1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài tập lớn tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH đề bài chứng minh tinh tất yếu của độc lập dân tộc gắn liền với tư tưởng hồ chí minh

43 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chứng Minh Tinh Tất Yếu Của Độc Lập Dân Tộc Gắn Liền Với Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả Trần Thị Hồng Hạnh
Người hướng dẫn Lê Thị Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 728,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bình những người cộng sản ở các nước tư bản đã coi nhẹ vấn đề thuộc địa và không thực hiện đúng di huấn của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; ngay cả những người lãnh đạo Quốc tế Cộn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Đề bài: Chứng minh tinh tất yếu của độc lập dân tộc gắn liền với

Tư tưởng Hồ Chí Minh

Họ và tên SV: Trần Thị Hồng Hạnh

Mã SV: 11201382

Giảng viên: Lê Thị Hoa

Lớp học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh 12

Trang 2

từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Các nước đế quốc rơi vào tình trạng phát triển không đồng đều, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa các nước đế quốc, bùng nổ các cuộc chiến tranh đế quốc Chủ nghĩa tư bản tăng cường bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân chính quốc khiến mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng tăng lên trên thế giới Đồng thời,

sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã tạo ra những bước phát triển mới trong sự nghiệp phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội, đặt ra nhiều vấn đề mới trong quan hệ quốc tế Nói về khoa học kỹ thuật, từ năm 1951 Hồ Chí Minh

đã nói “Năm mươi năm vừa qua có những biến đổi mau chóng hơn và quan trọng hợn nhiều thế kỷ trước cộng lại về khoa học kỹ thuật”

Giai đoạn 1: Hồ Chí Minh Vượt qua tư tưởng yêu nước, độc lập dân

tộc theo lập trường phong kiến, tư sản

Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và dần nhận thấy sự bất cập của tư tưởng yêu nước trong khuôn khổ ý thức hệ phong kiến: “trung quân, ái quốc”, chống Pháp giúp vua (cần vương), để đi đến quan niệm mới: dân là dân nước, nước là nước dân Vì vậy Người đã sớm nhận thức được nguyên nhân thất bại của chủ trương cứu nước dựa vào sự giúp đỡ của Trung Quốc, Nhật Bản, những nước “cùng máu đỏ da vàng”, do Phan bội Châu và các chí sĩ yêu nước trong

“Phong trào Đông Du” tiến hành

Trang 3

Đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã tiếp cận với tư tưởng dân chủ tư sản của Trung Quốc trong Cách mạng Tân Hợi (năm 1911), tập trung ở chủ nghĩa Tam dân (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của Tôn Trung Sơn Người đã rất kính trọng Tôn Dật Tiên, sau này người đã chắt lọc những nhân tố hợp lý, những quan điểm tiến bộ của Tôn Trung Sơn Nhưng qua việc quyết định

ra đi tìm đường cứu nước bằng cách đến nước Pháp, đến phương Tây, cái nôi của chủ nghĩa tư bản, chứng tỏ Người chưa tin vào tư tưởng yêu nước và con đường cứu nước đó

Giai đoạn 2: Bước ngoặt lớn khi Hồ Chí Minh đọc sơ thảo lần thứ

nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lê

Từ đây Người nhận thức được sâu sắc vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới được mở ra sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Do đó, cách mạng giải phóng dân tộc phải đặt trong quỹ đạo của cách mạng vô sản Người đã chỉ ra: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải tiến hành cách mạng vô sản

Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn để cứu nước, cứu dân Đó là con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩ xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng dân tộc từng bước với phong trào cách mạng vô sản thế giới

Giai đoạn 3: Từ “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” đến độc lập dân tộc gắn liền

với chủ nghĩa xã hội

Nghiên cứu Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin: bình đẳng, tự quyết, đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn nhất là dựa trên lập trường cách mạng vô sản Sau khi cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Người rút ra được rằng:

