Biểu hiện của phạm trù nguyên nhân và kết quả trong vấn đề: Ô nhiễm không khí ở Việt Nam hiện nay 8 III.. Biểu hiện của mối quan hệ biện chứng giữa phạm trù nguyên nhân và phạm trù kết q
Trang 1BTN Triếết h c Mác - Lếnin ọ BỘ TƯ PHÁP Nhóm 1 l p 4621 ớ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
Môn: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
-* -Chủ đề 02: Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù: “nguyên nhân và kết quả”, hãy vận dụng để nhận thức và giải
quyết một vấn đề của thực tiễn.
Lớp: 4621 Nhóm: 01
Hà Nội – 2021
Trang 2BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM
STT Họ và tên Công việc
thực hiện
Tiến độ thực hiện (đúng hạn) Mức độ hoàn thành Họp nhóm
Kết luận Xếp loại1
Có Không Khôngtốt TrungBình Tốt
Tham gia đầy đủ
Tích cực sôi nổi
Đóng góp nhiều ý tưởng
1 Lê Thị Thúy An
2 Hoàng Ngọc Anh
3 Nguyễn Đức Anh
4 Phùng Thị Ngọc
Anh
5 Sa Vũ Quỳnh Anh
6 Đỗ Kim Chi
7 Trần Thị Chuyền
8 Nguyễn Thị Thùy
Dung
1 Có ba mức xếp loại: A: Tốt; B: Khá; C: Trung bình
0
9 Phạm Thùy Dung
10 Trần Thùy Dương
11 Giáp Mạnh QuangĐức
Hà Nội, ngày …… tháng … năm 2022
Nhóm trưởng
(ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3MỤC LỤC
B NỘI DUNG LÝ THUYẾT VỀ CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN –
KẾT QUẢ
3
II Mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả 3 III Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả 5
C VẬN DỤNG ĐỂ NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT MỘT VẤN ĐỀ
THỰC TIỄN: Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
6
I Thực trạng vấn đề ô nhiễm không khí tại Việt Nam hiện nay 6
II Biểu hiện của phạm trù nguyên nhân và kết quả trong vấn đề: Ô nhiễm không khí ở Việt Nam hiện nay
8
III Biểu hiện của mối quan hệ biện chứng giữa phạm trù nguyên nhân và phạm trù kết quả trong vấn đề: ô nhiễm không khí tại Việt Nam hiện nay
11
IV Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả
trong vấn đề ô nhiễm không khí ở Việt Nam hiện nay
14
A THÔNG TIN NHÓM
Chủ đề 02: Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù:
“nguyên nhân và kết quả”, hãy vận dụng để nhận thức và giải quyết một vấn đề của thực tiễn
Dung lượng: 13 trang (phần nội dung BTN tính từ trang 3 đến trang 15 và
không tính mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục)
Lớp: 4621
Nhóm: 01
Thành viên nhóm/vai trò:
1 Lê Thị Thúy An : Nhóm trưởng
2 Hoàng Ngọc Anh : Thành viên nhóm
3 Nguyễn Đức Anh : Thành viên nhóm
4 Phùng Thị Ngọc Anh : Thành viên nhóm
5 Sa Vũ Quỳnh Anh : Thành viên nhóm
6 Đỗ Kim Chi : Thành viên nhóm
7 Trần Thị Chuyền : Thành viên nhóm
8 Nguyễn Thị Thùy Dung : Thành viên nhóm
9 Phạm Thùy Dung : Thành viên nhóm
Trang 410 Trần Thùy Dương : Thành viên nhóm
11 Giáp Mạnh Quang Đức : Thành viên nhóm
B NỘI DUNG LÝ THUYẾT VỀ CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ
I Khái niệm
Phạm trù triết học là hình thức hoạt động trí óc phổ biến của con người, là những
mô hình tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn có ở tất cả các đối tượng hiện thực
Các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật khái quát thành các cặp phạm trù cơ bản Tính cặp đôi của các phạm trù thể hiện sự phản ánh biện chứng tính thống nhất và đấy tranh giữa các mặt đối lập của thế giới khách quan
* Cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả
- Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định
- Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương
tác giữa các yếu tố mang tính nguyên nhân gây ra
- Mối liên hệ giữa hai phạm trù triết học này tạo nên cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả
II Mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả
- Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan; tính tất yếu; tính phổ biến:
thân sự vật, hiện tượng, không phụ thuộc vào ý thức con người Con người dù biết hay không biết, thì các sự vật, hiện tượng vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất định Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và biến đổi, tức là mối liên hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình
Trang 5+ Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa
kiện giống nhau sẽ gây nên kết quả như nhau Tuy nhiên trên thực tế cần phải hiểu tính tất yếu của mối quan hệ nhân quả là: Nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu
a) Nguyên nhân sinh ra kết quả; có trước kết quả
- Tuy nhiên không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan hệ nhân quả Cái phân biệt quan hệ nhân quả với quan hệ kế tiếp nhau về mặt thời gian là ở chỗ nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh ra nhau
- Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Mặt khác, một nguyên nhân trong nhiều điều kiện khác nhau cũng có thể sinh ra những kết quả khác nhau Nếu nhiều nguyên nhân cùng tồn tại và tác động cùng chiều trong một sự vật thì chúng sẽ gây ảnh hưởng cùng chiều đến sự hình thành kết quả, làm cho kết quả xuất hiện nhanh hơn Ngược lại, nếu những nguyên nhân tác động đồng thời theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở tác dụng của nhau, thậm chí triệu tiêu nhau Do vậy, trong thực tiễn cần phải phân tích vai trò của từng loại nguyên nhân, để có thể chủ động tạo ra điều kiện thuận lợi cho những nguyên nhân quy định sự xuất hiện của kết quả (mà ta mong muốn) phát huy tác dụng
b) Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau
- Quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ nhân quả không cứng nhắc, tĩnh lại Trong quá trình vận động và phát triển, nguyên nhân có thể chuyển hóa thành kết quả Cái mà ở thời điểm hoặc trong mối quan hệ khác lại là kết quả; còn kết quả lại trở thành nguyên nhân, nhưng đã ở trong các mối quan hệ khác, thành nguyên nhân loại khác: nguyên nhân sinh ra kết quả, kết quả cũng tác động lại nguyên nhân – chúng cũng nằm trong sự tương tác biện chứng Trong khi là hiện tượng tích cực, nguyên nhân tác động lên hiện tượng khác thụ động và gây ra trong
Trang 6nó những biến đổi – tức là kết quả, nhưng kết quả cũng thể hiện sự phản tác động
và từ hiện tượng thụ động chuyển hóa thành tích cực Kết quả không thể là nguyên nhân của chính nguyên nhân gây ra nó Nhưng nếu bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng có nguyên nhân của nó thì cũng không có nghĩa là mỗi sự vật, hiện tượng chỉ
do một nguyên nhân sinh ra Trên thực tế, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, do vậy sự phân loại nguyên nhân thành nguyên nhân chủ yếu, thứ yếu, bên trong, bên ngoài … đối với một kết quả vừa mang ý nghĩa lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
III Ý nghĩa phương pháp luận
nhân quyết định, thì để nhận thức được sự vật, hiện tượng ấy nhất thiết phải tìm ra nguyên nhân xuất hiện; muốn loại bỏ sự vật, hiện tượng không cần thiết, thì phải loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó
nguyên nhân cần tìm ở các sự vật, hiện tượng mối liên hệ đã xảy ra trước khi nó xuất hiện Trong thời gian hoặc trong mối quan hệ nào đó, vì nguyên nhân và kết quả có thể đổi chỗ cho nhau, chuyển hóa lẫn nhau nên để nhận thức được tác dụng của một sự vật, hiện tượng và để xác định phương hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn cần nghiên cứu sự vật hiện tượng mà nó giữ vai trò kết quả, cũng như trong mối quan hệ mà nó giữ vai trò nguyên nhân, sản sinh ra những kết quả nhất định
định, nên khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng đó không vội kết luận về nguyên nhân nào đó đã sinh ra nó; khi muốn gây ra một sự vật, hiện tượng có ích trong thực tiễn cần phải lựa chọn phương pháp thích hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể chứ không nên rập khuôn Vì cũng có nhiều loại nguyên nhân nên trong nhận thức và
hành động cần dựa vào nguyên nhân chủ yếu và bên trong
C VẬN DỤNG ĐỂ NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRÊN THỰC TIỄN
I Thực trạng vấn đề ô nhiễm không khí ở Việt Nam
