1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) đề bài trình bày lý luận của CN mác lênin về khủng hoảng kinh tế và liên hệ với thực tiễn ở việt nam

16 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về Khủng hoảng Kinh tế và Liên hệ Thực tiễn ở Việt Nam
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Thanh Hiếu
Trường học Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 313,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó chỉ là một trong nhiều ví dụ về sự khủng hoảng kinh tế - một mặt trái không thể tránh khỏi của sự phát triển của phương thức sản xuất chủ nghĩa tư bản đối với nền kinh tế của Việt Nam

Trang 1

TRƯNG ĐI HC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP LỚN

Kinh tế chính trị Mác- Lênin

ĐỀ BÀI: Trình bày lý luận của CN Mác Lênin về khủng hoảng kinh tế và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam.

Họ và tên: Hoàng Thái Dương

Mã sinh viên: 11211553

Lớp học phần: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế CLC 63C

GV hướng dẫn: Nguyễn Thị Thanh Hiếu

Hà Nội– T4/2022

Trang 2

MỤC LỤC

LI NÓI ĐẦU

I Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về khủng hoảng kinh tế 3-8

1 Khái niệm khủng hoảng kinh tế 3

2 Biểu hiện khủng hoảng kinh tế 4

3 Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế 5

4 Hậu quả khủng hoảng kinh tế 7

II Tính chu kỳ và giải pháp cho khủng hoảng kinh tế 8-10 1 Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế 8

2 Giải pháp cho khủng hoảng kinh tế 9 III Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam 10-15 LI KẾT

Tài liệu tham khảo

Trang 3

LI NÓI ĐẦU

Khi những ngày đầu tiên của năm 2020 bắt đầu, cũng là lúc đại dịch Covid-19 đã trở nên càng ngày càng nguy hiểm và khó kiểm soát hơn Các nước trên thế giới thi triển lệnh cách ly, hàng loạt các doanh nghiệp lớn, nhỏ phải dừng hoạt động, người dân trở nên thất nghiệp và nên kinh tế càng ngày trở nên suy giảm Chẳng mấy chốc cả thế giới đã phải đối mặt với sự khủng hoảng kinh tế, thống kê cho thấy rằng nề kinh tế thế giới đã phải trải qua đợt suy giảm tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 2008

Đó chỉ là một trong nhiều ví dụ về sự khủng hoảng kinh tế - một mặt trái không thể tránh khỏi của sự phát triển của phương thức sản xuất chủ nghĩa tư bản đối với nền kinh tế của Việt Nam nói riêng và toàn cầu nói chung Song song với những ưu điểm mang tính đột phá, như tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, trao đổi và lưu thông hàng hóa, hội nhập kinh tế Các cuộc khủng hoảng kinh tế ngày càng trở thành một mối nguy hiểm và dễ xảy ra bất ngờ

Với mong muốn được tìm hiểu sâu thêm về vấn đề khủng hoảng kinh tế, cũng như tình hình đầy biến động của kinh tế Việt Nam cũng như toàn cầu, em đã chọn đề tài

“Trình lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về khủng hoảng kinh tế và mối liên hệ của nó với thực tế ở Việt Nam” để có thể hiểu rõ hơn và bổ sung thêm kiến thức cho bản thân mình

I Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về khủng hoảng kinh tế.

1 Khái niệm:

Khủng hoảng kinh tế là khái niệm chỉ các hiện tượng kinh tế trở nên không ổn định trong thời gian dài mà không thể điều chỉnh được của quá trình tái sản xuất gây ra những chấn động và hậu quả kinh tế xã hội trên diện rộng hoặc hẹp Khủng hoảng kinh tế sẽ diễn ra trên mọi lĩnh vực của nền sản xuất xã hội trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất và có tính chu kỳ, xảy ra cứ 8 – 12 năm một lần

Hình thức đầu tiên và phổ biến nhất của khủng hoảng kinh tế trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự khủng hoảng “sản xuất thừa” Khi khủng hoảng này xảy ra, hàng hoá không bán được, sản xuất sa sút, nhiều xí nghiệp vỡ nợ, phá sản, làm cho nhiều công nhân, lao động mất việc làm, làm cho thị trường hỗn loạn Hàng hoá thặng dư không tương ứng với nhu cầu của xã hội, mà là “thặng dư” so với sức mua bán bị giới hạn của nhân dân quần chúng lao động Điều đó có nghĩa