Trang 4

- Độc lập dân tộc đòi hỏi trước hết phải bảo đảm cho dân tộc đó quyền tự quyết dân tộc, quyền lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đường và mô hình phát triển độc lập cả về chính trị, kinh tế, văn hóa

- Độc lập dân tộc phải thực sự bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; con người được phát triển toàn diện,

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, để đảm bảo độc lập dân tộc thực sự phải tiến lên chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật của thời đại, đáp ứng khát vọng gàn đời của nhân dân ta là độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc

Trang 5

1 Quan điểm trước đó của Quốc tế C ng sản:

Từ năm 1919 đến năm 1928, Quốc tế Cộng sản vẫn luôn cho rằng: “Chỉ

có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến” Ý kiến này đã giảm tính chủ động, sáng tạo của cách mạng thuộc địa, làm cho phong trào cách mạng ở các nước rơi vào tình trạng thoái trào

2 Quan điểm của H Chí Minh:

Trong khi Quốc tế Cộng sản đánh giá thấp vị trí, vai trò của cách mạng thuộc địa trong mối quan hệ với cách mạng vô sản ở chính quốc, Nguyễn Ái Quốc lại đưa ra những quan điểm khác với quan điểm của Quốc tế Cộng sản Người khẳng định: “…Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa… nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa…”, và nếu khinh thường cách mạng ở thuộc địa tức là “…muốn đánh chết rắn đẳng đuôi”

Người đã chỉ rõ cái sai của Quốc tế Cộng sản lúc bấy giờ và tìm ra được

Trang 6

bình những người cộng sản ở các nước tư bản đã coi nhẹ vấn đề thuộc địa và không thực hiện đúng di huấn của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; ngay cả những người lãnh đạo Quốc tế Cộng sản lúc bấy giờ cũng đặt cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc phụ thuộc vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, coi phong trào giải phóng dân tộc là “hậu bị quân” của cách mạng vô sản ở chính quốc

Vận dụng công thức của C.Mác, với nhận thức cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “… Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em” Theo Người, tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản, đế quốc đều lấy ở các xứ thuộc địa Người đã lấy hình ảnh con đỉa hai vòi để minh họa cho chủ nghĩa tư bản lúc bấy giờ với hai đầu hút máu ở chính quốc và thuộc địa Khi đánh vào đầu ở chính quốc, nó sẽ tích cực hút máu ở thuộc địa làm cho sức sống của thuộc địa cạn kiệt, sức đấu tranh không còn, con đỉa bị đánh nhanh chóng hồi phục và quay lại chống cách mạng chính quốc, điều đó không những gây tổn thất cho phong trào chống cách mạng chính quốc mà còn khiến nó quen mùi, hút mạnh hơn ở thuộc địa

Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa là tất yếu Hồ Chí Minh đã chỉ

ra rằng nhân dân thuộc địa đang tiềm ẩn một sức mạnh to lớn mà cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp thiết thân của họ, họ phải đứng lên tự giải phóng

mà không thể dựa vào sự cầu viện ở bất cứ ai Nếu được thức tỉnh thì nhân dân thuộc địa sẽ là một lực lượng khổng lồ có thể làm nên sự nghiệp cách mạng

Người cũng chỉ ra rằng, cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa cùng với các dân tộc cần đoàn kết để tiến hành một cuộc cách mạng triệt để Một mặt tấn công ở chính quốc, đồng thời cũng tấn công ở thuộc địa, khi bị đau

ở cả hai đầu, “con đỉa” ấy sẽ có xu hướng quay về giữ sân nhà của mình, tạo đà

Trang 7

cho cuộc cách mạng thuộc địa giành thắng lợi Sau khi mất nguồn sinh lực của mình, sức mạng của chủ nghĩa tư bản dần dần bị suy giảm, lúc ấy cách mạng ở chính quốc sẽ đặt dấu chấm hết cho chúng Người khẳng định: Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, rồi sau đó giúp đỡ cho những người anh em của mình ở chính quốc trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn

Suy luận sáng tạo của Hồ Chí Minh đã được Đại hội VII Quốc tế Cộng sản nhận ra và lập tức chuyển hướng chiến lược, kêu gọi: “Vô sản ở tất cả các nước và các dân tộc áp bức đoàn kết lại”, chủ động thực hiện cách mạng đấu tranh giành độc lập tự do của chính mình

3 Lý gi i cho s ả ự hình thành tư tưởng sáng t o c a Hạ ủ ồ Chí Minh:

Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa

có sức bật thuận lợi vì:

● Chính sách khai thác, bóc lột thuộc địa hết sức tàn bạo và dã man của chủ nghĩa đế quốc ở nhiều nơi đã đẩy nhan dân thuộc địa vào khó khưn, túng quẫn; Điều đó đã làm cho lòng căm thù, tức giận chủ nghĩa đế quốc tư bản trong nhân dân thuộc địa vô cùng sâu sắc

● Tinh thần yêu nước chân chính của các dân tộc là một sức mạnh to lớn, một vũ khí tiềm ẩn của cách mạng giải phóng dân tộc Sức mạnh đó nếu được giác ngộ và soi đường sẽ tạo thành một sức mạnh to lớn thật sự, có thể đánh đổ được chủ nghĩa tư bản

● Hồ Chí Minh nhận thấy, thuộc địa là một khâu yếu nhất trong hệ thống của chủ nghĩa đế quốc, còn chủ nghĩa yêu nước ở thời hiện đại đã thực sự trở thành động lực giải phóng dân tộc

Trang 8

4 Lý gi i cho s sáng t o c a Hả ự ạ ủ ồ Chí Minh:

Có thể thấy rằng trong công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa thì quan điểm : Chỉ có thể giải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiến tiến đã trở thành một tôn chỉ duy nhât, bất di bất dịch, bởi đó là quan điểm xuất phát từ tư tưởng Mác-Lênin Nhưng đến Hồ Chí Minh, Người lại khẳng định có thể xảy ra điều ngược lại Điều đó trước hết bắt nguồn từ tư duy và tầm nhìn của mỗi người Không thể đi

so sánh giữa Hồ Chí Minh và Mác Lênin, nhưng chúng ta có thể nhận thấy rằng yếu tố thời đại có ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của mỗi người

-Thời C.Mác và Ph Ăngghen, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa tư bản đã được mở rộng, nhưng cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chưa phát triển mạnh, bởi vậy, theo các ông, vận mệnh loài người, tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc vẫn phần lớn phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển

Đến thời Lênin, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, nên ông cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa Bởi vậy, thay thế cho khẩu hiệu thời C.Mác “Vô sản tất cả các nước liên hợp lại”, ông đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc

bị áp bức đoàn kết lại” Nhưng ông vẫn không nhận ra được cách mạng ở các nước thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh trên góc độ của người thuộc địa, góc độ của các dân tộc bị áp bức đã phê phán một cách có căn cứ và hết sức sâu

Trang 9

sắc chủ nghĩa đế quốc và đã chỉ ra rằng sức sống của chủ nghĩa đế quốc một phần quan trọng nằm ở thuộc địa Mặt khác, so với những bậc tiền bối đi trước, Người có điều kiện để đi nhiều nơi, từ Châu Á sang Châu

Âu, tới Châu Phi nên người có điều kiện tìm hiểu, tiếp cận cuộc sống ở những mảnh đất đó chứ không phải chỉ gói gọn trong mỗi Châu Âu và một phần Châu Á (nước Nga) như Lênin, Người nói: “Hiện nay nọc độc

và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các nước thuộc địa hơn là ở chính quốc” Đây là điều quan trọng mà Hồ Chí Minh

bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác Lênin Từ đó, Người viết: “CNTB là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra” Bởi vậy, vừa phải tiến hành đồng thời cach mạng ở chính quốc và ở thuộc địa Trên góc độ phê phán ấy, người đã nhìn ra được khả năng cách mạng của các nước thuộc địa và đi đến khẳng định rằng: cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc

-5 Ý nghĩa của quan điểm sáng tạo v ề giả i phóng dân t c của H Chí

Trang 10

đỡ từ bên ngoài mà luôn phát huy tính độc lập tự chủ, tự lực, tự cường Nhờ đó mà cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi vĩ đại Đồng thời

nó cũng góp phần định hướng cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khác trên thế giới trong thời kì bấy giờ Thực tiễn cách mạng ở một

số nước thuộc địa và cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng đây là một tư tưởng hoàn toàn đúng đắn

II Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa sức

mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

Điểm xuất phát để ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là nhận thức

rõ và có niềm tin mạnh liệt vào sức mạnh của dân tộc Đó là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước; tinh thần đoàn kết; ý chí độc lập, tự lực, tư cường, truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do

1 Hồ Chí Minh là người đã nói công khai về chủ nghĩa dân tộc

Người viết “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1971”.Chủ nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân ta, đồng thời cũng là của nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh với chủ nghĩa thực dân giảnh độc lập, tự do cho dân tộc

Trang 11

2 Nhận th c c a H Chí Minh v s c m nh c a thứ ủ ồ ề ứ ạ ủ ời đại được hình thành từng bước, thông qua hoạt động th c tiự ễn và đượ ổc t ng kết thành lý luận

Ra đi tìm đường cứu nước với thân phận người lao động, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra mối tương đồng giữa các dân tộc bị áp bức: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” Vì vậy từ rất sớm, người đã kêu gọi: “Vì nền hòa bình thế giới, vì tự do

và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức” Người khảo sát chủ nghĩa đế quốc ngay tại sào huyệt của nó, Hồ Chí Minh đã phát hiện và chỉ ra rằng: “cả công nhân ở chính quốc lẫn binh lính ở thuộc địa, họ đều là anh em cùng một giai cấp và khi tới lúc phải chiến đấu, thì

cả hai bên đều phải cùng đánh bọn chủ chung của mình ”

Sau khi tiếp cận với Luận cương của V.I Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy ở

đó “một ánh sáng kỳ diệu nâng cao về chất tất cả những hiểu biết và tình cảm

nước thành người cộng sản, nâng cao nhận thức của Người về sức mạnh của thời đại: đó là sức mạnh của giai cấp vô sản, cách mạng vô sản, sức mạnh kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, sức mạnh đoàn kết quốc tế

Từ nhận thức trên, Hồ Chí Minh đi vào tổ chức và hoạt động Người thành lập Hội liên hiệp thuộc địa ở Pháp, viết báo Le Paria; tích cực tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức; sát cách chiến đấu cùng những người cộng sản và nhân dân Trung Quốc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”

Cùng với sự phát triển của lịch sử và thời đại, Hồ Chí Minh bổ sung thêm sức mạnh của thời đại những nhân tố mới, đó là: sự hình thành và phát triển và sức mạnh đoàn kết trong hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới; là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, trở thành một nhân tố mới trong sức mạnh của thời đại

Trang 12

B CẤP ĐỘ 2: XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

I Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội:

1 Cơ sở hình thành tư tưở ng về chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân ái và tinh thần cộng đồng làng xã Việt Nam Hồ Chí Minh đã từng biết đến tư tưởng xã hội chủ nghĩa sơ khai ở phương đông qua

“thuyết đại đồng” của Nho giáo Sau khi ra nước ngoài khảo sát các cuộc cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh đã tìm thấy trong chủ nghĩa Mác – Lênin lý tưởng

về một xã hội nhân đạo trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện

tự do cho tất cả mọi người” Khi đến nước Nga, Người đã thấy “Chính sách kinh

tế mới” của Lênin và những thành tựu bước đầu của nhân dân Xô Viết trên con đường xây dựng một chế độ xã hội mới