Trang 7Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí đang là vấn đề nhức nhối của thế giới
và Việt Nam cũng không là ngoại lệ Theo Báo cáo thường niên về chỉ số môi trường (The Environmental Performance Index - EPI) do tổ chức Môi trường Mỹ thực hiện, Việt Nam chúng ta là một trong 10 nước ô nhiễm môi trường không khí hàng đầu Châu Á Tiêu biểu là ô nhiễm bụi (PM 10, PM 2.5)
Theo báo cáo năm 2018 của Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), giao thông vận tải đóng góp 24.34% lượng khí thải carbon mỗi năm Xét riêng lĩnh vực giao thông vận tải, các loại ô tô hạng nhẹ, ô tô tải và ô tô bus lần lượt chiếm 44%, 27% và 6% lượng khí thải carbon mỗi năm Các phương tiện giao thông cơ giới sử dụng nhiên liệu hóa thạch như xăng và dầu diesel, quá trình đốt cháy nhiên liệu dẫn tới phát sinh nhiều loại khí thải như SO2, NO2, CO, bụi (TSP, PM10, PM2.5); thậm chí rò
rỉ, bốc hơi nhiên liệu khi vận hành phát sinh VOC, Benzen, Toluen Đến tháng 02 năm 2020, toàn quốc có tổng số 3.553.700 xe ô tô và khoảng 45 triệu xe máy đang lưu hành Trong đó, Hà Nội có gần 6 triệu xe máy, Thành phố Hồ Chí Minh có hơn
8 triệu xe máy lưu thông hàng ngày, chưa tính đến các phương tiện giao thông của người dân từ các địa phương khác đi qua Trong số các phương tiện đang lưu hành, nhiều phương tiện cũ không đảm bảo tiêu chuẩn khí thải, niên hạn để lưu thông trong thành phố, nhiều xe qua nhiều năm sử dụng và không thường xuyên bảo dưỡng nên hiệu quả sử dụng nhiên liệu thấp, nồng độ chất độc hại và bụi trong khí thải cao Đây là một trong những nguyên nhân của vấn đề ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn ở Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thời gian gần đây ngày càng gia tăng Diễn biến chất lượng không khí từ năm 2010 đến nay cho thấy: Từ năm 2018 đến năm 2019, nồng độ bụi PM2.5 có xu hướng tăng hơn
so với giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017 So sánh kết quả quan trắc nồng độ bụi PM2.5 trong các tháng qua các năm từ 2013 - 2019 cho thấy, từ tháng 9 đến giữa tháng 12 năm 2019, nồng độ bụi PM2.5 tăng mạnh so với các tháng trước đó và tăng cao so với cùng kỳ các năm từ 2015 - 2018 Giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2019, khu vực miền Bắc đã xảy ra một số đợt cao điểm ô nhiễm không khí Chỉ số chất lượng không khí tại một số đô thị như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
có nhiều thời điểm ở mức xấu với chỉ số AQI từ 150 đến 200, có khi vượt 200 tương đương mức rất xấu Nguy hại nhất là bụi mịn gồm những hạt nhỏ bay lơ lửng trong không trung như PM2.5 (dưới 2.5 micromet), khi thẩm thấu qua đường hô
Trang 8hấp sẽ là nguyên nhân tiềm ẩn của hàng loạt các căn bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Chất lượng không khí từ ngày 01/01/2020 đến ngày 10/4/2020 có xu hướng được cải thiện hơn so với cùng kỳ của những năm trước Kết quả tính toán chỉ số AQI cho thấy, chất lượng không khí tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị trong phần lớn thời gian duy trì ở mức tốt và trung bình Đặc biệt, từ thời gian nửa cuối tháng 3/2020 đến nay, trong đó có giai đoạn cả nước thực hiện cách ly xã hội để phòng ngừa dịch bệnh Covid 19, giá trị thông số PM2.5 và CO thấp hơn hẳn thời gian cùng kỳ những năm trước đó Đây cũng là những khoảng thời gian ghi nhận lượng phương tiện tham gia giao thông trong các khu vực nội đô giảm so với thời gian từ tháng 02 năm 2020 về trước, nhiều hoạt động kinh tế - xã hội phải tạm dừng hoặc giảm Điều này cho thấy ảnh hưởng của các nguồn phát thải như giao thông và hoạt động sản xuất có tác động đáng kể đến chất lượng không khí đô thị, thể hiện khá rõ tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trong
khoảng thời gian nêu trên cũng có xu hướng tốt hơn thời gian trước
Bên cạnh đó, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, năm 2016, Việt Nam có hơn 60.000 người chết vì bệnh tim, đột quỵ, ung thư phổi, tắc nghẽn phổi mãn tính do ô nhiễm không khí gây ra