Trang 4

là trong khi khủng hoảng dư thừa đang nổ ra, hàng hóa bị phá hủy lần lượt thì hàng triệu người lao động lại phải chịu đói khổ vì họ không có khả năng chi trả

Quan điểm của Mác và Lenin về khủng hoảng kinh tế như sau: khủng hoảng là đặc trưng của riêng chế độ tư bản chủ nghĩa vì mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất (xã hội hóa do bản thân chủ nghĩa tư bản) và tính chất chiếm hữu của tư nhân

và cá nhân đối với tư liệu sản xuất Đó là sự rối loạn trong sản xuất, lưu thông hoặc phân phối

Ví dụ như Mỹ sau khoảng thời gian thế chiến thứ II kết thúc, đã phải trải qua cuộc khủng hoảng thứ 9 với những hậu quả lớn như sản xuất công nghiệp giảm 5,3%, GDP giảm 2,2%, thất nghiệp tăng 7,8% và lạm phát tăng 4,6%

2 Biểu hiện:

Khủng hoảng kinh tế có nhiều biểu hiện để có thể nhận biết như:

- Thứ nhất: Mua bán trở nên khó khăn

Đây là khi các doanh nghiệp không bán được hàng hoặc phải bán với giá thấp, không đủ tiền trả các khoản nợ đến hạn không mua được nguyên vật liệu nếu giá của chúng tăng lên, không vay được vốn thì phải cắt giảm quy mô sản xuất, sa thải công, nhân viên, không sử dụng được năng lực sản xuất của máy móc thiết bị

- Thứ hai : Sản xuất bị mất cân đối

Sau nhiều năm nghiên cứu, Mác đã tìm ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tái sản xuất tư bản và phần GDP dành cho tiêu dùng cá nhân Nếu một quốc gia không thể

tự đảm bảo sự cân đối đó, thì quốc gia đó sẽ gặp nguy hiểm Ngoại thương có thể tạm thời góp phần giải quyết những mất cân đối này, nhưng cùng lúc ngoại thương chỉ có thể đẩy xung đột ra diện rộng hơn, không giải quyết được xung đột và thậm trí làm cho khủng hoảng mang tính chất toàn thế giới

- Thứ ba: Rối loạn trong hệ thống tín dụng

Trong hệ thống tín dụng, các công ty vay mượn lẫn nhau, do đó khả năng thanh toán của một bên được xác định bởi khả năng thanh toán của bên kia Các khoản tín dụng sẽ được duy trì miễn là tiếp tục được tái sản xuất Nhưng khi thị trường đình trệ, giá cả giảm, hàng hóa tồn đọng, và nhu cầu mua bán biến mất, nó sẽ dẫn đến tình trạng thiếu tín dụng Khủng hoảng phát sinh vì phá sản xảy ra ở nhiều thời điểm chứ không chỉ một thời điểm cố định khi mà các doang nghiệp không còn khả năng thanh toán

Trang 5

- Thứ tư: Sự mất cân đối giữa sản xuất và nhu cầu về khả năng thanh toán ( thừa cung và hụt cầu hoặc ngược lại)

Với việc hệ thống tín dụng và ngoại thương ngày càng mở rộng, đầu cơ tích trữ ngày càng nhiều đã tạo ra những nhu cầu giả, vượt quá khả năng chi trả thực tế dẫn đến hiện tượng sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất quá mức, đồng thời làm trầm trọng thêm tình trạng sản xuất thừa Mức tiêu dùng của dân cư nói chung không bằng mức tăng của năng suất lao động dẫn đến sự mất cân bằng

- Thứ năm: Ngày càng có nhiều chứng khoán được phát hành không đại diện cho

tư bản thực tế và không được đảm bảo

C.Mác đã chỉ ra các tài liệu có liên quan đến những khoản tín dụng giả được tạo ra bằng phương pháp kỹ thuật Ví dụ, một ngân hàng địa phương đã cho người môi giới chứng khoán đem đi chiết khấu ở thị trường London sau khi chiết khấu kỳ phiếu Điều này hoàn toàn dựa trên mức độ tín nhiệm của ngân hàng mà không xem xét các phẩm chất khác của kỳ phiếu, cộng thêm những trường hợp đầu cơ chứng khoán, cổ phiếu

