- Ý tưởng: Vấn đề công nhận hôn nhân đồng giới ở nước ta là không nên bởi vì hôn nhân đồng giới đem lại những ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội: Đầu tiên là về pháp luật, hôn nhân đồng giới
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
NG ĐẠI HỌC LUẬT _
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Chủ đề 3:
Có ý kiến cho rằng nên công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng
hộ/phản đối ý kiến trên.
Hà Nội – 2021
L L N
602 N07.TL2
6 (Quan điểm phản đối)
Trang 2BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM Nhóm: 06
Lớp: 4602(N07.TL2)
Chủ đề tranh biện: Có ý kiến cho rằng nên công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam Với kiến thức về Luật hiến
pháp, hãy lập luận để ủng hộ/phản đối ý kiến trên
1 Kế hoạch làm việc của nhóm 1
- Quan điểm của nhóm: Không ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam
- Ý tưởng: Vấn đề công nhận hôn nhân đồng giới ở nước ta là không nên bởi vì hôn nhân đồng giới đem lại những ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội: Đầu tiên là về pháp luật, hôn nhân đồng giới là không phù hợp với quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam, nếu hợp pháp hóa nó thì sẽ làm cho hệ thống pháp luật bị xáo trộn, gây ra nhiều hậu quả pháp lý nặng nề Thứ hai hôn nhân đồng giới không mang lại lợi ích cho xã hội Không chỉ vậy hôn nhân đồng giới còn đi ngược lại với chuẩn mực về gia đình truyền thống, đảo lộn văn hóa xã hội Tiếp theo nó còn gây ra sự lệch lạc tư tưởng, nhận thức của xã hội, trong đó có một bộ phận không nhỏ là giới trẻ Cùng với đó là vô vàn hệ lụy tiêu cực khác
- Các bước thực hiện:
+ Bước 1: Xác định vấn đề
+ Bước 2: Phân tích vấn đề và đóng góp ý tưởng
+ Bước 3: Phân công nhiệm vụ
+ Bước 4: Thực hiện
1 Trình bày rõ ý tưởng và các bước để hoàn thành công việc nhóm
Trang 32 Phân chia công việc và họp nhóm
T Họ và tên Công việc thực hiện
Tiến độ thực hiện (đúng
Kết luận Xếp loại 2
Có Không Không
tốt
Trung Bình Tốt
Tham gia đầy đủ
Tích cực sôi nổi
Đóng góp nhiều ý tưởng
1 Vừ A Thào Phân tích và giải
2 Lê Thị Thanh Thảo Phân tích và giải
3 Trần Minh Thu Phân tích và giải
4 Đỗ Minh Thư Làm phần khái quát
5 Nguyễn Đức Tiến Nhóm trưởng (Phụ
6 Vũ Quỳnh Trang Phân tích và giải
7 Đinh Văn Tuấn Phân tích và giải x x x x A
2 Có ba mức xếp loại: A: Tốt; B: Khá; C: Trung bình
Trang 4quyết lập luận 3
8 Nguyễn Thị Uyên Phân tích và giải
9 Nguyễn Thị Thu
Vân
Phân tích và giải
10 Trần Thị Ngọc Yến Phân tích và giải
11 Oulaivanh
Khounnolath
Làm phần khái quát
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2021
Nhóm trưởng (ký và ghi rõ họ tên)
Tiến Nguyễn Đức Tiến
Trang 5PHIẾU CHẤM ĐIỂM TRANH BIỆN – KHÓA 46 VB1CQ
Nhóm:06
Lớp:4602
Chủ đề tranh biện: Có ý kiến cho rằng nên công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt
Nam Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ/phản đối ý kiến trên.
