Học vấn, tình trạng hôn nhân, sắc tộc của ngưYi chủ gia đình, tổng số ngưYi trong hộ, số thành viên đi học của hộ ,khu vực sinh sống của hộ cũng tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ...
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH - -
KINH TẾ LƯỢNG ỨNG DỤNG
Đề tài : Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chi tiêu cho giáo dục của các
hộ gia đình vùng đồng bằng sông Cửu Long năm 2016
Thành Phố Hồ Chí Minh-2021
Trang 2ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH - -
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ LƯỢNG ỨNG DỤNG
Đề tài : Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chi tiêu cho giáo dục của các
hộ gia đinh vùng đồng bằng sông Cửu Long năm 2016
GVHD: TS.Trương Thành Hiệp SVTH: Nguyễn Ngọc Hoài Thương – 31191025636 Thạch Ngọc Kỳ Duyên -31191025235
Võ Thị Ngọc Kiều -31191025564 Nguyễn Quốc Khánh -31191027354
Thành Phố Hồ Chí Minh-2021
Trang 3TÓM TẮT
Mục đích của nghiên cứu này là ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Việt Nam bằng cách sử dụng mô hình logit với số liệu thu được
từ điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) của năm 2016 Các kết quả từ
mô hình ước lượng cho thấy thu nhập của hộ có ảnh hưởng tích cực đến chi tiêu giáo dục của hộ Các yếu tố về đặc điểm chủ hộ như: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, bằng cấp chủ hộ có ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục Các gia đình dành khoản chi nhiều hơn cho thành viên nam đang đi học, chủ hô X là ngưYi dân tô Xc Kinh dành khoản chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn chủ hô X là dân tô Xc khác
MỤC LỤC TRANG BÌA
TRANG PHỤ BÌA
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Chương 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Mở đầu chương 1 ………7
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu ……… 7
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ……….8
1.2.1 Mục tiêu chung ………8
1.2.2 Mục tiêu cụ thể ………8
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………8
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu ……… 8
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu ……….8
1.4 Câu hỏi nghiên cứu ……… 8
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ……… 9
Tóm tắt chương 1 ……….9
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ……….10
Mở đầu chương 2 ……….10
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm ………10
Trang 42.1.1 Hộ gia đình ………10
2.1.2 Chủ hộ ………11
2.1.3 Thu nhập của hộ gia đình ……… 11
2.1.4 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ………12
2.2 Các lý thuyết liên quan ………12
2.2.1 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng ………13
2.2.2 Lý thuyết về sự tác động của thu nhập đến chi tiêu ………13
2.2.3 Lý thuyết về đầu tư cho giáo dục của hộ gia đình ……… 13
2.2.4 Hành vi ra quyết định của hộ gia đình ……….14
2.3 Các nghiên cứu trước liên quan ………14
Tóm tắt chương 2 ……….21
Chương 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 22
Mở đầu chương 3 ……….22
3.1 Quy trình nghiên cứu ………22
3.2 Mô hình nghiên cứu ……… 23
3.2.1 Mô hình lý thuyết ……….23
3.2.2 Mô hình nghiên cứu ……….24
3.2.3 Thống kê mô tả các biến ……… 25
3.3 Dữ liệu nghiên cứu ………31
Tóm tắt chương 3 ……….31
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ………32
Mở đầu chương 4 ……….32
4.1 Thực trạng chi tiêu cho giáo dục ở nước ta ……….33
4.2 Mô tả chi tiêu cho giáo dục theo các biến của mô hình ………34
4.2.1 Mô tả chi tiêu cho giáo dục theo đặc điểm của chủ hộ ……… 35
4.2.2 Mô tả chi tiêu cho giáo dục theo đặc điểm của hộ gia đình ………36
Trang 54.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia
đình………37
4.3.1 Hệ số tương quan ……….37
4.3.2 Kết quả hồi quy ………37
4.3.3 Giải thích ý nghĩa hệ số hồi quy ………38
Tóm tắt chương 4 ……… 39
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH ………40
Mở đầu chương 5 ………40
5.1 Kết luận và định hướng phát triển giáo dục ở nước ta ………41
5.2 Hàm ý chính sách ……… 42
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ……….43
5.3.1 Hạn chế của đề tài ……….43
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo ………44
Tóm tắt chương 5 ……… 44
DANH MỤC KHAM KHẢO ……….44
PHỤ LỤC ………45
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
VLSS (Vietnam Living Standard Survey): Cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam CTGD: Chi tiêu giáo dục
VHLSS (Vietnam Household Living Standard Survey): Điều tra mức sống hộ dân
cư Việt Nam
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước về CTGD của hộ gia đình
Bảng 3.1 Các biến trong mô hình nghiên cứu
Bảng 4.1 Chi tiêu cho giáo dục năm 2016
Bảng 4.2 Chi tiêu cho giáo dục chia theo dân tộc , tình trang hôn nhân và học vấn của chủ hộ
Bảng 4.3 Thống kê mô tả CTGD theo giới tính của chủ hộ
Trang 6Bảng 4.4 Thống kê mô tả CTGD theo dân tộc của chủ hộ
Bảng 4.5 Thống kê mô tả CTGD theo học vấn của chủ hộ
Bảng 4.6 Thống kê mô tả CTGD theo khu vực sinh sống của chủ hộ Bảng 4.7 Thống kê mô tả CTGD theo 5 nhóm thu nhập của chủ hộ Bảng 4.8 Ma trận tương quan giữa các biến độc lập trong mô hìnhBảng 4.9 Hệ số VIF
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến CTGD hộ gia đìnhBiểu đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu dân tộc thiểu số ở ĐBSCL
Trang 7Chương 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Chương này xác định lý do chọn để tài nghiên cứu, đưa ra mục tiêu nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Trong xu thế tri thức ngày càng phát triển, đYi sống xã hội, giáo dục là lĩnh vực
có vai trò quan trọng là giải pháp, chính sách hàng đầu đối với nhiều quốc gia và dân tộc Ở mức độ vĩ mô, đầu tư vào giáo dục dẫn đến sự tích lũy vốn con ngưYi, đó
là chìa khóa để tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập (Okuwa et al,2015) Ở mức độ
vi mô, đối với nhiều gia đình, đầu tư vào nguồn nhân lực được coi là con đưYng chính thoát nghèo.Giáo dục đang là một vấn đề hết sức bức xúc của toàn xã hội, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Trong một nghiên cứu của Glewwe và Patrinos nhận thấy, một gia đình có ba ngưYi con đang học tiểu học, THCSvà THPT tại trưYng công lập thì sẽ dành khoảng 10% chi tiêu hàng năm của