Đó là những cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần hình thành nên tư tưởng

Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Việt Nam

Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ phương diện đạo đức

Theo Hồ Chí Minh “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ

xã hội chủ nghĩa” Từ đó, Người tin tưởng cổ vũ “Có gì sung sướng vẻ vang hơn

là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người”

Trang 13

Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ truyền thống lịch sử, văn hóa và

con người Việt Nam

Văn hóa Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc, có truyền thống trọng dân, khoan dung, hòa mục để hòa đồng Văn hóa Việt Nam là văn hóa trọng trí thức, hiến tài Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội mang trong bản thân nó bản chất nhân văn và văn hóa; chủ nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản

về mặt văn hóa và giải phóng con người

2 Tư tưởng H Chí Minh v ề những đặc trưng bản ch t c a ch ấ ủ ủ nghĩa

xã h ội.

Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu và lý tưởng của toàn Đảng và toàn dân ta Từ khi

ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, dựng nên nhà nước dân chủ cộng hòa, tiến hành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhằm thực hiện

lý tưởng cao đẹp của toàn Đảng, toàn dân: xây dựng Việt Nam thành một nước

xã hội chủ nghĩa phồn vinh

Một là, đặc trưng bao quát nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa do nhân dân

ta xây dựng được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định, là: “dân giàu, nước

mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là những giá trị xã hội tốt đẹp nhất, ước mơ ngàn đời của loài người, cho nên cũng là mục tiêu phấn đấu của chủ nghĩa

xã hội Vì vậy, đây là đặc trưng phổ quát, có tính bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện sự khác nhau căn bản, sự tiến bộ hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ xã hội trước đó Xã hội tư bản có đời sống vật chất

và tiện nghi rất cao; dân có thể giàu, nước có thể mạnh, nhưng từ trong bản chất của chế độ xã hội tư bản, ở đó không thể có công bằng và dân chủ: nhà nước là

Trang 14

nhà nước tư sản; giàu có là cho nhà tư bản; sự giàu mạnh có được bằng quan hệ bóc lột Trong xã hội như vậy, người dân không thể là chủ và làm chủ xã hội.Xây dựng xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh” là quá trình vô cùng khó khăn, gian khổ và lâu dài trong hoàn cảnh và điều kiện Việt Nam một nước còn - nghèo, đang phát triển, chưa có “nền đại công nghiệp” (điều kiện cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội như C.Mác đã chỉ rõ), v.v Nhưng để trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng nêu trên, không có cách nào khác là toàn Đảng, toàn dân ta phải nỗ lực sáng tạo, chiếm lĩnh các đỉnh cao của xã hội Và, Việt Nam đang từng bước đạt tới các mục tiêu cần có trong hiện thực

Đảng ta đã vạch ra phương hướng, chính sách cụ thể, có cơ sở lý luận thực - tiễn để thực hiện trong hiện thực: “nước mạnh” gắn với “dân giàu”, “công bằng”

và “văn minh”, bảo đảm “dân chủ”; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; hoàn thiện nhà nước pháp quyền với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; v.v

Hai là, xã hội “do nhân dân làm chủ”

“Làm chủ” được coi là bản chất và quyền tự nhiên của con người, bởi xã hội

là xã hội của loài người, xã hội đó do con người tự xây dựng, tự quyết định sứ mệnh của mình; tuy nhiên trong thực tiễn lại là chuyện khác Lịch sử đấu tranh cho tiến bộ của nhân dân các dân tộc trên thế giới chính là lịch sử đấu tranh giành

và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Chỉ đến chủ nghĩa xã hội, nhân dân mới thực sự có được quyền đó Cho nên “nhân dân làm chủ xã hội” là đặc trưng quan trọng và quyết định nhất trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Đặc trưng này không thể tách rời những yêu cầu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Nói dân giàu, nước mạnh chính là thể hiện vai trò chủ thể của nhân dân đối với nhà nước dân là chủ “Dân chủ” trong đặc trưng nêu trên - chính là nền dân chủ của xã hội xã hội vận hành theo chế độ và nguyên tắc dân -