- Thứ sáu: Xu hướng xây dựng nhà ở theo thị trường và mang tính đầu cơ

Các nhà thầu vay tiền ngân hàng thông qua thế chấp bất động sản Ngân hàng chỉ trả dần khi tiến độ xây dựng hoàn thành theo dự kiến Nếu có sự cố xảy ra và chủ thầu không trả nợ đúng hạn, khoản vay của họ sẽ bị đình chỉ, và nếu phải bán nhà với giá thấp để trả thì có thể thua lỗ, thậm chí phá sản

3 Nguyên nhân:

Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt nguồn từ mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản Đó là mâu thuẫn giữa tính chất của sức sản xuất với mức

độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân của nhà tư bản

về tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội Những mâu thuẫn này được thể hiện như sau:

 Mâu thuẫn giữa tính có tổ chức, có kế hoạch trong từng xí nghiệp với tình trạng sản xuất hỗn loạn và vô chính phủ trong xã hội

Trong mọi xí nghiệp, lao động của công, nhân viên được tổ chức và phụ thuộc vào

ý chí của nhà tư bản Và trong xã hội, trên cơ sở sở hữu tư nhân tư nhân về tư liệu sản xuất, tình trạng vô chính phủ là phổ biến Nhà tư bản sản xuất mà không hiểu nhu cầu của xã hội thì quan hệ cung cầu bị xáo trộn, quan hệ tỷ lệ giữa các ngành sản xuất bị tổn hại nghiêm trọng đến một mức độ nhất định, rồi khủng hoảng kinh

tế sẽ bùng nổ

Trang 6

Ví dụ điển hình cho sự mâu thuẫn này là cuộc khủng hoảng ngành quần áo

ShareCloth - một công ty phần mềm bán lẻ đã khẳng định trong báo cáo của họ, trong đó thống kê cho thấy gần 30% sản lượng hàng may mặc thời trang sẽ không bán được Còn đối với sản phẩm “thời trang nhanh”, chỉ một năm sau, hơn 50% sản phẩm bán ra đã bị loại bỏ, tương đương với 12,8 triệu tấn quần áo đổ ra bãi rác Việc tiếp tục sản xuất quá mức này đang có tác động tiêu cực đến môi trường, thải ra khoảng 1,2 tỷ tấn khí nhà kính vào bầu khí quyển mỗi năm, đồng thời ảnh hưởng đến lợi nhuận của các thương hiệu thời trang Trong khoảng thời gian sắp tới, ước tính ngành công nghiệp này sẽ mất 52 tỷ đô la doanh thu vào năm 2030 Tất cả là vì các nhà thiết kế, sản xuất quần áo không nhìn thấu được nhu cầu của người tiêu dùng và sản xuất dư thừa hoặc giá thành quần áo được sản xuất không ngang bằng với khả năng chi trả của người dân lao động

 Mâu thuẫn giữa khuynh hướng mở rộng sản xuất vô thời hạn của chủ nghĩa tư bản với sức mua hạn chế của người lao động.

Để thu được lợi nhuận siêu ngạch, các nhà tư bản phải ra sức mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, cạnh tranh gay gắt, đuổi theo lợi nhuận mà quên mất nhu cầu của người lao động và sức mua của họ Cung cầu của xã hội mất cân đối lớn dẫn đến khủng hoảng dư thừa trên thị trường Bên cạnh đó là quá trình bần cùng hoá nhân dân lao động làm cho sức mua của quần chúng nhân dân bị giảm sút tương đối, sức tiêu dùng của công nhân không tăng tương ứng với tốc độ tăng của năng suất lao động, sức mua chậm lại so với sự phát triển của sản xuất

Khi mà sự chênh lệch cung cầu là quá lớn thì ắt hẳn sẽ dẫn đến sự khủng hoảng dư thừa hàng hóa trên thị trường Đó là kết cục khi xảy ra khủng hoảng: Hàng hóa thì rất nhiều nhưng người mua lại không thể mua hay không có nhu cầu mua Điều này khiến các công ty buộc phải hạ giá hàng hóa của họ, bị lỗ vốn, và đôi khi mất tất cả Và khi việc này xảy ra, sản xuất sẽ bị thu hẹp, các nhà máy sẽ đóng cửa, và công nhân sẽ mất việc làm

 Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp lao động.

