lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối tác động trở lại lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất thể hiện ở ba khía cạnh: lực lượng sản xuất như nào thì quan hệ sản xuất như thế Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sự rất giống mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất cũng như vật chất quyết định ý thức Khi lực lượng sản xuất thay đổi thì sớm muộn quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo và nội dung của quan hệ sản xuất là do lực lượng sản xuất quy định Ví dụ khi lực lượng sản xuất dựa vào công cụ thô sơ thì các quan hệ sản xuất đi kèm cũng chủ yếu chỉ là quản lý nhỏ, phân tán, hình thức phân phối chủ yếu theo hiện vật Còn khi lực lượng sản xuất dựa vào công

cụ lao động hiện đại thì các quan hệ sản xuất cũng lớn hơn đa dạng hơn như sở hữu lớn, quản lý theo phong cách hiện đại, hình thức phân phối đa dạng

Quan hệ sản xuất tác động ngược trở lại lực lượng sản xuất theo hai chiều hướng Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì tạo đà cho lực lượng sản xuất phát triển còn ngược lại nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ cản trợ lực lượng sản xuất phát triển Tương tự như sự tác động trở lại của Ý thức đối với vật chất

Để xét sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ta xét các khía cạnh sau:

+ Thứ nhất sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất+ Thứ hai là sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất + Thứ ba là sự kết hợp đúng đắn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất

Trang 11

+ Thứ tư tạo được kiện tối ưu sử dụng và kết hợp giữa lao động và tư liệu sản xuất

+ Thứ năm nó tạo điều kiện hợp lý cho người lao động sáng tạo trong sản xuất

và hưởng thụ thành quả vật chất tinh thần của lao động

Ví dụ khi trình độ lực lượng sản xuất phát triển cao mà quan hệ sản xuất lại lạc hậu thì đòi hỏi phải được thay thế Và khi quan hệ sản xuất biến đổi thì sự phù hợp sẽ ở trình độ cao hơn và cứ như thế thì xã hội phát triển lên và quy luật phủ định của phủ định được thể hiện Con người giữ vai trò chủ thể nhận thức và giảiquyết mâu thuẫn để thiết lập sự phù hợp mới Quy luật quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật quyết định sự vận động phát triểnnội tại của bản thân phương thức sản xuất và là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại

 Ý nghĩa của hình thái kinh tế xã hội đối với Việt Nam trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội

Mục đích hình thái kinh tế xã hội chỉ ra rằng muốn phát triển kinh tế Thì phải phát triển lực lượng sản xuất trước Muốn xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ xây dựng quan hệ sản xuất mới, phải xuất phát từ trình độ của lực lượng sản xuất chứ không thể xuất phát từ ý thức chủ quan của con người

Trước năm 1986 chúng ta nghĩ rằng tất cả đưa về sở hữu nhà nước, về sở hữu công cộng là có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội nên chúng ta phổ biến các hình thức công hữu trong xã hội và xây dựng một nền kinh tế theo hướng mà chúng

ta đã xác định Tuy nhiên ở đây quy luật này chỉ ra rằng muốn xây dựng quan hệsản xuất mới phải xuất phát từ trình độ của lực lượng sản xuất mà ở Việt Nam lực lượng sản xuất có đặc điểm là trình độ sản xuất thấp và không đồng đều Vậy thì lực lượng sản xuất ở trình độ thấp mà có tính đa dạng như vậy thì quan

hệ sản xuất cũng phải đa dạng để phù hợp với nó Nhận thức ra điều này Đảng

đã xác định chúng ta phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần để phù hợp Muốn phát triển lực lượng sản xuất thì phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và ở Việt Nam của chúng ta thì công cuộc tiến hành công nghiệp hóa hiện

Trang 12

đại hóa được coi là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển lực lượng sản xuất và từ phát triển lực lượng sản xuất thì phát triển các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

3 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

a) Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội Cơ sở hạ tầng thì được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội và đó là toàn bộ các quan hệ sản xuất tồn tại trên thực tế mà trong quá trình vận động của nó hợp thành cơ cấu kinh tế hiện thực Các quan hệ sản xuất ở đây là các quan hệ cơ bản đầu tiên và chủ yếu quyết định mọi quan hệ xã hội khác, ví dụ trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì ta có bốn thành phần nền kinh tế: Kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước và kinh tế 100% vốn nước ngoài Bốn quan hệ sản xuất này hợp thành cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam

Cơ sở hạ tầng có cấu trúc gồm: quan hệ sản xuất tàn dư tức là quan hệ sản xuất của xã hội cũ để lại, quan hệ sản xuất thống trị là quan hệ sản xuất của xã hội đương thời và quan hệ sản xuất mầm mống là quan hệ sản xuất của xã hội tươnglai Trong cấu trúc của cơ sở hạ tầng này thì quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trò chủ đạo quyết định xu hướng chung của cơ sở hạ tầng

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ các hệ tư tưởng, quan điểm xã hội như là chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo cùng các thiết chế xã hội tương ứng như đảng phái, nhà nước, và giáo hội Được xác lập trên một cơ sở hạ tầng nhất định

Kiến trúc tầng được phân ra: thứ nhất là những quan điểm tư tưởng và thứ hai là các thiết chế xã hội Mọi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm và quy luật phát triển riêng, các yêu tố của kiến trúc thượng tầng tồn tại trong mối quan

hệ tác động qua lại lẫn nhau Các yếu tố về tư tưởng và thiết chế xã hội có quan

hệ với nhau, cùng với những quan hệ nội tại trong các yếu tố đó hợp thành kiến trúc thượng tầng của xã hội Trong đó thì nhà nước là quan trọng nhất vì nhà

Ngày đăng: 02/12/2022, 09:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - (TIỂU LUẬN) đề tài học THUYẾT HÌNH THÁI KINH tế   xã hội và sự vận DỤNG của ĐẢNG TA ở VIỆT NAM HIỆN NAY
HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w