Trang 15

chủ Và chính nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện xã hội “do nhân dân làm chủ” Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta; với bản chất nêu trên, nó vừa là mục tiêu, lại vừa là động lực của sự phát triển đất nước Để có một

xã hội do nhân dân thực sự làm chủ, chúng ta phải nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để bảo đảm “tất cả quyền lực nhà nước thuộc

về nhân dân”; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải là “công bộc” của nhân dân, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ

Ba là, “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại

và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”

Để có được một xã hội giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, điều tiên quyết là xã hội đó phải có một nền kinh tế phát triển Bởi vì kinh tế là lực lượng vật chất, nguồn sức mạnh nội tại của cơ thể xã hội, nó quyết định sự vững vàng

và phát triển của xã hội Đến lượt mình, nền kinh tế đó chỉ có thể phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại Mác đã khẳng định: chủ nghĩa xã hội chỉ thực hiện được bởi “một nền đại công nghiệp” Nền đại công nghiệp phát triển trên cơ

sở khoa học - công nghệ, là hiện thân và là yếu tố tạo nên lực lượng sản xuất hiện đại Lực lượng sản xuất hiện đại quyết định việc nâng cao năng suất của nền sản xuất yếu tố quy định sự phát triển lên trình độ cao của phương thức sản xuất - mới Trên cơ sở đó thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tiến bộ phù hợp

để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Với các nội dung và lô-gíc vận động như đã luận giải trên, Đảng ta đã tập trung phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà trước mắt là hoàn thiện thể chế của nó; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, nhằm xây dựng một lực lượng sản xuất hiện đại để có một nền kinh tế phát triển cao điều kiện - bảo đảm cho sự phát triển bền vững xã hội xã hội chủ nghĩa

Trang 16

Bốn là, “Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Nếu như “nền kinh tế phát triển cao” là nội lực, là sức mạnh vật chất cho phát triển xã hội thì văn hóa là nguồn lực tinh thần bên trong của phát triển xã hội Văn hóa là tinh hoa con người và dân tộc, tinh hoa xã hội và thời đại; bởi vậy, nó là sức mạnh con người và dân tộc, sức mạnh xã hội và thời đại Mỗi nền văn hóa phải kết tinh tinh hoa và sức mạnh thời đại để tiến tới đỉnh cao thời đại, đồng thời phải chuyển hóa chúng thành các giá trị của dân tộc, làm đậm đà thêm bản sắc riêng của mình Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vì vậy, chính là mục tiêu của xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời là động lực và sức mạnh thúc đẩy

xã hội đó phát triển Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần kế thừa và phát huy những giá trị, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc; đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và văn hóa thời đại để phát triển văn hóa Việt Nam thực sự là nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực và sức mạnh cho xã hội phát triển Hơn nữa, bản chất xã hội xã hội chủ nghĩa là tiến bộ, khoa học và nhân văn

Cho nên, chủ nghĩa xã hội đồng chất và cùng chiều với văn hóa; phấn đấu cho những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng chính là phấn đấu cho những giá trị văn hóa - xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội văn hóa cao Những phẩm chất, những giá trị của xã hội xã hội chủ nghĩa là những phẩm chất và giá trị phổ quát của xã hội tương lai Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội đại đồng không tồn tại những bản sắc riêng biệt Xã hội xã hội chủ nghĩa là một vườn hoa muôn sắc các phẩm chất, các giá trị, ở đó bản sắc văn hóa các dân tộc, cộng đồng người khác nhau phải được độc lập tồn tại, tôn vinh, phát huy, phát triển Chính vì vậy, Đảng ta chủ trương phát triển nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng, làm phong phú diện mạo văn hóa Việt Nam

Trang 17

Năm là, “Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện

phát triển toàn diện”

