Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Hồ Chí Minh dành rất nhiều sự quan tâm cho các đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) Người khẳng định đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Ðê, Xê Ðăng hay Ba Na và các DTTS khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Vì vậy, cần phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau Người nhấn mạnh đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làm được Người đã trực tiếp làm công tác vận động, tuyên truyền, cổ vũ đồng bào các DTTS tham gia phong trào cách mạng, tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; đào tạo đội ngũ cán bộ từ những người con ưu tú của đồng bào các DTTS thành những “hạt giống đỏ”, góp phần phát triển phong trào cách mạng Đặc biệt, Hồ Chí Minh luôn nêu vấn đề phải làm sao để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các DTTS, làm cho miền núi tiến kịp với miền xuôi Người chỉ rõ phần trách nhiệm của các bộ, ngành ở Trung ương đối với đồng bào miền núi là không thể để cho đồng bào sống cực khổ mãi như thế được Các ngành phải chú trọng tiến hành công tác ở miền núi Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng (CTVĐQC) nói chung và vận động đồng bào DTTS nói riêng, không chỉ có giá trị trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước Do đó, tiếp tục nghiên cứu, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động quần chúng trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là ở vùng có đông đồng bào DTTS - nơi đang bị các thế lực thù địch tìm cách lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để gây bất ổn - là công việc quan trọng, cấp bách, đặt ra nhiệm vụ cho cấp ủy, chính quyền và hệ thống chính trị các cấp, các địa phương phải tập trung giải quyết
Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm của cao nguyên Nam Trung Bộ, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị và an ninh - quốc phòng không chỉ đối với Tây Nguyên mà còn đối với cả nước Đắk Lắk đồng thời là một địa phương mang những nét đặc trưng điển hình của khu vực Tây Nguyên (bao gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, và Lâm Đồng) Trong quá khứ, các dân tộc nơi đây đã đoàn kết, anh dũng chiến đấu, góp phần tạo nên thắng lợi vẻ vang cho sự nghiệp cách mạng giải phóng, thống nhất đất nước Ngày nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện có 49 dân tộc cùng chung sống trong đó bao gồm dân tộc Kinh, các DTTS tại chỗ và các DTTS phía Bắc mới di cư đến Thời gian gần đây, với tất cả sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, và các tầng lớp nhân dân, kinh tế của Đắk Lắk đã có bước phát triển mạnh mẽ, đổi thay tích cực Tuy nhiên, kinh tế Đắk Lắk vẫn chưa tạo ra bước phát triển bền vững do năng suất lao động còn thấp, sự phát triển đa dạng của các thành phần kinh tế chưa được khai thác hết, một bộ phận người dân còn có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước Địa giới hành chính tỉnh Đắk Lắk rộng, địa bàn khá hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, mật độ dân cư phân bố không đồng đều, trình độ dân trí của phần đông các DTTS còn thấp Công tác giảm nghèo còn chưa mang tính bền vững, số hộ cận nghèo lớn, tỷ lệ hộ nghèo cao so với bình quân cả nước, trong đó phần đông là đồng bào DTTS Các thế lực thù địch, lực lượng chống đối chính trị tiếp tục lợi dụng vấn đề “dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền” để kích động, chống phá quyết liệt, tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việc tuyên truyền, giải thích, vận động đồng bào DTTS vẫn còn đôi lúc chưa thật sự hiệu quả
vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, do đó những luận điệu xuyên tạc phản động,
Trang 4sai sự thật của các thế lực thù địch vẫn còn những ảnh hưởng nhất định Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng một số người dân đặc biệt là đồng bào DTTS bị lôi kéo, dụ dỗ vượt biên trái phép, tham gia các hoạt động gây rối, làm mất ổn định chính trị
Sự bùng nổ của mạng xã hội tạo ra các thách thức cho công tác vận động đồng bào DTTS Vận động đồng bào DTTS tiếp tục phát huy những truyền thống yêu nước, đoàn kết, nỗ lực vươn lên hòa cùng sự phát triển của cả dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị Vì vậy, vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác vận động đồng bào DTTS, giúp đồng bào nhận diện được đúng – sai, biết điều gì nên làm, điều gì không nên, góp phần làm thất bại những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch
Để củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào đời sống đồng bào, từng bước góp phần để Đắk Lắk trở thành địa phương phát triển mạnh mẽ và bền vững, là trung tâm của khu vực Tây Nguyên, việc thực hiện công tác vận động đồng bào DTTS theo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề vô cùng cần thiết Nghiên cứu sâu sắc những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, hoạch định những giải pháp phù hợp với thực tiễn công tác vận động động bào DTTS càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết
Xuất phát từ tính cấp thiết và ý nghĩa quan trọng của những vấn đề nêu trên, nghiên
cứu sinh chọn vấn đề Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm đề tài luận án tiến sĩ ngành Hồ Chí Minh học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Phân tích, luận giải các khái niệm: CTVĐQC, tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC,
về công tác vận động đồng bào DTTS; phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC, vận động đồng bào DTTS
- Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk hiện nay nhìn từ tư tưởng Hồ Chí Minh
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới, phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC, vận động đồng bào DTTS
Trang 5- Công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, tác giả luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, như: Phương pháp lịch sử và logic, phương pháp văn bản học, phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh, phương pháp liên ngành, khảo sát thực tiễn, phỏng vấn chuyên gia
- Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, thống kê và
so sánh ở chương 1, 2, và 4 để làm rõ những vấn đề nghiên cứu đã được giải quyết, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC, vận động đồng bào DTTS, phân tích phương hướng và giải pháp thực hiện công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh; sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn, phỏng vấn chuyên gia
ở chương 3 để làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian qua
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án đi sâu làm sáng tỏ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động đồng bào DTTS
- Luận án góp phần làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đang đặt ra đối với công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk dưới góc nhìn của tư tưởng Hồ Chí Minh Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Về lý luận
- Luận án góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC, vận động đồng bào DTTS, khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh
- Luận án phân tích, làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân giúp cho các cấp
ủy Đảng, chính quyền của tỉnh Đắk Lắk nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, ý nghĩa của công tác vận động đồng bào DTTS Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho các cơ quan chức năng tham khảo để hoạch định chính sách, chương trình, kế hoạch …phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội vùng đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk
Trang 6- Luận án đề xuất phương hướng, giải pháp thực hiện công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
6.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, học tập, giảng dạy, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC, vận động đồng bào DTTS; luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu về CTVĐQC của cơ quan Đảng, Nhà nước, vận dụng vào công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk nói riêng, Tây Nguyên nói chung
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1.1 Nghiên cứu về công tác vận động quần chúng
Việc nghiên cứu cơ bản, có hệ thống về CTVĐQC đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Đến nay, có một số công trình tiêu biểu của các tác giả: V.I.Lênin, Lưu Vân Sơn, Lý Trung Kiệt, Nguyễn Tiến Thịnh, Đàm Văn Thọ, Vũ Hùng, Hà Thị Khiết, Nguyễn Thế Trung Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về CTVĐQC đã công bố phong phú, đa dạng ở nhiều góc độ tiếp cận, là nguồn tài liệu khoa học có giá trị học thuật giúp tác giả hoàn thành nhiệm vụ của luận án
đã đề ra
1.1.2 Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC là vấn đề nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, tiêu biểu là tác giả: Nguyễn Thạc Hân, Hoàng Quốc Bảo, Nguyễn Bá Quang, Nguyễn Minh Tuấn, Trần Minh Trưởng Các nhà khoa học đã khái quát, phân tích, luận giải về mục đích, nội dung, quy trình, phương pháp, đội ngũ cán bộ thực hiện CTVĐQC theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào trình bày một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC trong đồng bào DTTS Một số công trình nghiên cứu liên quan đến vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC vào vùng đồng bào DTTS nói chung, Tây Nguyên nói riêng còn hạn chế