Giảng viên chấm: ………
(Ghi rõ họ tên và ký)
đa
Điểm đánh giá của giảng viên
Ghi chú
Nội dung bài
tranh biện
Nắm rõ chủ đề tranh biện, thể hiện rõ ràng
quan điểm ủng hộ/phản đối
3
Các lập luận có liên quan đến luận điểm
chính; logic và chặt chẽ
Thông tin đưa ra rõ ràng và chính xác
Có sử dụng số liệu, ví dụ minh hoạ cho luận
điểm, có độ tin cậy cao
Hình thức
trình bày
Bố cục hợp lý, rõ ràng, dễ theo dõi… 1
Lỗi chính tả và văn phạm
Hình ảnh, clip, biểu đồ hấp dẫn và thu hút
Có trích dẫn nguồn tài liệu tham khảo
Buổi tranh
biện
Phong cách thuyết trình tự tin, linh hoạt, năng
động, cuốn hút
4
Nhóm tranh biện có sự phối hợp trong thời
gian thuyết trình và trả lời tranh biện
Nhóm tranh biện nắm vững nội dung trình bày
nội dung một cách thuyết phục
Tranh luận đúng chừng mực và kiểm soát
được cảm xúc trong tranh biện
Đúng thời gian
Các lập luận phản bác chính xác, phù hợp và
mạnh mẽ
Trả lời được các câu hỏi của các nhóm quan
sát
Theo dõi và
nhận xét các
cặp tranh
biện khác
Đặt câu hỏi có liên quan đến chủ đề tranh biện 2
Nhận xét về tính thuyết phục và kỹ thuật tranh
biện cuốn hút
Trang 6A MỞ ĐẦU
Hôn nhân đồng giới là vấn đề nhạy cảm không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới Các cuộc tranh cãi giữa hai bên ủng hộ
và phản đối ngày càng trở nên gay gắt Hiện nay, Việt Nam là một trong nhiều nước chưa hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới Bà Trương Thị Mai - Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc
hội cho biết: “Thường trực Ủy ban tán thành với quy định không
thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính và thấy rằng, thời điểm này trong xã hội vẫn còn những ý kiến khác nhau
về vấn đề này” Từ kiến thức về pháp luật và xã hội, nhóm 6 xin
trình bày quan điểm phản đối việc hợp pháp hôn nhân đồng giới tại Việt Nam
B NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG
1 Hôn nhân và hôn nhân đồng giới.
1.1 Hôn nhân: Hôn nhân là sự kết hợp giữa một nam và một nữ dựa trên yếu
tố tình cảm, tự nguyện, ràng buộc với nhau về pháp lý, xã hội nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình, duy trì nòi giống Trong Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, tức là sau khi nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn
1.2 Hôn nhân đồng giới: Hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa hai người
cùng giới tính sinh học hoặc giới tính xã hội Họ tìm thấy ở những người cùng giới tính sự yêu thương, đồng cảm
1
Trang 72 Hôn nhân đồng giới trên thế giới.
Cho đến thời điểm hiện tại, có 30 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới Gần đây nhất, vào ngày 07/12/2021, Chile đã[1] thông qua dự luật hôn nhân đồng giới Ở Châu Á, Đài Loan là vùng lãnh thổ duy[2] nhất công nhận hôn nhân đồng giới Hiện nay, việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng[3] giới vẫn là vấn đề gây tranh cãi ở nhiều quốc gia
3 Quy định pháp luật Việt Nam về hôn nhân đồng giới.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, pháp luật nước ta không cấm hôn nhân cùng giới Cụ thể, Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rất rõ: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Bằng việc “không thừa nhận”, Nhà nước Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm, lập trường của mình về vấn đề này So với “cấm”, “không thừa nhận” nhẹ nhàng, nhân văn, nhân đạo hơn nhưng không có nghĩa là cho phép người đồng giới được đăng
ký kết hôn
II NỘI DUNG TRANH BIỆN
1 Lập luận 1: Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới là đi ngược lại với
pháp luật của nước ta và có thể gây ra nhiều hệ quả tiêu cực về mặt pháp lý.
* Cơ sở lập luận :
- Khoản 1 Điều 36 Hiến pháp năm 2013
- Khoản 3, Điều 15 Hiến pháp năm 2013
- Khoản 4, Điều 15 Hiến Pháp 2013
- Khoản 2, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
- Khoản 16, Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014
- Khoản 5, Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
- Điểm G, Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
* Phân tích lập luận :
- Luật pháp nước ta không thừa nhận hôn nhân đồng giới: Không thừa nhận
có nghĩa rằng pháp luật không công nhận giữa những người đồng giới đăng ký kết hôn tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay được coi như vợ - chồng với các
quyền và nghĩa vụ tương ứng Khoản 1 điều 36 hiến pháp 2013 quy định: “Nam,
2
Trang 8nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” Do vậy nếu quy định về kết
hợp dân sự (giữa hai người cùng giới) thì sẽ là vi hiến, bởi kiểu kết hôn này sẽ không có cả vợ và chồng hay không có ai là vợ, cũng không có ai là chồng Theo các nguyên tắc quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi, phải vừa xuất phát
từ thực tế khách quan vừa xuất phát từ bản chất
- Nếu công nhận hôn nhân đồng giới sẽ đem đến nhiều hậu quả tiêu cực trên phương diện pháp lý.