hộ gia đình cho giáo dục.Trong khi đó, tại Úc, chi tiêu trung bình của hộ gia đình cho giáo dục trẻ em thấp hơn nhiều Nhưng cũng chính vì vậy, chi tiêu giáo dục lại
là một trong những yếu tố lớn nhất góp phần vào gánh nặng kinh tế cho gia
đình.Bên cạnh đó, thu nhập thấp cũng làm hạn chế đến chi tiêu cho giáo dục của ngưYi dân và làm giảm khả năng theo đuổi các cấp học cao của con em Trong bối cảnh xã hội hóa giáo dục và sự sụt giảm trợ cấp cho ngành giáo dục, gánh nặng chi tiêu cho giáo dục của ngưYi dân tăng dần
Như vậy, việc nghiên cứu về lượng chi tiêu cho giáo dục và tìm ra các yếu tố có ảnhhưởng đến chi tiêu cho giáo dục của ngưYi dân là hết sức cần thiết Aysit Tansel (2005) cho thấy tổng chi tiêu trong gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ có ảnh hưởng lớn đến chi tiêu cho giáo dục của ngưYi dân Ngoài ra, Đặng Hải Anh (2007) cũng tìm thấy sự ảnh hưởng lớn của chi phí học thêm đến tổng chi tiêu trong gia đình và ngày càng tăng cao ở các cấp cao hơn Moock et al (2003), sử dụng số liệu
từ cuộc Điều tra mức sống Dân cư Việt Nam VLSS (Vietnam Living Standard Survey) 1993, ước lượng suất sinh lợi của một năm đi học tăng thêm là gần 5%.Tuy nhiên ngoài những yếu tố: tổng thu nhập, tổng chi tiêu của hộ, độ tuổi, trình độ học vấn, dân tộc của chủ hộ, mà các nghiên cứu trước đã đưa vào mô hình, nhóm em nhận thấy yếu tố ý thức của chủ hộ về giáo dục có tác động rất lớn đến chi tiêu giáo dục của hộ Nên nếu được đưa thêm yếu tố ý thức về giáo dục con cái của chủ hộ vào mô hình, từ đó sẽ có cơ sở khoa học để tuyên truyền nâng cao ý thức giáo dục của chủ hộ Một khi ngưYi chủ gia đình có ý thức đầu tư giáo dục chocon em mình thì cá nhân ngưYi học thông qua việc tiếp nhận giáo dục thu được những lợi ích về vật chất và tinh thần cho bản thân trong hiện tại và tương lai; nâng cao năng suất lao động, gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế cho xã hội, đồng thYi làm cho đYi sống văn hóa tinh thần, chính trị, của xã hội không ngừng được nâng cao
Trang 8Nghiên cứu này sẽ phân tích thực trạng về cơ cấu chi tiêu cho giáo dục trong tổng cơ cấu chi tiêu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của ngưYi dân ở ĐBSCL Việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu và phân bổ đúng hướng các nguồn lực cho giáo dục sẽ là một tiền đề cho các chính sách được thực hiện nhằm giúp nâng cao trình độ giáo dục ở vùng ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài xác định một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục (viết tắt là CTGD) của các hộ gia đình ở ĐBSCL Từ đó sẽ đề xuất một vài kiến nghị về chính sách để khuyến khích các hộ gia đình chú trọng hơn nữa đầu tư vào giáo dục một cách hợp lý, góp phần không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao tỷ
lệ ngưYi dân được đào tạo chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ, cải thiện nguồn nhân lựccủa vùng này
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Một là đánh giá thực trạng chi tiêu giáo dục của các hộ gia đình ở ĐBSCL.Hai là xác định một số yếu tố có tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình
Ba là đề xuất một số kiến nghị có chức năng chính sách giúp các hộ gia đình đầu tư hợp lý hiệu quả chi tiêu cho học tập của hộ gia đình ở ĐBSCL
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở ĐBSCL
- Nghiên cứu dữ liệu: Sử dụng bộ dữ liệu VHLSS năm 2016
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Chi tiêu giáo dục có gia tang khi chi tiêu của hộ gia đình tăng lên hay không?
- Chi tiêu lương thực, thực phẩm có tác động như thế nào đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình?
- Các đặc điểm của hộ gia đình : dân tộc của chủ hộ , số thành viên đang đi học , khu vực sinh sống của hộ , …… có ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu giáo dục của
hộ như thế nào?
- Các yếu tố kinh tế xã hội, yếu tố nhân khẩu học và địa lý nào tác động đến mức chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình?
Trang 9- Làm thế nào để chi tiêu cho giáo dục một cách hợp lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của ngưYi dân?
1.5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu biết được yếu tố nào tác động, mức độ tác động của mỗi yếu tố đến chi tiêu giáo dục của các hộ dân cư trên địa ,từ đó tham mưu cho chính quyền các cấp để đưa ra những giải pháp, chính sách phù hợp nhằm khuyến khích các hộ dân cư có chi tiêu giáo dục hợp lý, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục cũng như chất lượng nguồn nhân lực của nước ta
Trang 10Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày các khái niệm về hộ gia đình, chủ hộ, tổng thu nhập của hộ, chi tiêu giáo dục của hộ, các lý thuyết và nghiên cứu trước có liên quan đến
hộ gia đình sẽ có một hoặc nhiều đơn vị thành viên nhỏ, với mỗi đơn vị thành viên nhỏ có thể chi gồm một ngưYi lớn duy nhất, hoặc một cặp vợ chồng có hoặc không
có trẻ em phụ thuộc
Theo Tổng cục Thống kê (2012) hộ gia đình là một hoặc một nhóm ngưYi ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chỉ ThYi gian 12 tháng qua tính từ thYi điểm tiến hành phỏng vấn trở về trước
Hộ gia đình được xem như là một đơn vị thống kê dân số, một tập hợp ngưYi
có mối quan hệ gắn kết với nhau có lúc ngưYi ta đồng nhất nó với khái niệm gia đình Xét trên ý nghĩa thống kê mỗi con ngưYi chi có thể thuộc về một và chỉ một
hộ gia đình nào đó Theo báo cáo của Ủy ban châu Âu (2010) về điều tra chi tiêu cho giáo dục cho rằng hộ gia đình cần phải có bốn đặc điểm cơ bản:
(1) các thành viên trong hộ có chung địa chỉ thưYng trú
(2) các thành viên thống nhất trong chia sẻ các loại chi phí cần thiết để đảm bảo cuộc sống
(3) có đóng góp chung phần thu nhập cũng như các loại tài sản tạo thành ngân sách chung của hộ
(4) có sự ràng buộc về mối quan hệ huyết thống hoặc tình cảm giữa các thành viên trong hộ gia đình
2.1.2 Chủ hộ
Trang 11Theo Tổng cục Thống kê (2012) thì chủ hộ được hiểu là ngưYi có vai trò điều hành, quản lý gia đình (nhưng không nhất thiết), giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ Thông thưYng thì chủ hộ là ngưYi có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được tất cả các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên khác trong hộ Đa số chủ hộ theo khái niệm này trùng với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu, nhưng cũng có trưYng hợp chủ hộ trong cuộc khảo sát trên khác với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu
Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam (2005) thì chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ
Theo Ủy ban Châu Âu (2010) chủ hộ được định nghĩa là cá nhân mà căn cứ đặc điểm của họ, chúng ta có thể phân loại và phân tích các thông tin đại diện cho
hộ gia đình mà ngưYi đó làm chủ hộ Chủ hộ có thể là ngưYi có thu nhập lớn nhất trong hộ, chủ sở hữu căn nhà hoặc là ngưYi đàn ông lớn tuổi nhất trong hộ
Theo nghiên cứu của Đào Thị Yến Nhi (2013) thì chủ hộ được định nghĩa như sau: là ngưYi có vai trò điều hành, quản lý gia đình, ngưYi hiện giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc chính của hộ Thông thưYng thì chủ hộ thưYng là ngưYi có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được toàn bộ các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên khác trong hộ Trong cuộc khảo sát mức sống hộ dân cư thì đa số chủ hộ theo khái niệm này trùng với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu, nhưng cũng có trưYng hợp chủ hộ trong cuộc khảo sát này khác với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu
Tóm lại, chủ hộ là những ngưYi có đủ điều kiện cung cấp các thông tin cần thiết về các đặc điểm nhân khẩu học, thu nhập, chi tiêu và các hoạt động diễn ra trong hộ gia đình Vì vậy, các thông tin mà chủ hộ cung cấp cho các thành viên kháctrong hộ và của bản thân chủ hộ có thể được sử dụng đại diện trong các nghiên cứu
về hộ gia đình
2.1.3 Thu nhập của hộ gia đình
Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thYi gian nhất định (thưYng là một năm), bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
Trang 12Thu nhsp của hộ = Tung thu của hộ - Tung chi phí vst chất và dịch vụ
sử dụng cho hoạt động SXKD của hộ
2.1.4 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình
Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình là toàn bộ chi phí của hộ gia đình dùng để trang trải cho việc tham gia các hoạt động giáo dục và đào tạo của các thành viên trong hộ gia đình
Theo Ủy ban Châu Âu (2010) thì Chi tiêu giáo dục phát sinh của các hộ gia đình
có thể được phân thành ba loại: chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và chi phí cơ hội
- Chi phí trực tiếp là các chi phí: học phí của học sinh, chi phí cho các nhà cung cấp các khóa học nâng cao tay nghề và kỹ năng, chi phí mua sách vở và đồ dùnghọc tập, chi phí mua đồng phục, phí học thêm
- Chi phí gián tiếp là những khoản chi mở rộng không nằm trong chi phí trực tiếp trong quá trình học Chúng bao gồm chi phí sinh hoạt cho học sinh, chi phí đi lại, chi phí mua thức ăn và học nội trú - bán trú, chi phí mua đổ dùng học tập để
tự học
- Chi phí cơ hội được thế hiện qua những công việc hoặc các hoạt động nghi ngơi
mà các cá nhân phải bỏ lỡ để dành thYi gian đầu tư cho học tập
Theo Lassible (1994) thì khoản chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình chia thành
ba khoản như sau:
Các khoản chi bằng tiền mặt: bao gồm học phí đóng theo quy định của nhà trưYng, cơ sở đào tạo; các chi phí mua bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện, những khoản vận động tự nguyện từ phía phụ huynh đóng góp
Các khoản chi cho việc mua đồ dùng phục vụ trực tiếp cho học tập như: sách giáo khoa, sách tham khảo, tập vở, máy tính, dụng cụ vẽ; các dụng cụ hỗ trợ khác như: đồng phục, quần áo thể dục, cặp sách, dụng cụ thể thao
Các khoản chi phí cho dịch vụ hỗ trợ: dịch vụ đi lại hoặc đưa đón học sinh; chi phí cho nội trú, bán trú
Theo cách tính của Tổng cục Thống kê (2012), chi giáo dục đào tạo bình quân một ngưYi đi học trong 12 tháng qua được tính bằng tổng chi cho việc đi học trong 12 tháng của các thành viên đang đi học chia cho số ngưYi đi học theo
Trang 13từng cấp một Như vậy chi tiêu giáo dục bình quân trẻ sẽ bằng tổng chi tiêu giáo dục cho các thành viên đang học của hộ gia đình chia cho số trẻ đang học của
hộ Trong đề tài này, chi tiêu giáo dục bình quân trẻ học tiểu học, trung học cơ
sở, trung học phố thông của các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL còn được gọi tắt là chi tiêu giáo dục
2.2 Các lý thuyết liên quan
2.2.1 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng
Lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng Theo Mas-Colell và cộng sự 1995, lý thuyết tiêu dùng thể hiện những quyết định lựa chọn tiêu dùng mang tính chất duy lý của ngưYi tiêu dùng cho các loại hàng hóa Trong điều kiện ràng buộc về ngân sách hộ gia đình, ngưYi tiêu dùng sẽ lựa chọn rổ hàng hóa đảm bảo tối đa hóa mức hữu dụngcủa mình
Max u(x) với điều kiện P*X<I
Trong đó:
r = (x1,x , ,x 2 n) rổ hàng hóa tiêu dùng và x1,x , ,x 2 n là các loại hàng hóa.p= ip,p2,…,pn rỗ hàng hóa tiêu dùng và p, p2,…,pn là giá của từng loại hàng hóa
I: là ngân sách của ngưYi tiêu dùng
Với mức giá p của thị trưYng và ngân sách I cố định, ngưYi tiêu dùng lựa chọn sử dụng hàng hóa sao cho đạt mức thỏa dụng cao nhất, vấn đề này được thực hiện dựa trên một số giả định cơ bản theo thông tin thị trưYng hoàn hảo, ngưYi tiêu dùng chấp nhận giá và giá của hàng hóa có dạng tuyến tính
2.2.2 Lý thuyết về sự tác động của thu nhập đến chi tiêu
Vào thế kỷ XIX, một nhà thống kê ngưYi Đức, Engel (1821-1896) đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm về ngân sách gia đình để đưa ra kết luận về các
mô hình chi tiêu cho tiêu dùng, đó là chi phí cho các hàng hóa và dịch vụ khác nhaucủa hộ gia đình ở những mức thu nhập khác nhau
Theo nghiên cứu của Engel, khi thu nhập tăng lên, tỷ trọng của thu nhập chi cho các hàng hóa thiết yếu như thực phẩm thì giảm và chỉ cho các hàng hóa xa xỉ như các hàng hóa và dịch vụ công nghiệp lại tăng Hay nói cách khác, các gia đình nghèo thưYng dành tỷ trọng tương đối lớn trong thu nhập của họ cho các nhu cầu cần thiết, trong khi các gia đình giàu lại dành phần lớn thu nhập cho các nhu cầu xa
Trang 14xỉ Sự thay đổi này trong các mô hình chi tiêu tiêu dùng với sự gia tăng thu nhập của các hộ gia đình được gọi là quy luật Engel.
2.2.3 Lý thuyết về đầu tư cho giáo dục của hộ gia đình
Lý thuyết vốn con ngưYi liên quan đến giáo dục như là một sự đầu tư để tối