Chủ nghĩa tư bản có đặc điểm là tách rời hai yếu tố sản xuất: tư liệu sản xuất và người trực tiếp sản xuất ra nó Sự tách biệt này được thể hiện rõ ràng nhất trong các cuộc khủng hoảng kinh tế Khi tư liệu sản xuất bị dồn lại, hoen rỉ, mục nát thì người lao động không có việc làm Một khi không kết hợp được tư liệu sản xuất và sức lao động thì bộ máy sản xuất tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ sụp đổ

Sự phân công lao động xã hội đã phát triển rộng rãi đến mức sản xuất không còn là hành động riêng lẻ của các cá nhân nữa mà là một dây chuyền xã hội thống nhất

Trang 7

Và sự đối đầu này giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân là một mâu thuẫn không thể tách rời của xã hội tư bản, vì xã hội tư bản đã có mâu thuẫn cơ bản này ngay từ khi ra đời

4 Hậu quả:

Mỗi khi khủng hoảng kinh tế ập tới và qua đi thì nó đều để lại những hậu quả to lớn đối với nền sản xuất, kinh tế và đặc biệt là thế giới

 Hậu quả 1 : Sự tàn phá của lực lượng sản xuất và xáo trộn trong lĩnh vực

lưu thông

Khi khủng hoảng xảy tới nó sẽ không chỉ làm ảnh hưởng tới một bộ phận kinh tế,

mà có thể gây thiệt hại tới các mặt khác Cuộc khủng hoảng 1929-1933 là ví dụ rõ ràng nhất: 13 nghìn xí nghiệp phá sản, sản xuất thép giảm 76% sản xuất gang thép xuống 19,4%, sản xuất ô tô giảm 80%, nhà tư bản bắt buộc phải phá hủy một số lượng lớn tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng Tại Hoa Kỳ năm 1931, các lò cao có khả năng sản xuất 1 triệu tấn thép mỗi năm đã bị phá hủy, 124 tàu bị đánh chìm, một phần tư cánh đồng bông bị phá hủy, 6,4 triệu con lợn bị giết và tiêu hủy

 Hậu quả 2 : Quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng nhanh, là

điều kiện dẫn đến độc quyền (Tập trung vào những nhà tư bản lớn)

Sự khủng hoảng và phá sản của các nhà tư bản nhỏ là sự trỗi dậy của các công ty lớn Cuộc khủng hoảng và sự phá sản của các nhà tư bản nhỏ đã góp phần vào sự lớn mạnh của các tập đoàn lớn Do có sức mạnh về tài chính và vật chất nên các nhà tư bản đã thu được nhiều lợi nhuận và lợi ích trong thời kỳ này Mức độ tập trung vốn vào vốn ngày càng tăng do các công ty liên doanh, liên kết và các công

ty bị phá sản và sáp nhập Nếu như ở Hoa Kỳ chỉ có 49 công ty với hơn 10.000 người vào 29-33 trước khủng hoảng thì con số này đã tăng lên 343 sau khủng hoảng Hơn thế nữa, chỉ có một công ty vào đầu thế kỷ 20 đạt 1 tỷ đô la Mỹ, hai công ty vào đầu năm 1950 Nhưng đến năm 1974, có 24 trong số 49 công ty với số vốn 59 tỷ đồng

 Hậu quả 3 : Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và mâu

thuẫn giữa tư bản và người lao động ngày càng tăng

Khi tư liệu sản xuất hoàn toàn nằm trong tay các nhà tư bản thì sự bóc lột người lao động và sự nghèo đói của người họ sẽ diễn ra một cách rõ rệt và gay gắt hơn Theo thống kê chưa đầy đủ, 20% người giàu chiếm 75% GDP thế giới, trong khi 20% người nghèo chỉ chiếm 1,5% GDP thế giới Hàng nghìn người phải chịu đói nhưng các nhà tư bản sẵn sàng chi trả cho những trò giải trí xa xỉ không mục đích