Hôn nhân đồng giới mang lại nhiều bất cập trong việc xây dựng các quy định
về pháp luật: Dưới góc độ pháp lý, nếu thừa nhận hôn nhân đồng giới thì sẽ phải sửa đổi, bổ sung tất cả các quy định liên quan trong hệ thống pháp luật, như xác định quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, xác định cha, mẹ con Cùng với đó là các vấn đề sửa đổi hộ tịch sẽ phát sinh, gây ra việc khó khăn trong việc thực thi, quản
lý Một ví dụ cụ thể là trường hợp phải thay đổi hệ thống vai vế, xưng hô, vị trí giữa các thành viên trong gia đình như việc sẽ xuất hiện anh dâu và em gái rể, Đây vốn không phải cách xưng hô quen thuộc tại các gia đình Việt Nam và người dân có thể không thích nghi với sự thay đổi của pháp luật
Hôn nhân đồng giới sẽ gây ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình trong tương lai do nó không thể thực hiện chức năng sinh sản một cách trực tiếp mà cần đến sự hỗ trợ của sinh sản nhân tạo
Hôn nhân đồng giới tạo điều kiện cho việc mang thai hô „ vì mục đích thương mại trở nên rộng rãi và phổ biến và điều này là trái với pháp luật Việt Nam.[4] Những că „p đôi đồng giới kết hôn với nhau do không thể thực hiện sinh sản một cách trực tiếp nên họ sẽ tìm đến những biê „n pháp khác như sinh con bằng kĩ thuâ „t sinh sản, nhờ người khác đẻ thuê, mang thai hộ, Như vậy ở đây họ đang coi việc mang thai là thiên chức cao cả của một người mẹ như một cái nghề để kiếm tiền, người mẹ trở thành công cụ sản xuất và biến những đứa trẻ trở thành những món hàng hóa
3
Trang 9Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới sẽ ảnh hưởng đến trách nhiệm của những cá nhân không tham gia xây dựng hôn nhân dị tính đối với xã hội Công dân thực hiện nghĩa vụ với xã hội đồng thời cũng phải thực hiện nghĩa vụ trên phương diện gia đình, phát huy những chức năng cơ bản của gia đình như sinh sản, phát huy truyền thống dòng họ,… Đây là điều mà hôn nhân đồng giới không thể làm được
* Kết luận: Như vậy việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới có thể dẫn đến
nhiều hậu quả tiêu cực về mặt pháp lý đồng thời cũng kéo theo các vấn đề xáo trộn khác trong hệ thống pháp luật Hiện nay, pháp luật nước ta chưa đủ khả năng
để có thể xử lý được những hậu quả đó Vì thế, chưa thể công nhận và thông qua luật hôn nhân đồng giới
2 Lập luận 2: Hôn nhân đồng giới không thể được công nhận vì nó không
những không thể thực hiện được các chức năng cơ bản của gia đình mà còn xâm phạm đến lợi ích xã hội.
* Cơ sở lập luận:
- Theo góc nhìn xã hội, thì khái niệm hôn nhân không chỉ được dùng để đánh dấu kết quả của một mối quan hệ mà nó còn mang trong mình nhiều ý nghĩa lớn lao Hôn nhân là để xây dựng lên một gia đình và từ gia đình đó thực hiện các chức năng đối với xã hội Trong đó có những chức năng vô cùng quan trọng mà chỉ có gia đình bắt nguồn từ hôn nhân dị tính mới có thể thực hiện được
- Khoản 2 Điều 36 Hiến Pháp 2013.
- Khoản 1 Điều 37 Hiến Pháp 2013
- Khoản 4 Điều 15 Hiến Pháp 2013.