Nói đến cùng, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, quá trình phấn đấu đạt tới những giá trị của xã hội xã hội chủ nghĩa đều là vì con người Con người là thực thể cao nhất của giới tự nhiên, nó là sản phẩm của thiên nhiên nhưng cao siêu và bí ẩn gấp ngàn lần thiên nhiên Bởi con người có trí tuệ và tình cảm, có khát vọng và khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao hiểu biết để tạo cho mình một thế giới Người

- thế giới Văn hóa Cho nên lịch sử của loài người là lịch sử con người đấu tranh xóa bỏ mọi lực cản thiên nhiên và xã hội để vươn tới một xã hội cao đẹp nhất -

xã hội đó chính là xã hội xã hội chủ nghĩa Bản chất xã hội xã hội chủ nghĩa, trình

độ phát triển của xã hội chủ nghĩa, rõ ràng, là bản chất và trình độ phát triển người, của con người Xã hội xã hội chủ nghĩa phải đem lại ấm no cho con người như là đòi hỏi tiên quyết Nhưng bản tính con người là không bao giờ thỏa mãn với những gì đã đạt được Con người phải được tự do tự do không chỉ bó hẹp - trong nghĩa được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, nô dịch, kìm hãm về mặt xã hội Điều quan trọng hơn là nó được thăng hoa tiềm năng trí tuệ, tình cảm và năng lực vốn có để thực hiện những khát vọng cao đẹp của mình Sự phát triển toàn diện con người là ước mơ, khát vọng của con người tự do Xã hội xã hội chủ nghĩa chính là nơi: sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự

do của tất cả mọi người như C.Mác đã nói Đặc trưng người nhất của khát vọng con người là hạnh phúc Bởi có thể người ta giàu có, đầy đủ tiện nghi, được phát triển, song vẫn bất hạnh Hạnh phúc là trạng thái yên lành, hài hòa, là tinh thần thoải mái biểu hiện sự mãn nguyện thanh cao nhất của con người Phấn đấu đạt tới một xã hội bảo đảm hạnh phúc cho con người, đó là một xã hội văn hóa cao Sáu là, “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”

Trang 18

Nếu như các đặc trưng nêu trên (kinh tế, văn hóa, con người) là những yếu tố thuộc phẩm chất bên trong tạo nên một chỉnh thể xã hội, thì ở đặc trưng này đòi hỏi những yếu tố thiết yếu cho sự tồn tại bền vững của xã hội lành mạnh “Bình đẳng” là một phẩm chất và giá trị nhân quyền thể hiện trình độ phát triển và chất nhân văn cao của xã hội Một đòi hỏi quan trọng của xã hội chủ nghĩa là bảo đảm bình đẳng không chỉ cho cá nhân người công dân, mà còn ở cấp độ cho tất cả các cộng đồng, các dân tộc trong một quốc gia Ngay trong xã hội hiện đại, ở các nước phát triển, thực hiện bình đẳng giữa các tộc người, các dân tộc cũng đang là vấn đề nan giải Mặt khác, “đoàn kết” là sức mạnh đó là một chân lý Các nhà - sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội đã kêu gọi: Những người lao động ở tất cả các nước trên thế giới đoàn kết lại (C.Mác); còn trong cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát một chân lý: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công Đồng thời đây cũng là một giá trị đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa “Bình đẳng” và “đoàn kết” chính là nền tảng của sự “tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển” Tôn trọng và giúp nhau không chỉ là tình thương, lòng nhân đạo, mà thực

sự là đòi hỏi, yêu cầu, trách nhiệm và điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của từng cá nhân, cộng đồng, dân tộc; là một tiêu chuẩn quan trọng của xã hội phát triển Đoàn kết toàn dân, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc đã làm nên thành công của cách mạng Việt Nam Và giờ đây, tinh thần đó, phương châm đó đang là những nét đặc sắc của giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bảy là, “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân

dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”

Nhà nước pháp quyền là một hình thức quản lý nhà nước trên một trình độ cao

và hiệu quả Nó điều hành hoạt động của các cơ quan nhà nước và xã hội bằng pháp luật Nhưng vấn đề ở đây là pháp luật nào? Pháp luật của ai và vì ai?