Trang 8

hoặc những món đồ đắt tiền thừa thãi Trên thực tế, ở các nước tư bản lớn, trung bình mỗi ngày, các nhà tư bản có thể kiếm được khoảng 1 triệu đô la Mỹ, trong khi những người lao động nghèo chỉ có thể kiếm được khoảng 2 đô la Mỹ Sự bất bình đẳng lớn dường như không thể vượt qua và khiến cuộc khủng hoảng diễn ra nhanh hơn “Người giàu càng giàu thêm và người nghèo càng nghèo đi”

II Tính chu kỳ và giải pháp cho khủng hoảng kinh tế:

1 Tính chu kỳ:

Sự xuất hiện của khủng hoảng kinh tế làm cho quá trình sản xuất của các nhà tư bản có tính chu kỳ Trong thời đại của chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, một cuộc khủng hoảng sẽ bắt đầu xảy ra sau khoảng thời gian 8-12 năm Chu kỳ kinh tế của

tư bản là khoảng thời gian mà nền kinh tế tư bản đi từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng này đến khi bắt đầu cuộc khủng hoảng tiếp theo

Chu kỳ kinh tế có tổng cộng 4 giai đoạn: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh

 Khủng hoảng : Là giai đoạn đầu của một chu kỳ kinh doanh mới Trong

thời kỳ này, hàng hóa trở nên dư thừa, ứ đọng, hàng tồn đọng làm giá cả lao dốc, sản xuất bị đình trệ, nhà máy đóng cửa, công nhân mất việc, lương giảm Nhà tư bản mất đi khả năng thanh toán, rồi phá sản, năng suất bị thiệt hại nặng nề Đây là giai đoạn mà xung đột nổi lên thành những xung đột gay gắt

 Tiêu điều : Giai đoạn có đặc điểm là sản xuất bị đình trệ, không giảm mà

cũng không tăng, thương nghiệp vẫn hầu như đứng im, hàng hóa được bán với giá thấp, nhà tư bản mất để dư nhiều vì không có nơi nào để đầu tư Trong thời kỳ này, để thoát khỏi tình trạng bế tắc, các nhà tư bản đã giảm chi phí bằng cách giảm tiền lương, tăng cường độ lao động và thời gian lao động, đổi mới tư bản cố định, với mục đích làm cho sản xuất vẫn có lãi dù giá cả giảm Sự đổi mới của tư bản cố định làm tăng cầu về tư liệu sản xuất

và tiêu dùng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phục hồi hoàn toàn

 Phục hồi : Thời điểm khôi phục lại các nhà máy, xí nghiệp và mở rộng sản

xuất Người lao động được đưa trở lại làm việc, trình độ sản xuất trở lại mức cũ, giá cả hàng hóa tăng lên và lợi nhuận trên vốn cũng tăng lên

Trang 9

 Hưng thịnh : Là giai đoạn mà tốc độ tăng trưởng sản xuất vượt quá mức

đỉnh đạt được trong chu kỳ trước đó Nhu cầu và công suất đối với hàng tiêu dùng tăng lên, khiến các nhà máy được mở rộng và xây dựng nhiều hơn Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàng cho vay với mức tối đa, sức sản xuất vượt quá sức mua của xã hội Như vậy, tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mới

Để ví dụ rõ nhất cho tính chu kỳ này thì cụ thể trong khoảng thời gian hơn 1 thế kỷ ( chính xác là 133 năm) kể từ 1825 tới 1958, Vương quốc Anh đã phải đối mặt với

7 cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài từ 1825 đến 1836, 1890 đến 1900, 1907 đến

1920, 1920 đến 1929, 1929 đến 1937, 1938 đến 1949, và 1924 đến 1958

Khủng hoảng kinh tế không chỉ xảy ra trong công nghiệp, mà cả nông nghiệp Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng nông nghiệp có xu hướng kéo dài hơn các cuộc khủng hoảng công nghiệp Đó là do sự độc quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất đã cản trở sự đổi mới tư bản đầu tư để thoát khỏi khủng hoảng Mặt khác, vẫn còn một số lượng lớn nông dân nhỏ với sinh kế duy nhất là trồng trọt trên đất nông nghiệp của họ Vì vậy, họ phải duy trì sản xuất ngay cả trong thời gian khủng hoảng