- Khoản 3 Điều 5 Luật Trẻ em
* Phân tích lập luận:
- Hôn nhân đồng giới không đảm bảo khả năng sinh sản Điều này làm giảm
tỉ lệ sinh Hiện nay, dân số Việt Nam đang ở trong giai đoạn vàng Tuy nhiên, tỉ lệ gia tăng dân số đang giảm.Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009 – 2019
là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn 1999 – 2009 (1,18%/năm).[5]Do đó nếu tình trạng này kéo dài 20-30 năm nữa lực lượng lao động trong xã hội sẽ bị ảnh
4
Trang 10hưởng rất lớn Đối với một nước đang phát triển vẫn còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế và cần tới nguồn cung lao động lớn thì việc thiếu hụt nguồn nhân lực là không thể chấp nhận và về lâu dài sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của đất nước
- Hôn nhân đồng giới không thể đảm đương trọng trách nuôi dưỡng con cái.
Hôn nhân đồng giới không thể đảm đương được vai trò nuôi dưỡng trẻ em Những đứa trẻ sống trong gia đình đồng giới chắc chắn sẽ bị thiếu đi cha hoặc mẹ Quá trình nuôi dưỡng những đứa trẻ khó khăn hơn Nếu Chính phủ chấp nhận hôn nhân đồng giới, đó sẽ là hành vi tước đoạt cha mẹ có chủ ý Đó là hành vi phạm tội đối với trẻ em, và pháp luật trở thành công cụ buộc một đứa trẻ phải sống mà không có một người mẹ hoặc cha Ngoài ra, trong một bài viết đăng trên trang Enewamerica, giáo sư, tiến sĩ xã hội học Tryce Hansen khẳng định hôn nhân đồng giới thực sự không tốt cho trẻ em Nhà xã hội học đã viện dẫn các luận chứng, luận
cứ chứng minh rằng môi trường tốt nhất và lý tưởng nhất cho sự phát triển của trẻ
em là một gia đình có cha và mẹ theo đúng nghĩa
Những đứa trẻ lớn lên trong gia đình có hôn nhân đồng giới sẽ dễ bị sai lệch trong xu hướng phát triển Trang Social Science Research đăng một nghiên cứu của ông Mark Regnerus, giáo sư ngành xã hội học, ĐH Texas cho thấy, hơn 50% trẻ được nuôi dạy trong gia đình đồng tính có xu hướng mô tả bản thân là người đồng tính, lưỡng tính hoặc vô tính Như vậy, trẻ em được nuôi dạy trong gia đình[6] đồng giới sẽ dễ dàng gặp các tình trạng như không xác định rõ giới tính, vô tình khuyến khích những hành vi không đúng về tình dục ở trẻ vị thành niên, nghiêm trọng hơn, trẻ em khi đối mặt với sự kì thị, trêu trọc từ bạn bè có thể hình thành tâm lý bất mãn, nổi loạn Khảo sát cũng ghi nhận, những đứa bé lớn lên trong gia đình đồng giới nữ có ý định tự tử cao gần gấp hai lần (12%) so với những gia đình
* Kết luận: Nếu hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới tức là đặt vấn đề quyền
của tự do người đồng giới lên trên quyền trẻ em và lợi ích chung của xã hội Pháp luật bắt nguồn từ đời sống xã hội phải phù hợp với thực tiễn để quản lý xã hội Do
đó vì sự tồn tại và phát triển đất nước, chúng ta không chấp nhận việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới
5
Trang 113 Lập luận 3: Không thể công nhận hôn nhân đồng giới vì nó sẽ phá hủy
truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta.
* Cơ sở lập luận:
- Nước ta là một đất nước với nền văn hiến lâu đời mang đậm nét văn hóa Á
Đông Vì vậy nên nếu chúng ta công nhận hôn nhân đồng giới sẽ làm mất đi bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của nước ta
- Khoản 5 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình 2014
* Phân tích lập luận:
- Hôn nhân đồng giới là đi ngược lại với quan niệm về hôn nhân truyền thống, trái với văn hóa của nước ta.