Trang 19

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước quản lý và điều hành đất nước và xã hội bằng pháp luật thể hiện quyền lợi và ý chí của nhân dân; vì vậy,

là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Đây là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với nền tảng

là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức và quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật đó

và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đòi hỏi khách quan để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa hiện nay Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không thể nào khác là dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đảng mang bản - chất, lý tưởng, nội dung xã hội chủ nghĩa, là đảng thực hiện mục tiêu và lý tưởng

“phát triển” chính là bản chất, là khát vọng hòa đồng theo bản chất trí tuệ và tình

Trang 20

cảm nhân văn cao cả có tính nhân loại của con người, của loài người; điều thể hiện bản chất cao đẹp nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa

3 Tư tưởng Hồ Chí Minh v ng l c xây d ng ch ề độ ự ự ủ nghĩa xã hội

a M c tiêu:

- Mục tiêu chính trị: Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, độ chính trị phải do nhân dân lao động làm chủ Nhà nước là của dân, do dân và vì dân Nhà nước có hai chức năng: dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân Hai chức năng

đó không tách rời nhau, mà luôn luôn đi đôi với nhau Một mặt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân: mặt khác tại yêu cầu phải chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa

Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân Hồ Chí Minh chỉ rõ con đường và biện pháp thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội của quần chúng , củng cố các hình thức - dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập pháp, hành phap và tư pháp, xử lý và phân định rõ chức năng của chúng

- Mục tiêu kinh tế: Theo Hồ Chí Minh, chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội chỉ được bảo đảm và đứng vững trên cơ sở một nền kinh tế vững mạnh Nền kinh tế đó là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công - nông nghiệp hiện đại khoa học kỹ thuật tiên tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa -

tư bản được bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện

Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phát triển toàn diện các ngành, trong đó những ngành chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, trong đó "công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà"

Trang 21

Kết hợp các loại lợi ích kinh tế là vấn đề được Hồ Chí Minh rất quan tâm Người đặc biệt nhấn mạnh: chế độ khoán là một trong những hình thức của sự kết hợp lợi ích kinh tế

- Mục tiêu văn hóa xã hội:- Theo Hồ Chí Minh, văn hóa là một mục tiêu

cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa Văn hóa thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội đó là xóa nạn mù chữ, xây dựng phát triển giáo dục, nâng cao dân trí xây dựng, phát triển văn hóa nghệ thuật, thực hiện nếp sống mới, thực hành vệ sinh phòng bệnh, giải tri lành mạnh, bài trừ

mê tín dị đoan, khắc phục phong tục tập quán lạc hậu

Về bản chất của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Người khẳng định:

"phải xã hội chu nghĩa về nội dung" Để có một nền văn hóa như thế ta phải phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc, đồng thời học tập văn hóa tiên tiến của thế giới

Phương châm xây dựng nền văn hóa mới là: dân tộc, khoa học, đại chúng

Hồ Chí Minh nhắc nhở phải làm cho phong trào văn hóa có bề rộng, đồng thời phải có bề sâu Trong khi đáp ứng mặt giải trí thì không được xem nhẹ nâng cao tri thức của quần chúng, đồng thời Người luôn luôn nhắc nhở phải làm cho văn hóa gắn liền với lao động sản xuất

Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là đào tạo con người Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất công cuộc xây dựng chính là con người Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết mặt tư tưởng Người cho rằng: Muốn có con người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của việc học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã - hội

Ngày đăng: 02/12/2022, 05:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. C. Mác và Ph. Ăng ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, - 1993, t. 23, tr. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph. Ăng ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12, tr.474 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
1. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 8 Khác
2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 24 Khác
4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w