đa hóa chất lượng cuộc sống (Schultz, 1961, Becker, 1993) Việc đầu tư thêm vào cho giáo dục sẽ tạo ra lợi ích về mặt nâng cao thu nhập trong tương lai đồng thYi đòi hỏi chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội vì không làm việc trong thYi gian đi học Mỗi ngưYi sẽ so sánh những chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội với lợi ích trong tương lai của việc đầu tư cho đi học Việc đầu tư sẽ tiếp tục miễn là tỷ lệ biên lợi nhuận cao hơn chỉ phí bây giY bỏ ra Việc đầu tư cho giáo dục sẽ tăng theo kỳ vọng lợi nhuận đạt được trong tương lai và giảm theo chi phí đi học
2.2.4 Hành vi ra quyết định của hộ gia đình
Việc ra các quyết định của hộ gia đình phải chăng chỉ là ý chí của ngưYi đại diện hay còn gọi là chủ hộ? Điều này có thể đúng nếu nghiên cứu các hộ gia đình trong thYi kỳ phong kiến khi mà ý kiến của ngưYi chủ gia đình hầu như lấn át toàn
bộ ý kiến của các thành viên khác Ngày nay, vai trò của ngưYi chủ hộ đã có nhiều thay đối, quá trình ra quyết định của hộ gia đình bị chi phối bởi nhiều nhân tố hơn Qua các kết luận của Douglas (1983) trong nghiên cứu về quá trình ra quyết định của gia đình, chúng ta có thể nhận định rằng quá trình này cần được thực hiện với những cân nhắc cụ thể như:
Quá trình ra quyết định chung của gia đình cần phải được cần nhắc trên cơ sởnắm bắt ý tưởng của các thành viên nhằm mục tiêu tối đa hóa tống hữu dụng của hộ gia đình, tránh các lựa chọn bất lợi
Nhìn nhận sự ảnh hưởng của các nhân tố khác ngoài gia đình có tác động đếnquyết định của hộ Điều đó có nghĩa rằng bên cạnh vợ chồng, con cái, ngưYi
có tên trọng hộ, ngưYi ta có thể phải chú ý đến những ngưYi ngoài hộ gia đình nhưng có liên quan như ngưYi tư vấn, ngưYi bán hàng
Xem xét sự tác động của các điều kiện có liên quan đến môi trưởng sống, môi trưYng xã hội, chính sách quy định nghĩa vụ hoặc quyền thụ hưởng mà bản thân hộ gia đình đó đang bị chỉ phối Như vậy, quá trình ra quyết định của bộ gia đình nói chung và quyết định chỉ tiêu cho việc giáo dục nói riêng cần phải được nghiên cứu trong ngữ cánh đặt giả thiết có nhiều nhân tố chi phối, từ các đặc điểm của gia đình đến môi trưởng xã hội
2.3 Các nghiên cứu trước liên quan
Trang 15Luận văn thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục ở vùng Đông Nam Bộ” ( 2012 ) của tác giả Trần Thanh Sơn , Trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu KSMS hộ dân cư năm 2008 được TCTK Việt Nam thực hiện với 594 hộ gia đình ở vùng Đông Nam Bộ Tác giả đã sử dụng các biến: ( i ) đặc điểm chung của hộ gia đình ( tổng chi tiêu , tổng số ngưYi của hộ , nơisinh sống ) , ( ii ) đặc điểm của chủ hộ ( dân tộc , giới tính , độ tuổi , trình độ học vấn ) , ( iii ) chính sách hỗ trợ tài chính giáo dục vào mô hình nghiên cứu Kết quả chỉ ra rằng yếu tố tổng chi tiêu của hộ gia đình là yếu tố có tác động mạnh nhất đến chi tiêu giáo dục, khi tổng chi tiêu của họ càng cao thì chi tiêu giáo dục càng nhiều Tiếp theo yếu tố trình độ cao nhất về học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn càng cao thì chi tiêu cho giáo dục càng nhiều và ngược lại Một yếu tố khác là nếu hộ dân cư nhận được cảng nhiều trợ cấp tài chính giáo dục thì mức chi của hộ cho giáo dục cũng tăng Và các hộ gia đình sống ở thành thị thì có mức chi tiêu cho học tập cao hơn hộ sống ở nông thôn Kết quả cũng cho thấy rằng các yếu tố như tổng số ngưYi của hộ, độ tuổi, dân tộc và giới tính của chủ hộ không ảnh hưởng đến chi tiêu học tập của hộ dân cư
Luận văn thạc sỹ “Đánh giá tác động của đặc điểm hộ gia đình đến chi tiêu giáo dục trung học của hộ gia đình Việt Nam” ( 2013 ) của tác giả Đào Thị Yến Nhi , Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp của cuộc điều tra KSMS hộ gia đình năm 2010 của TCTK Việt Nam với 2.955 hộ dân cư trong cả nước Tác giả đã sử dụng các biến: ( i ) đặc điểm kinh tế hộ gia đình , ( ii ) Đặc điểm nhân khẩu học của
hộ gia đình , ( iii ) đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình để phân tích Kết quả cho thấy là chi tiêu trung bình và chi tiêu thực phẩm của họ có ảnh hưởng rõ nhất đến chi tiêu giáo dục trung học của hộ Yếu tố trình độ học vấn của chủ hộ cũng tương quan dương đến mức chi tiêu giáo dục của họ Và tuổi của chủ hộ càng cao thì xu hướng chi tiêu cho giáo dục trung học càng nhiều và đến một mức nào đóthì giảm dần Yếu tố sắc tộc của chủ hộ cũng ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục trunghọc , kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng dân tộc Kinh và Hoa có mức chi tiêu giáo dục cao hơn các dân tộc khác Một yếu tố nữa có tác động đến chi phí học tập là khu vực sinh sống của hộ gia đình , gia đình ở khu vực thành thị có mức chi tiêu cho giáo dục trung học cao hơn hộ gia đình sống ở nông thôn Các yếu tố số ngưYi đang
đi học ở các bậc học khác , số trẻ em dưới 6 tuổi , giới tính và tình trạng hôn nhân của chủ hộ không có tác động đến chi tiêu giáo dục trung học của hộ dân cư Việt Nam
Trang 16Luận văn thạc sỹ Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của các
hộ gia đình ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung” ( 2014 ) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh , Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Tác giả sử dụng bộ dữ liệu của cuộc KSMS 2010 của TCTK Việt Nam với
2044 hộ dân Trong nghiên cứu tác giả sử dụng các biến: ( 1 ) Đặc điểm kinh tế của
hộ gia đình , ( ii ) đặc điểm nhấn khẩu học của hộ gia đình , ( ii ) Đặc điểm khu vực sinh sống của hộ dân cư để phân tích Kết quả cho thấy chi tiêu bình quân của hộ dân cư có tác động tích cực và rõ rệt nhất Chi tiêu thực phẩm và chỉ tiêu y tế có tác động tích cực đến chi tiêu giáo dục Các yếu tố dân tộc, trình độ cao nhất về học vấncủa chủ hộ , tổng số ngưYi của hộ , giới tính của trẻ , nơi sinh sống của họ cũng có tác động đến chi tiêu giáo dục
Nghiên cứu “ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của người dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long ” ( 2014 ) của tác giả Không Tiến Dũng và Phạm Lê Thông ( 2014 ) , Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả sử dụng bộ dữ liệu của điều tra KSMS hộ dân cư Việt Nam năm