Hôn nhân truyền thống Việt Nam là sự kết hợp của nam và nữ sau một thời gian tìm hiểu và được sự đồng thuận của hai bên gia đình, họ sẽ quyết định tổ chức hôn lễ Theo phong tục Việt, cái gốc của gia đình gọi là hôn nhân, có hôn nhân mới
có vợ chồng và con cái Bởi vậy, hôn nhân theo truyền thống của người Việt phải là
sự liên kết giữa nam và nữ trong đó người nam được gọi là chồng, người nữ được gọi là vợ, và nam, nữ sau khi kết hôn phải xây dựng một gia đình mẫu mực, thực hiện nghĩa vụ quan trọng nhất là sinh đẻ và nuôi dạy con cái Chính nhờ vậy, những giá trị truyền thống của dân tộc không bị phai nhạt và trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của người Việt Trong khi đó, hôn nhân đồng giới dường như đang đi ngược lại quan niệm hàng ngàn năm của đất nước, vì sự ích kỷ của cá nhân mà bất chấp tư tưởng truyền thống, làm loãng đi bản sắc văn hóa dân tộc trên phương diện hôn nhân
Hôn nhân đồng giới không phù hợp với nét văn hóa của gia đình Á Đông -nền văn hóa hình thành gia đình là sự hòa hợp âm dương Do đó, nếu như thiếu một trong hai xu hướng giới tính trong một gia đình thì nó sẽ ngược lại với truyền thống, làm xã hội trở nên mất cân bằng
- Hôn nhân đồng giới ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Quan
điểm này chủ yếu dựa trên nguyên tắc bảo vệ các giá trị về văn hóa, thuần phong
mỹ tục của dân tộc Việt Nam Hôn nhân đồng giới mang tư tưởng mới lạ, thoáng đạt, phổ biến rộng rãi ở các nước Châu Âu, tuy nhiên khi hiện tượng này du nhập
6
Trang 12vào Việt Nam tạo ra trào lưu văn hóa độc hại làm mất đi bản sắc dân tộc Điều này ảnh hưởng nền văn hóa Việt Nam, tác động tiêu cực đời sống tinh thần đặc biệt là thế hệ trẻ Sự đồng nhất này làm thay đổi thói quen, thị hiếu, dễ tự “đánh mất” gốc gác văn hóa, truyền thống, lịch sử ông cha ta
* Kết luận: Pháp luật nước ta quy định về việc kế thừa và phát huy truyền
thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, nhưng hôn nhân đồng giới có thể xóa mòn, làm mất đi truyền thống tốt đẹp đó Hơn nữa ở một quốc gia mang đậm nền văn hóa Á Đông, nơi mà gia đình là nền tảng của xã hội thì việc không công nhận hôn nhân đồng giới là hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh đất nước hiện nay
4 Lập luận 4: Hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Việt Nam hiện nay là
không khả thi vì vẫn còn nhiều bất cập trong vấn đề nhận thức và tư tưởng.
* Cơ sở lập luận:
- Nghiên cứu khoa học của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam về tỷ lệ
chấp nhận hiện tượng kết hôn đồng giới theo nơi cư trú
- Thực tế nước ta hiện nay, hôn nhân đồng giới không còn quá xa lạ, thậm chí trong thời gian gần đây nó còn trở thành trào lưu của giới trẻ Vậy việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới vô hình chung sẽ trở thành bàn đạp để xã hội chạy theo trào lưu của những người đồng tính
* Phân tích lập luận:
- Hiện nay phần lớn người dân Việt Nam chưa chấp nhận hôn nhân đồng giới Vì vậy nếu hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Việt Nam sẽ gây ra bất bình
và phản đối trong xã hội.
Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới cần đến sự thay đổi Hiến pháp và điều này cần thông qua lấy ý kiến người dân Hiện nay có 30/204 quốc gia và vùng lãnh thổ công nhận hôn nhân đồng giới, đây là một con số còn khá khiêm tốn, chưa đủ sức để tác động đến toàn dân Việt Nam Theo 1 nghiên cứu khoa học của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam cho thấy rằng Việt Nam có tỉ lệ chấp nhận rất thấp,
dè dặt đối với vấn đề kết hôn đồng giới Cụ thể theo từng khu vực, nông thôn 20,6%; thành thị 37,2%; duyên hải miền núi phía Bắc 20,8%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 30,1%; Tây Nguyên 15,8%; Đông Nam Bộ 38,3%; đồng
7