2 Các giải pháp:

 Giải pháp 1 : Tiếp tục thực hiện nhóm giải pháp chống lạm phát và duy trì

chính sách tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt, thận trọng, đặc biệt là phụ thuộc vào

cơ chế thị trường Sử dụng hiệu quả các công cụ tài chính có thể điều chỉnh linh hoạt theo sự phát triển, diễn biến của thị trường Cần phải xem xét, điểu chỉnh lại hệ thống ngân hàng sao cho phù hợp để tránh rủi ro khủng hoảng hơn

 Giải pháp 2 : Tăng cường sự điều tiết của chính phủ đối với hệ thống tài

chính, ngân hàng và thị trường chứng khoán Kiểm tra chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng trong lĩnh vực rủi

ro như bất động sản, chứng khoán Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm với các tiêu chí cụ thể để xây dựng các phương án dự phòng và giải pháp cho những biến động bất lợi trong hệ thống tài chính ngân hàng

 Giải pháp 3 : Cải cách, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính, giải

phóng mặt bằng, phê duyệt và thanh toán dự án, nhất là đối với các công ty

Trang 10

xây dựng, để tạo điều kiện cho dự án triển khai nhanh chóng Đối với lĩnh vực kinh doanh bất động sản, ngoài việc xúc tiến, khuyến khích đầu tư, xây dựng nhà ở giá rẻ cho người nghèo, đối tượng chính sách, nhà ở công nhân khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, nhà ở sinh viên, đầu cơ bất động sản

 Giải pháp 4 : Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để tránh ảnh hưởng của việc

cắt giảm nhập khẩu từ một số quốc gia và tăng cường thị trường mới bằng cách chuyển sang mở rộng thị trường nội bộ Thực hiện các biện pháp chính trị để khuyến khích sự phát triển của sản xuất xuất khẩu, tăng nhanh giao dịch xuất khẩu và giảm thâm hụt thương mại Giới thiệu một chế độ tỷ giá linh hoạt để hỗ trợ xuất khẩu và tăng mức tín dụng ưu đãi cho sản xuất xuất Ngoài ra, tăng cường và thúc đẩy sự phát triển của thị trường nội bộ, đặc biệt

là trong các giai đoạn mua sắm các nguyên liệu nông nghiệp, đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ giữa sự phát triển của các khu vực sản xuất nguyên liệu với các ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu, cũng như phát triển phân phối các nguồn cung quan trọng và bán lẻ, cải thiện chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn và vệ sinh thực phẩm

 Giải pháp 5 : Tăng cường sự phương tiện truyền thông và quan công chúng

giữa các đơn vị Thường xuyên cập nhật thông tin trong nước và nước ngoài

để xét tất cả các tình huống qua đó đề ra chính sách phù hợp vào đúng thời điểm

III Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam:

Các cuộc khủng hoảng xảy ra như một lẽ tự nhiên và mọi đất nước đã phải trải qua những cuộc khủng hoảng về kinh tế Việt Nam cũng phải trải qua như vậy, những ảnh hưởng từ sản xuất bị đình trệ, dịch vụ trở nên giảm sút đã làm đất nước ta tổn hại ít nhiều Với 3 cuộc khủng hoảng để chuyển mình trong quá khứ

và hiện tại là những khó khăn do dịch Covid – 19 mới đây

 Cuộc khủng hoảng và chuyển mình lần thứ nhất

Cuộc khủng hoảng thứ nhất tiềm ẩn từ cuối thập kỷ 70, bùng nổ vào những năm 80 kéo dài đến đầu thập kỉ 90 Cuộc khủng hoảng này ảnh hưởng đến tất cả khía cạnh phát triển của đất nước bấy giờ

Tăng trưởng kinh tế bị chậm lại Thu nhập trung bình trong khoảng thời gian

1977-1980 giảm đáng kể ( năm 1979 giảm 2%, năm 1977-1980 giảm 1,4%) – cực thấp so với

Ngày đăng: 02/12/2022, 09:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w