2010 với 1905 mẫu quan sát Kết quả chứng minh rằng học vấn chủ hộ càng cao sẽ càng tăng chi tiêu cho giáo dục, xu hướng này giống với các yếu tố khác như thu nhập trong gia đình và tuổi chủ hộ Thu nhập tăng sẽ góp phần làm tăng đáng kể khoản chi tiêu cho giáo dục của ngưYi dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long Ngoài ra, các yếu tố như học thêm, số nam, nữ đi học cũng góp phần làm tăng mức chi tiêu này
Luận văn thạc sỹ “Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của thành thị - nông thôn Việt Nam” ( 2014 ) của tác giả Nguyễn Minh Thuận , Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu của KSMS hộ gia đình Việt Nam năm 2010
và 2012 của TCTK Việt Nam với 5.679 hộ dân cư năm 2010 và 5.609 hộ năm 2012.Tác giả đưa các biến vào mô hình để phân tích là: ( i ) Đặc điểm kinh tế của hộ dân
cư ( Tổng chi tiêu bình quân ) , ( ii ) Đặc điểm của chủ hộ ( giới tính , tuổi , trình độ học vấn , tình trạng hôn nhân , dân tộc ) , ( iii ) Đặc điểm chung của hộ gia đình ( quy mô hộ , số ngưYi đi học của hộ , khu vực sinh sống ) Kết quả nghiên cứu chothấy tổng chi tiêu bình quân là biến có ảnh hưởng mạnh nhất đến chi tiêu giáo dục của hộ Yếu tố tuổi của chủ hộ cũng tác động đến chi tiêu học tập, chủ hộ còn trẻ tácđộng tích cực tới chi tiêu cho giáo dục và ngược lại Học vấn, tình trạng hôn nhân, sắc tộc của ngưYi chủ gia đình, tổng số ngưYi trong hộ, số thành viên đi học của hộ ,khu vực sinh sống của hộ cũng tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ
Trang 17Luận văn thạc sỹ “Đánh giá tác động của đặc điểm hộ gia đình đến chi tiêu giáo dục hộ gia đình các tỉnh ven biển vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ” (2015) của tác giả Lê Thanh Tùng , Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu KSMS dân cư 2012 của TCTK Việt Nam với mẫu 533 hộ dân cư Tác giả sử dụng các biến: ( i ) Đặc điểm kinh tế của hộ gia đình, ( ii ) Đặc điểm nhấn khẩu học của hộ gia đình , ( ii ) Đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình Kết quả cũng chứng minh được yếu tố chi tiêu có ảnh hưởng rõ nhất đến chi tiêu giáo dục của hộ Các yếu tố trình độ học vấn, dân tộc của chủ hộ ,
số thành viên dưới 6 tuổi , khu vực sinh sống cũng tác động đến mức chi giáo dục của hộ Các yếu tố quy mô hộ, giới tính và tình trạng hôn nhân của chủ hộ không
có tác động đến chi tiêu của hộ dân cư cho giáo dục
Luận văn thạc sỹ “Phân tích các nhân tổ tác động đến chi tiêu giáo dục của
hộ gia đình khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long" (2017) của tác giả Nguyễn Lưu Trung, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của cuộc điều tra KSMS hộ gia đình Việt Nam năm 2014 do TCTK Việt Nam thực hiện với 1.905 hộ của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Trong nghiên cứu tác giả đưa các biến sau để phân tích là: (i) Đặc điểm học tập trẻ em (số trẻ em đi học, học thêm), (ii) Đặc điểm của chủ hộ (giới tính, học vấn, dân tộc, độ tuổi), (iii đặc điểm hộ (thu nhập, số ngưYi trong hộ, nghề nghiệp, nơi sinh sống), (iv) tiếp cận chính sách hỗ trợ giáo dục Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm học tập của trẻ em trong hộ (số lượng trẻ trong độ tuổi đi học) là nhân tố tác động nhiều nhất đến chi tiêu giáo dục của hộ, bên cạnh đó nhân tổ học thêm của trẻ cũng có tác động dương đến chi tiêu cho giáo dục của hộ Thứ 2 là nhóm biến về đặc điểm hộ dân cư (thu nhập và số ngưYi của hộ) ảnh hưởng có ý nghĩa đến chi tiêu của hộ cho giáo dục Thứ 3 là nhóm biến về đặc điểm của chủ hộ (trình độ học vấn, dân tộc và độ tuổi) cũng có tác động đến chi tiêu học tập của hộ, dân tộc của chủ hộ là Kinh hoặc Hoa sẽ có tác động mạnh hơn các dân tộc khác Nghiên cứu cũng chi ra rằng trợ cấp giáo dục cũng tác động đến mức chi cho giáo dục của hộ Các nhân tố như ho nông nghiệp, nơi sinh sống, giới tính chủ hộ, chủ hộ
là cán bộ viên chức không thấy có mối liên hệ đến chi tiêu giáo dục của hộ
Luận văn thạc sỹ “ Đánh giá tác động đặc điểm hộ gia đình đến chi tiêu cho giáo dục hộ gia đình Việt Nam" (2017) của tác giả Phan Ka Luốt, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp của cuộc KSMS hộ dân cư nãm 2014
do TCTK Việt Nam thực hiện với 5.637 hộ gia đình trên cả nước Trong nghiên cứu tác giả sử dụng các biến: (i) Đặc điểm chủ hộ (giới tính, dân tộc, tuổi, học vấn, tình
Trang 18trạng hồn nhân, khu vực sinh sống), (ii) Quy mô hộ, (ii) Đặc điểm chi tiêu của hộ (chi tiêu y tế, chi tiêu thực phẩm, chi tiêu bình quân), (iv) Vùng sinh sống
Kết quả: Biến giới tính của chủ hộ không có mối liên hệ với chi tiêu học tập, các biến còn lại: dân tộc, tuổi, học vấn và tình trạng hôn nhân của chủ hộ, khu vực sinh sống của hộ, quy mô hộ và nhóm đặc điểm chi tiêu của hộ (chi tiêu y tế, chi tiêu thực phẩm, chi tiêu bình quân) đều có tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ
Bảng 2.1 Tung hợp các nghiên cứu trước về CTGĐ của hộ gia đình
Nghiên cứu “ Các nhân tố
ảnh hưởng đến chi tiêu của
hộ gia đình cho giáo dục ở
vùng Đông Nam bộ ” của
Trần Thanh Sơn ( 2012 )
Dữ liệu nghiên cứu là của KSMS dân cư năm 2008 của TCTK Việt Nam, đượctrích xuất cho vùng Đông Nam bộ, với 594 quan sát
- Phương pháp nghiên cứu:
Thống kê mô tả và hồi quyOLS
- Các biến độc lập kỳ vọng: tổng chi tiêu, quy mô hộ, nơi sinh sống của hộ, dân tộc, giới tính, trình độ học vấn, tuổi của chủ hộ và cáctrợ cấp cho giáo dục
Kết quả tổng chi tiêu , trình độ học vấn của chủ hộ , các chính sách
hỗ trợ cho giáo dục , nơi sinh sống của hộ làcác yếu tố có ảnh hưởng đến chi tiêu chogiáo dục của hộ gia đình ở vùng Đông Nam bộ
Nghiên cứu Đánh giá tác
động của đặc điểm hộ gia
đình đến chi tiêu giáo dục
trung học của hộ gia đình
Việt Nam ” Đào Thị Yến
Nhi ( 2013 )
Dữ liệu nghiên cứu là của KSMS dân cư năm 2010 quy OLS của TCTK Việt Nam , với 2.955 quan sát
- Phương pháp nghiên cứu : Hồi quy OLS
- Các biến độc lập kỳ vọng: chi tiêu bình quân , chi tiêu bình quân thực phẩm ,tuổi , trình độ học vấn , giới tính chủ hộ , dân tộc chủ hộ , tình trạng hôn nhân của chủ hộ , số thành viên còn đi học của hộ,
Kết quả chi tiêu bình quân , chi tiêu thực phẩm của hộ , trình độ học vấn chủ hộ , tuổi chủ hộ , dân tộc chủ hộ, khu vực sinh sống của hộ có tác động đếnmức chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Việt Nam
Trang 19khu vực sinh sống của hộ.