1.1.3 Nghiên cứu về công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk
Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk đã được một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm, tiêu biểu là: Nguyễn Thế Huệ, Lê Xuân Hảo, Trương Minh Dục, Lưu Văn Sùng, Bùi Minh Đạo, Nguyễn Mạnh Quang, Nguyễn Văn Hào, Lê Văn Cường Các nhà khoa học đã phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng đất Tây Nguyên; mối quan hệ giữa các dân tộc, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước ở vùng đồng bào DTTS Tây Nguyên Từ
đó, các nhà khoa học đã đề ra các giải pháp dưới nhiều góc độ như kinh tế, văn hóa, quốc phòng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác vận động tuyên truyền đồng bào DTTS trong tình hình hiện nay Đây là nguồn tài liệu quý giá để học viên nghiên cứu, kế thừa trong thực hiện đề tài luận án
1.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Kết quả nghiên cứu đã đạt được
Tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án đã phân tích, làm rõ một số khía cạnh khác nhau về nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC; các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng trong một số lĩnh vực
cụ thể, một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung, tỉnh Đắk Lắk nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk nói riêng, Tây Nguyên nói chung dưới góc nhìn của tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 81.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết
Thứ nhất, khái niệm CTVĐQC theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tác giả làm rõ khái niệm công tác vận động đồng bào DTTS theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về CTVĐQC: vai trò, mục đích, nội dung, hệ thống
tổ chức và cán bộ làm CTVĐQC Đồng thời tác giả sẽ làm rõ nội dung công tác vận động đồng bào DTTS theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ ba, đánh giá ưu điểm và hạn chế; nguyên nhân ưu điểm và hạn chế; những vấn
đề đặt ra cho công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ tư, những nhân tố tác động đến công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk
Thứ năm, một số phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác vận động đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 9Chương 2
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
2.1.1 Khái niệm công tác vận động quần chúng, dân tộc thiểu số
Công tác vận động quần chúng hay công tác vận động nhân dân, công tác dân vận là công việc của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể; là việc tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, phối hợp với nhân dân, tập hợp và huy động nhân dân để tiến hành những nhiệm vụ cách mạng vì lợi ích chung của dân tộc
Công tác tuyên truyền là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó
Khái niệm “Dân tộc thiểu số”:
DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nước ta có 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó, dân tộc Kinh là dân tộc chiếm số đông, còn lại 53 dân tộc anh em khác có số dân ít hơn gọi là “dân tộc thiểu số” Do đó, trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk mà tác giả luận án nghiên cứu, nói “dân tộc thiểu số” tức là chỉ các dân tộc không phải dân tộc Kinh mặc dù ở một vài đơn vị hành chính cấp xã nếu xét về số lượng thì dân tộc Kinh lại là
và củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động đồng bào DTTS là hệ thống quan điểm về vai trò, nội dung, phương pháp tuyên truyền, vận động, tập hợp đồng bào DTTS nhằm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, có giá trị to lớn, góp phần làm nên thắng lợi cho cách mạng Việt Nam
2.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG 2.2.1 Vai trò, mục đích công tác vận động quần chúng
2.2.1.1 Công tác vận động quần chúng có vai trò quan trọng trong việc tập hợp lực lượng cách mạng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh cho rằng đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công Lực lượng cách mạng của Việt Nam là khối đại đoàn kết toàn dân tộc Muốn xây dựng được khối đoàn kết thì cần phải làm tốt CTVĐQC Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng quần chúng chỉ có sức mạnh khi được giác ngộ, tập hợp, đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản CTVĐQC trước hết phải làm cho dân giác ngộ, đồng tình ủng hộ Phải
Trang 10làm cho nhân dân hiểu vì sao phải làm cách mạng, vì sao cách mạng là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người