Còn dưới đây là biểu đồ về tình trạng ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn và
các trung tâm công nghiệp lớn của Việt Nam theo Báo chất lượng không khí 2020
của IQAir - một công ty công nghệ chất lượng không khí uy tín của Thụy Sĩ
Trang 9II Biểu hiện của phạm trù nguyên nhân và kết quả trong vấn đề: Ô nhiễm không khí ở Việt Nam hiện nay
1 Phạm trù nguyên nhân:
Ô nhiễm không khí là một vấn đề nhức nhối đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, trong đó bao gồm Việt Nam khi tình trạng ô nhiễm không khí đã lên đến mức báo động Theo Báo cáo thường niên về chỉ số môi trường (The Environmental Performance Index - EPI) do tổ chức Môi trường Mỹ thực hiện, Việt Nam chúng ta
là một trong 10 nước ô nhiễm môi trường không khí hàng đầu Châu Á Tiêu biểu là
ô nhiễm bụi (PM 10, PM 2.5) Và thực trạng này gây ra bởi nhiều nguyên nhân, do
cả yếu tố tự nhiên và do con người
Nguyên nhân nhân tạo (Yếu tố con người):
Đây là nguyên nhân chính, gây nhức nhối cho cộng đồng và nhà nước, không riêng gì Việt Nam mà rất nhiều các nước đang phát triển điều vướng phải tình trạng này Khói bụi từ các ống xả của nhà máy, xí nghiệp trong những khu công nghiệp làm đen ngòm một khoảng trời Chúng thải ra các khí Co2, Co, SO2 cùng một số chất hữu cơ khác, với nồng độ cực cao
Những khu công nghiệp này không chỉ làm ô nhiễm môi trường không khí mà còn là tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước, khiến cho các “làng ung thư” được hình thành
Việc lạm dụng thuốc trừ sâu, phân bón hay các hoạt động đốt rơm, rạ, đốt rừng làm rẫy cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường không khí
Nguyên nhân này chỉ đứng sau hoạt động công nghiệp, khi mà lượng khí thải từ các phương tiện giao thông (như ô tô, xe máy, xe buýt, ) xả ra môi trường rất lớn Theo báo cáo Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) năm 2018 giao thông vận tải đóng góp 24,34% lượng Carbon mỗi năm
Đối với nước đang phát triển như Việt Nam thì các phương tiện giao thông có thể gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng Bởi sử dụng các phương tiện lỗi thời Cũng như cơ sở hạ tầng cho các dịch vụ di chuyển công cộng còn chưa phát triển
Trang 10Cùng sự phát triển của kinh tế và xã hội, các hoạt động xây dựng công trình (xây dựng cầu đường, chung cư cao tầng, cao ốc, ) , phá dỡ các công trình cũng theo đó
mà tăng lên Các hoạt động này luôn luôn mang đến sự ô nhiễm không khí trầm trọng Đặc biệt là ở các thành phố lớn thì đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm không khí Tiêu điểm là ở Hà Nội vào những ngày giữa tháng 12/2020 bụi mịn bao phủ hoàn toàn Hà Nội, làm giảm tầm nhìn và ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe người dân Ngoài ra, các hoạt động sản xuất không có bảo hộ tối thiểu (như lò rèn,…) đều tác động từng ngày tới tình trạng ô nhiễm không khí
Vũ khí hạt nhân, khí độc, chiến tranh hóa học và tên lửa cũng là một trong những nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm không khí nghiêm trọng
Việc rác thải được thải ra quá nhiều khiến cho các khu tập kết rác không xử lý được hết khiến cho mùi hôi thối bốc ra Hay các phương pháp xử lý thủ công như đốt khiến cho không khí bị ô nhiễm trầm trọng
Nguyên nhân ô nhiễm không khí chủ yếu đến từ các hoạt động nấu nướng sử dụng các nguyên liệu như củi, than, làm giải phóng khói bụi vào môi trường Các rác thải thức ăn gây mùi, nấm mốc không được xử lý sớm cũng là nguyên nhân lớn gây ô nhiễm không khí
Nguyên nhân tự nhiên (Yếu tố tự nhiên):
Gió là một trong những nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm môi trường không khí, khi mà các bụi, chất độc hay mùi hôi thối bị gió đẩy đi hàng trăm kilômét Điều này làm lan truyền ô nhiễm không khí ảnh hưởng trực tiếp đến sinh, thực vật
và con người
Các khí Metan, Lưu Huỳnh, Clo… nằm sâu trong các tầng dung nham hàng trăm năm Tuy nhiên khi núi lửa phun trào sẽ giải phóng chúng khiến không khí trở nên ô nhiễm nặng