Nghiên cứu “Phân tích yếu
tố ảnh hưởng đến chi tiêu
giáo dục của các hộ gia
Kết quả: chi tiêu bình quân của hộ, chi tiêu thực phẩm, tế, dân tộc, học chi tiêu y vấn chủ
hộ, tổng số ngưYi trong
hộ, giới tính của trẻ đi học, nơi sinh sống của
hộ có tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Nghiên cứu “Phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến chi
tiêu cho giáo dục của
- Phương pháp nghiên cứu:
Mô hình Tobit
- Các biến độc lập kỳ vọng: trình độ học vấn củachủ hộ, tuổi chủ hộ, giới tính chủ hộ, số ngưYi nam
đi học, số ngưYi nữ đi học,tổng thu nhập gia đình, học thêm, trợ cấp giáo dục
Kết quả cho thấy trình
độ học vấn, tuổi chủ
hộ, tổng thu nhập của
hộ, tình trạng học thêm, số ngưYi nam và
nữ đi học của hộ là cácyếu tổ có ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của các hộ gia đình ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Nghiên cứu " Đánh giá các
nhân tố ảnh hưởng đến chi
tiêu giáo dục của thành thị
- nông thôn Việt Nam" của
Nguyễn Minh Thuấn
(2014)
Dữ liệu nghiên cứu là của KSMS dân cư năm 2010
và 2012 của TCTK Việt Nam, với 5.679 (2010) và
5609 (2012) quan sát
Phương pháp nghiên cứu:
Hồi quy OLS - Các biến độc lập kỳ vọng: tổng chi tiêu bình quân, giới tính, tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, dân tộc của chủ hộ, quy mô hộ, số
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng chi tiêu bình quân, tuổi của chủ
hộ, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, sắc tộc của chủ hộ, quy
mô hộ, số thành viên đihọc của hộ, khu vực sinh sống của hộ có ảnh hưởng đến chi tiêugiáo dục của hộ gia đình Việt Nam
Trang 20thành viên đi học của hộ, khu vực sinh sống của hộ
Nghiên cứu “ Đánh giá tác
động của đặc điểm hộ gia
đình đến chi tiêu giáo dục
hộ gia đình các tinh ven
533 quan sát Phương phápnghiên cứu: Hồi quy OLS
- Các biến độc lập kỳ vọng: chi tiêu, chi tiêu thực phẩm, quy mô hộ, học vấn cao nhất, giới tính
và dân tộc chủ hộ, tình trạng hôn nhân chủ hộ, số thành viên còn đi học và trẻ dưới 6 tuổi, giới tính của trẻ, khu vực sinh sống của hộ
Kết quả cũng cho thấy yếu tố chi tiêu có tác động rõ nhất đến chi tiêu của hộ cho giáo dục Các yếu tố trình
độ học vấn, dân tộc của chủ hộ, số thành viên dưới 6 tuổi, khu vực sinh sống cũng tác động đến mức chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Nghiên cứu “Phân tích các
nhân tố tác động đến chi
tiêu giáo dục của hộ gia
đình khu vực Đồng Băng
Sông Cửu Long" của
Nguyễn Lưu Trung (2017)
Dữ liệu nghiên cứu là của KSMS dân cư năm 2014 của TCTK Việt Nam, với 1.905 quan sát Phương pháp nghiên cứu: Hồi quy OLS Các biến độc lập kỳ vọng: giới tính, trình độ học vấn, dân tộc và độ tuổicủa chủ hộ, thu nhập, quy
mô hộ, nghề nghiệp, nơi sinh sống của hộ, số trẻ em
đi học, học thêm, tiếp cận chính sách hỗ trợ cho giáo dục
Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng trẻ trong độ tuổi đi học là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến mứcchi của hộ cho giáo dục, bên cạnh đó học thêm, thu nhập, quy
mô của hộ, trình độ học vấn, dân tộc và độ tuổi chủ hộ, trợ cấp giáo dục cũng có tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.Nghiên cứu “ Đánh giá tác
động đặc điểm hộ gia đình
đến chi tiêu cho giáo dục
hộ gia đình Việt Nam" của
Phan Ka Luốt (2017)
Dữ liệu nghiên cứu là của KSMS dân cư năm 2014 của TCTK Việt Nam, với 5.637 quan sát Phương pháp nghiên cứu: Hồi quy OLS Các biến độc lập kỳ
Kết quả: Biến giới tínhcủa chủ hộ không có mối liên hệ với chi tiêugiáo dục, các biến còn lại: dân tộc, tuổi, học vấn và tình trạng hôn
Trang 21vọng: giới tính, dân tộc, tuổi, học vấn, tình trạng hôn nhân của chủ hộ, khu vực sinh sống, quy mô hộ, chi tiêu y tế, chi tiêu thực phẩm, chi tiêu bình quân, vùng sinh sống của hộ gia đình.
nhân của chủ hộ, khu vực sinh sông của hộ, quy mô hộ và nhóm đặc điểm chi tiêu của
hộ (chi tiêu y tế, chi tiêu thực phẩm, chi tiêu bình quân) đều có tác động đến chi tiêu của hộ cho giáo dục
Tóm tắt chương 2:
Chương 2 trình bày một số khái niệm (hộ gia đình, chủ hộ, thu nhập của hộ, chi tiêu giáo dục của hộ) và lý thuyết liên quan như hành vi tiêu dùng, lý thuyết về : tác động của thu nhập đến chi tiêu, lý thuyết về đầu tư cho giáo dục của hộ, hành vi ra tác quyết định của hộ gia đình Và tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan, từ đó lựa chọn và phát triển mô hình của Nguyễn Lưu Trung làm nền tảng xây dựng khung phân tích cho nghiên cứu này
Chương 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, mô hình lý thuyết và mô hình đề xuất nghiên cứu, nguồn dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Vấn đề nghiêncứu
Phân tích vàThống kê
Phương phápnghiên cứu
Mô hình nghiêncứu
Cơ sở lýthuyết
Thực trạng chi tiêu
giáo dục ở ĐBSCL
Kết luận và giải pháp
Trang 22Biểu đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu
3.2 Mô hình nghiên cứu
3.2.1 Mô hình lý thuyết
Mô hình lý thuyết kinh tế chi tiêu hộ gia đình :
Một mô hình toán kinh tế về mối quan hệ giữa chi tiêu cho một loại hàng hóa
cụ thể với tổng chi tiêu hộ gia đình đã được nhà nghiên cứu Houthakker ( 1957 ) tìmhiểu và đưa ra mô hình Houthakker xem xét 3 dạng hàm là tuyến tính, bán logarit
và logarit kép để thành lập mô hình giải thích hiệu quả nhất mối quan hệ kinh tế
giữa chi tiêu một loại hàng hóa cụ thể với tổng chi tiêu của hộ gia đình Với ưu
điểm của dạng hàm logarit kép được phát triển từ lý thuyết đưYng cong Engel, nhà
nghiên cứu đã đưa ra mô hình cụ thể:
LogYi= α + β i ilogX1+ γilogX2 + εi (3.1)Trong đó:
Yi là chi tiêu của nhóm hàng hóa thứ i.
X1là tổng chi tiêu
X2 là số lượng thành viên trong hộ gia đình
εi là sai số α , β γ là các hệ số của ước lượng hồi quy OLS i i, i
βi,γi là các hệ số co giãn theo tổng chi tiêu và quy mô hộ gia đình khi xem xétmối quan hệ với chi tiêu cho nhóm hàng hóa i
Hồi quyOLS
Trang 23Nghiên cứu của Ndanshau ( 1998 ) đã xây dựng mô hình ước lượng tổng quát cho chi tiêu hộ gia đình :
Cij = f (TEXj,A ,HS ,Ed j j j) ( 3.2 )Trong đó:
Cij là phần chi tiêu dành cho loại hàng hóa thứ i của hộ gia đình thứ j.
TEXj là tổng chi tiêu của hộ gia đình thứ j.
Aj, Ed là tuổi và trình độ giáo dục của chủ hộ gia đình thứ j j
HSj là số lượng thành viên trong hộ gia đình thứ j.
Ndanshau ( 1998 ) đã đề xuất triển khai mô hình tổng quát trên thành hai dạng
mô hình gồm tuyến tính và lin - log
Mô hình hàm tuyến tính có dạng là:
Ci = αi+βiTEX + γ A + δ HS + ψ Ed + ui i i i ( 3.3 )
Mô hình hàm lin - log có dạng :
C = αi i+βi logTEX + γ logA + δ HS + ψ Ed + ui i i i ( 3.4 ) Nghiên cứu của Massell và Heyer ( 1969 ) về chỉ tiêu hộ gia đình ở Nairobicũng đã ước lượng chi tiêu của hộ bằng mô hình tương tự như trên:
Log(Ei) = a + a log(E) + a log(N) + ui0i 1i 2i (3.5 )
Với E là chi tiêu cho hàng hóa thứ i E là tổng chi tiêu của hộ gia đình N là itổng số thành viên của hộ gia đình a là hệ số cần ước lượng của mô hình, u là sai isố
Tilak ( 2002 ) nghiên cứu về chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục đã trình bày mối quan hệ giữa các yếu tố có khả năng tác động đến chỉ tiêu giáo dục của hộ gia đình sử dụng hàm tổng quát sau :
InHHEX = α + β + εiXi i ( 3.6 ) Trong đó
lnHHEX là giá trị logarit của chi tiêu cho giáo dục hàng năm của hộ gia đình
Xi là các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình.