2.2.1.2 Công tác vận động quần chúng ảnh hưởng lớn đến sự thành công của cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, sự ủng hộ của quần chúng quyết định đến mức độ thành công của cách mạng Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn Vì vậy, Đảng cần phải tập hợp được lực lượng to lớn của các tầng lớp nhân dân, phải làm tốt CTVĐQC
2.2.1.3 Công tác vận động quần chúng nhằm củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Chính vì vậy, Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời bản chất này thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc Do đó Đảng là của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam Đảng từ nhân dân mà ra, nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng Đảng phải dựa vào dân, không được xa rời dân vì nếu xa dân thì sẽ thất bại Ngược lại, nhân dân có gắn với Đảng thì sức mạnh rời rạc của từng cá nhân mới được chuyển hóa thành sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Để tạo nên mối quan hệ khăng khít giữa Đảng
và dân, Đảng cần phải tăng cường CTVĐQC
2.2.2 Nội dung công tác vận động quần chúng
2.2.2.1 Tuyên truyền, vận động về quyền lợi và nghĩa vụ của quần chúng
Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng trước hết phải làm cho dân giác ngộ vì nếu quần chúng chưa giác ngộ, chưa tự động thì không thể làm được, làm sẽ thất bại, vì họ sẽ không hăng hái Nhưng nếu họ được tuyên truyền giải thích, đã giác ngộ, mình lãnh đạo cho họ làm, công việc sẽ có kết quả tốt Theo Hồ Chí Minh, tất cả mọi người đều phải nhận rõ mình
là người chủ nước nhà và đã có quyền hạn làm chủ thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ Do đó, việc phổ biến, giải thích cho dân hiểu rõ quyền lợi và nhiệm vụ của họ là đòi hỏi cơ bản nhất của CTVĐQC
2.2.2.2 Trong công tác vận động quần chúng phải thực hành dân chủ rộng rãi, lắng nghe ý kiến của nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, để chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thực hiện được thì cần phải đưa ra dân chúng bàn bạc, lắng nghe ý kiến của dân chúng Vì dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra Cùng bàn bạc, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của quần chúng cũng chính là để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình Có bàn bạc với dân mới tập hợp được trí tuệ của quần chúng vào việc xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đồng thời người dân mới có thể thực hiện chủ trương, chính sách, luật pháp, đưa chủ trương, chính sách luật pháp vào cuộc sống
2.2.2.3 Tổ chức thực hiện các hoạt động kinh tế, văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Theo Hồ Chí Minh nhân dân chỉ hiểu rõ giá trị của độc lập, tự do khi nhân dân được
ăn no, mặc đủ Vì vậy, cần phảitổ chức thực hiện các hoạt động kinh tế nhằm nâng cao đời
Trang 11sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Theo Người nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ là làm cho dân có cái ăn, cái mặc, có chỗ ở, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh Người có những hướng dẫn quần chúng về tổ chức xây dựng mọi mặt đời sống
xã hội mới, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội
2.2.2.4 Tôn trọng nhân dân, học hỏi nhân dân, thành thật tự phê bình và phê bình trước nhân dân
Hồ Chí Minh cho rằng việc kiểm tra, rút kinh nghiệm, thành thật tự phê bình và phê bình trước nhân dân là vô cùng quan trọng và cần thiết Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân, dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động và lề lối làm việc sao cho dân chủ, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên, nhất là phê bình
từ dưới lên Vấn đề dân kiểm tra, góp ý có tác dụng vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Đảng cũng như cả hệ thống chính trị nói chung
2.2.3 Xây dựng hệ thống tổ chức và cán bộ làm công tác vận động quần chúng
Theo Hồ Chí Minh CTVĐQC không phải là trách nhiệm của riêng của mỗi cá nhân,
tổ chức nào mà là trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Hồ Chí Minh đề cập đến cán bộ chính quyền trước vì Đảng ta là Đảng cầm quyền, cán bộ chính quyền phải đưa ra những quyết định và thực hiện chính sách đồng thời có trách nhiệm tạo điều kiện, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội để thực hiện CTVĐQC Cùng với cán bộ chính quyền, cán bộ Đảng, cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội đều phải tham gia CTVĐQC Cán bộ phụ trách CTVĐQC cần được giáo dục, bồi dưỡng, huấn luyện một cách công phu, nghiêm túc, bài bản để có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành nhiệm vụ Những cán bộ yếu kém nhất là yếu kém về đạo đức thì không thể làm CTVĐQC, không thể lãnh đạo nhân dân