βi là các hệ số hồi quy tương ứng, ε là sai số ước lượng i
Hầu hết các mô hình kinh tế được trình bày ở trên đều sử dụng dạng hàm logarit kép
để xác định mối quan hệ giữa chi tiêu cho một loại hàng hóa với tổng chi tiêu của
Trang 24hộ gia đình Mối quan hệ này được thể hiện qua việc lấy logarit cho giá trị của biến giải thích tổng chi tiêu của hộ gia đình và biến phụ thuộc chi tiêu cho một loại hàng hóa nào đó
Trong các mô hình nghiên cứu trên thì mô hình của Tilak ( 2002 ) là có nhiều
ưu điểm hơn cho việc xây dựng mô hình phù hợp vì có thể đưa cùng lúc nhiều biến vào mô hình để tăng tính giải thích cho sự biến thiên của biến phụ thuộc, đồng thYi còn tùy thuộc vào đặc điểm dạng số liệu của từng biến mà ta có thể biến đổi cùng dạng logarit với biến phụ thuộc, từ đó có thể tính hệ số co giãn nhằm tăng cưYng so sánh các hệ số ước lượng một cách thuận lợi
3.2.2 Mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết, mục tiêu của đề tài và đặc điểm nguồn dữ liệu, sử dụng mô hình nghiên cứu của Nguyễn Lưu Trung làm nền tảng để phân tích các yếu
tố tác động đến mức chi cho giáo dục của hộ dân cư ở ĐBSCL Trong nghiên cứu này tác giả cũng kỳ vọng các biến đặc điểm hộ gia đình, đặc điểm của chủ hộ, đặc điểm giáo dục của hộ và trợ cấp giáo dục có mối liên hệ đến chi tiêu học tập của hộ dân cư Đồng thYi do đặc điểm số liệu của các biến nên mô hình có hai biến được phân tích dưới dạng logarit là chi tiêu giáo dục và tổng thu nhập của hộ dân cư
Mô hình nghiên cứu đề xuất là:
LnEduexpense= β + β Sexhead + β Agehead + β Eduhead + β Marriedhead 0 1 2 3 4+ β Nation + β Size+ β Childsize + β Urban + β Region + β Income + ε 5 6 7 8 9 10
Trong đó:
β0 là hằng số
βi là các hệ số hồi quy ( i = 1,2,3 , , 9 )
ε là sai số
Bảng 3.1 Các biến trong mô hình nghiên cứu
Trang 25Giới tính chủ hộ Giới tính của chủ hộ
=1: nếu chủ hộ là nam
=0: nếu chủ hộ là nữ
Học vấn chủ hộ Số năm đi học của
3.2.3 Thống kê mô tả các biến
3.2.3.1.Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình:
Chi tiêu cho học tập của hộ dân cư trong 12 tháng qua được tính là:
+ Tất cả các khoản chi cho các thành viên có đi học cho những môn học nhà
trưYng như học phí theo quy định, học phí trái tuyến, các khoản đóng góp cho trưYng, lớp, quý phụ huynh học sinh, quỹ lớp, các khoản mua sắm vật dụng học tập như quần áo đồng phục trang phục, sách giáo khoa, sách tham khảo, dụng cụ học tập khác, chi phí học thêm cho môn học thuộc chương trình quy định, chi phí giáo dục khác như lệ phí thi, đi lại trọ, bảo hiểm thân thể học sinh sinh viên,
+ Chi phí học ngoài những môn học của nhà trưYng như ôn thi đại học, học
cắt may, cắt tóc làm đầu, trang điểm, sửa chữa xe máy, cắm hoa, nữ công gia chánh,đánh máy chữ, tốc ký, học các nghề truyền thống theo dạng thầy truyền nghề, trò
Trang 26học và làm công cho thấy, các lớp do các doanh nghiệp tự mở theo dạng kèm cặp trong thYi gian ngắn và không bằng cấp chứng nhận theo giáo dục nghề nghiệpcủa hệ thống giáo dục quốc dân
3.2.3.2 Giới tính của chủ hộ
Trong gia đình ở Việt Nam, ngưYi chủ gia đình thưYng là ngưYi có vai trò điều hành, quản lý, là ngưYi quyết định hầu hết mọi công việc của họ Chủ hộ thưYng là ngưYi có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được thông tin hầu hết các các hoạt động kinh tế cũng như thông tin của các thành viên khác Việt Nam là một quốc gia theo truyền thống văn hóa phương Đông thưYng quan niệm đàn ông là ngưYi xem trọng sự nghiệp, mong muốn được nắm giữ những vị trí quan trọng trong gia đình cũng như trong xã hội Họ nhận thức được rằng học tập sẽ giúp họ đạt được những gì họ mong muốn Nam giới giữ vai trò chủ hộ sẽ có những hành động khuyến khích các thành viên trong hộ học tập nhiều hơn NgưYi phụ nữ cũng chịu ảnh hưởng văn hóa lâu đYi, lại thưYng có xu hướng e ngại cạnh tranh và tham vọng ở các vị trí cao, từ đó sẽ dẫn đến không đặt đầu tư cho tri thức lên hàng đầu
Hộ gia đình có chủ hộ là nam giới nhiều hơn nữ giới
3.2.3.3 Dân tộc của chủ hộ
Có rất nhiều dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Ở ĐBSCL, dân tộc sinh sống chủ yếu là ngưYi Kinh,ngưYi Khmer, ngưYi Chăm, ngưYi Hoa NgưYi Khmer sống chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăng và ngưYi Chăm theo đạo Hồi sống
ở Tân Châu, An Giang NgưYi Hoa sống ở Sóc Trăng 64.910 ngưYi, tỉnh Kiên Giang 29.850 ngưYi, tỉnh Bạc Liêu 20.082 ngưYi (2009) Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17,667 triệu ngưYi vào năm 2016
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu dân tộc thiểu số ở ĐBSCL
Trang 27Mỗi dân tộc có những đặc điểm, phong tục tập quán, quan điểm sống và nhận thức khác nhau Do đó có sự khác biệt trong đYi sống giữa các dân tộc, trong đó có chi tiêu cho học tập Nghiên cứu của Đào Thị Yến Nhi ( 2013 ) , Nguyễn Thị Hồng Hạnh ( 2014 ) đều cho thấy biến dân tộc có mối liên hệ với chi tiêu cho giáo dục của
hộ, dân tộc của chủ hộ là Kinh hoặc Hoa thì chi tiêu cho giáo dục cao hơn các dân tộc khác
3.2.3.4 Học vấn của chủ hộ
Trình độ cao nhất về học vấn của chủ hộ được thể hiện qua bằng cấp đạt được tại thYi điểm thống kê số liệu Hộ gia đình có chủ hộ đạt trình độ từ tốt nghiệp cấp trung học phổ thông trở lên có 91 hộ, chiếm 46,67 % Nếu được giáo dục đào tạo bài bản thì ngưYi chủ gia đình sẽ nhận thức được vai trò, lợi ích mà giáo dục mang lại trong tương lai, từ đó sẽ mong muốn các thành viên trong hộ được học tập
và sẽ quyết định đầu tư cho giáo dục phù hợp Nghiên cứu của Trần Thanh Sơn (2012) cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ có tác động tích cực với mức chi tiêu cho giáo dục của hộ, chủ hộ có học vấn càng cao thì chi tiêu cho giáo dục càng nhiều Đào Thị Yến Nhi (2013) cũng cho thấy trình độ học vấn có tương quan dương với chi tiêu giáo dục của hộ, chủ hộ có học vấn càng cao thì thu nhập của họ càng cao, khả năng chi tiêu học tập cho các thành viên đang học trung học của hộ được gia tăng hơn Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2014), Nguyễn Minh Thuấn (2014), Khổng Tiến Dũng và Phạm Lê Thông (2014), Lê Thanh Tòng (2015) cũng đều cho thấy yếu tố học vấn cao nhất của chủ hộ có mối liên hệ với mức mức chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục
3.2.3.5 Tuổi của chủ hộ
Ngày nay, khi cuộc sống được nâng cao, ngưYi dân thưYng tập trung vào phát triển sự nghiệp vững vàng nên thưYng lập gia đình muộn hơn những ngưYi không có đi học cao và vì thế nhận thức của họ cũng cao hơn Tuổi của chủ hộ là nhân tố thể hiện tuổi đYi của chủ hộ tại thYi điểm khảo sát Trong nghiên cứu đã chothấy rằng các chủ hộ mà có tuổi càng cao thì sẽ chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn các
hộ gia đình ít tuổi hơn
3.2.3.6 Tình trạng hôn nhân
Tình trạng hôn nhân của chủ hộ cũng là một trong những tác nhân tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Hộ gia đình với chủ hộ có đầy đủ vợ chồng họsẵn lòng chi tiêu giáo dục nhiều hơn hộ gia đình với chủ hộ đơn thân Chủ hộ đơn thân chỉ có một nguồn thu nhập duy nhất, trong khi hộ gia đình có đầy đủ vợ/chồng
có thêm sự hỗ trợ thu nhập từ ngưYi vợ/chồng còn lại Kết quả nghiên cứu cho thấy
hộ gia đình có bố mẹ đơn thân chi tiêu cho giáo dục của con trẻ ít hơn hộ gia đình
Trang 28có đầy đủ bố mẹ Tình trạng hôn nhân còn đầy đủ vợ/chồng của chủ hộ được kỳ vọng sẽ có tác động tích cực đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình.
3.2.3.7 Khu vực sinh sống của hộ:
Khu vực sinh sống của hộ gia đình thế hiện ở địa chỉ đăng ký thưYng trú của
hộ và địa chỉ này năm ở khu vực nông thôn hay thành thị Các hộ gia đình sống ở vùng thành thị sẵn lòng chi cho giáo dục nhiều hơn các hộ sống ở nông thôn Do sự khác biệt về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, cũng như các điều kiện về cơ sở vật chất như đưYng xá, trưYng học Ngoài ra, ở thành thị không những có nhiều trưYng, lớp khác nhau để lựa chọn mà còn có nhiều các trung tâm đào tạo các kỹ năng khác
Trong mẫu quan sát thì hộ dân cư sống ở khu vực thành thị là chủ yếu, chiếm88,20 % Và theo Nguyễn Minh Thuận (2014) thì chi tiêu giáo dục của hộ dân cư sống ở khu vực thành thị chi tiêu cho giáo dục cao hơn vùng nông thôn Ở thành thị thành viên đi học của họ có nhiều cơ hội tiếp cận với dịch vụ giáo dục phong phú đadạng hơn và giá dịch vụ cũng cao hơn vùng nông thôn
3.2.3.8 Qui mô hộ gia đình
Quy mô hộ gia đình là tổng số ngưYi trong một hộ Quy mô hộ gia đình cũng
có thể ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Khi hộ gia đình có càng nhiều thành viên thì chi phí cho giáo dục của hộ càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu học của các thành viên Tuy nhiên, chi phí cho giáo dục của hộ gia đình tăng vì quy
mô hộ gia đình lớn lại gánh nặng nhân khẩu khi đó làm chi phí cho giáo dục tăng theo hướng tiêu cực
3.2.3.9 Thu nhập của chủ hộ
Thu nhập của hộ dân cư là tổng nguồn thu từ tiền công, tiền lương của các thành viên trong hộ, của tất cả các hoạt động kinh tế của hộ và các nguồn thu khác của hộ gia đình Nghiên cứu của Khổng Tiến Dũng và Phạm Lê Thông ( 2014 ) đều cho thấy thu nhập có mối quan hệ cùng chiều với chi tiêu cho học tập, trong điều kiện không thay đổi các yếu tố khác thì khi thu nhập tăng thì chi tiêu cho giáo dục của họ cũng tăng
3.2.3.10 Chi tiêu bình quân hộ gia đình
Trong các nghiên cứu trên, hầu hết các nhà nghiên cứu khi để cập đến nhân
tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình thì luôn cho rằng thu nhập của hộ gia đình nên xem xét đầu tiên Thu nhập của hộ gia đình có ảnh hưởng tích cực đến chi tiêu giáo dục của hộ Tuy nhiên, ở Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, việc sử dụng biến thu nhập để khảo sát ảnh hưởng đến chi tiêu
Trang 29cho giáo dục thưYng không thật sự khách quan Việc thống kê số liệu liên quan đến thu nhập thưYng không chính xác do tính minh bạch trong vấn đề kê khai, ngưYi ta thưYng kê khai không đúng về thu nhập của mình Vì vậy mà hầu hết các nghiên cứu liên quan đến thu nhập thưYng sử dụng biến chi tiêu để thay thế Việc điều tra
số liệu về chi tiêu sẽ dễ dàng hơn và chính xác hơn Tổng chi tiêu còn thể hiện khả năng thanh toán thực tế và phụ thuộc vào thu nhập thực tế của hộ gia đình Với nhân
tố này, chúng ta kỳ vọng rằng hộ gia đình có tổng chi tiêu hay chi tiêu bình quân càng cao thì cũng chi tiêu cho giáo dục càng cao và ngược lại
3.2.3.11 Số thành viên đi học của hộ:
Số thành viên đi học của họ là số trẻ từ 3 đến 18 tuổi đang đi học và số thànhviên trên 18 tuổi vẫn còn được gia đình chu cấp kinh phí để đi học Mẫu nghiên cứu
hộ gia đình có 1 trẻ đi học là nhiều nhất chiếm 56,41 %, những hộ có 2 trẻ đi học, chiếm 36,92 %, còn lại là những hộ có 3,4 trẻ đi học
Theo nghiên cứu, số ngưYi đang đi học của hộ là yếu tố có tác động nhiều nhất đến mức chi tiêu cho giáo dục của hộ, có quan hệ cùng chiều với chi tiêu giáo dục, khi
hộ gia đình có thêm một ngưYi đi học ở bất kỳ cấp học nào thì đều có xu hướng làmgia tăng mức chi tiêu của hộ cho giáo dục
3.2.3.12 Ý thức giáo dục của chủ hộ
Ý thức giáo dục của chủ hộ thể hiện ở việc nhận thức được vai trò, lợi ích của học tập đối với mỗi cá nhân, gia đình và xã hội, từ đó chủ hộ luôn xác định và quyết tâm là sẽ đầu tư cho con cái học hành đến nơi đến chốn, kỳ vọng là con cái sẽ
có được công việc tốt hơn và thu nhập cao hơn trong tương lai Chủ hộ có ý thức về giáo dục chiếm 56,92 % mẫu quan sát Khi ngưYi chủ hộ đã có ý thức giáo dục thì
dù thu nhập của hộ nhiều hay ít, họ vẫn sẽ ưu tiên hơn phần thu nhập của hộ cho chiphí học tập cho các thành viên trong hộ
3.2.3.13 Chi tiêu cho y tế
Chi tiêu cho y tế là một loại chi tiêu đặc biệt Ngoài chi cho các loại bảo hiểm thì các chi tiêu cho y tế khác đểu không do mong muốn của ho gia đình Chi phí để khám, chữa bệnh thưYng rất cao, đôi khi làm khánh kiệt kinh tế của hộ gia đình Xem xét ảnh hưởng của chi tiêu y tế đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình nhằm làm sáng tỏ liệu một trẻ mà có chi phí cho y tế cao thì chi tiêu cho giáo dục có giảm hay không? Ngoài ra, biến bảo hiểm y tế cũng được đưa vào mô hình
để xem xét khi hộ gia đình mua bảo hiểm cho trẻ thì chi tiêu cho y tế có tăng hay giảm và từ đó ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục như thế nào?
3.2.3.14 Chi tiêu cho thực phẩm