2.3 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
2.3.1 Vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng
Do những đặc điểm lịch sử, các DTTS ở Việt Nam thường cư trú nhiều ở miền núi, biên giới - nơi có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, những vùng đất biên cương thiêng liêng của Tổ quốc đã được các thế hệ đồng bào DTTS kiên cường, bền bỉ, đoàn kết đấu tranh, dựng xây trở thành “phên dậu” của đất nước Đồng bào các DTTS đã góp phần rất lớn vào cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập của dân tộc Việt Nam Người đánh giá cao vị trí trọng yếu của miền núi, coi trọng công tác vận động đồng bào thiểu số Người quan tâm đến việc tuyên truyền, giáo dục, giúp đỡ đồng bào các DTTS để đồng bào có được ý thức đoàn kết và bình đẳng dân tộc, làm cho đồng bào hiểu được sự cần thiết phải xóa bỏ các thành kiến dân tộc, khắc phục những tập tục lạc hậu, chăm lo phát triển sản xuất để từng bước đưa đời sống đồng bào các dân tộc thoát khỏi đói, nghèo, lạc hậu Đồng thời, Hồ Chí Minh chỉ
rõ mỗi ngành, mỗi bộ ở Trung ương cần phải nhận rõ phần trách nhiệm của mình đối với miền núi và chú trọng hơn nữa công tác ở miền núi
2.3.2 Nội dung công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 122.3.2.1 Tuyên truyền, vận động xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số trong “gia đình” dân tộc Việt Nam
Tổng kết chính sách dân tộc của Đảng, Hồ Chí Minh cho rằng chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi có hai điều quan trọng nhất là: đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào Để vận động đồng bào đoàn kết, Hồ Chí Minh có cách giải thích rất tự nhiên, thuyết phục rằng tất cả các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều là anh em trong một gia đình Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta
2.3.2.2 Tổ chức, phát động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số
Đồng thời với việc vận động đồng bào DTTS đoàn kết với nhau, đoàn kết với dân tộc
đa số, Hồ Chí Minh hướng dẫn đồng bào đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm
Hồ Chí Minh chủ trương phải làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bảo các DTTS được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa Về
văn hóa, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới tâm lý, phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào
các dân tộc Người căn dặn các cán bộ đi công tác miền núi làm việc chỗ nào phải học tiếng
nói ở đấy Trên lĩnh vực giáo dục, Hồ Chí Minh quan tâm đến việc phát triển phong trào
bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ cho đồng bào các dân tộc, phát triển giáo dục miền núi, khôi phục và xây dựng hệ thống chữ viết cho các dân tộc Về tổ chức xây dựng nền kinh tế của xã hội mới, Hồ Chí Minh hướng dẫn phải tổ chức tổ đổi công, làm thật tốt để sau đó tiến dần lên hợp tác xã Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân đồng bào, Hồ Chí Minh khẳng định
Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các DTTS về mọi mặt
2.3.2.3 Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số
Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm sự nghiệp xây dựng và phát triển miền núi phải do chính người miền núi làm nòng cốt Để đồng bào miền núi thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng và phát triển miền núi, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng và
sự cần thiết phải xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ là người DTTS Chính những cán bộ người DTTS hiểu rõ thực tiễn, đặc điểm văn hóa, tâm lý, ngôn ngữ của đồng bào mình nhất Cán bộ DTTS sẽ là người tiếp thu và tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở vùng DTTS Do đó, phải làm sao cho cán bộ DTTS có thể tự quản lý được công việc Trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở các cấp chính quyền cần phải quan tâm
nhiều hơn nữa đến công tác phát triển đội ngũ cán bộ nữ người DTTS
2.3.2.4 Xây dựng chính sách ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Theo Hồ Chí Minh, trong công tác vận động đồng bào DTTS, cần phải chú ý xây dựng chính sách ưu tiên vùng đồng bào DTTS để “miền núi tiến kịp miền xuôi”, thực hiện bình đẳng các dân tộc về chính trị, văn hóa, phát triển Hồ Chí Minh cho rằng vì sự phát triển không đồng đều trong lịch sử, nên giữa miền xuôi và miền núi, giữa dân tộc Kinh và DTTS tồn tại những sự chênh lệnh về trình độ kinh tế Đảng và Nhà nước cần phải làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các DTTS tiến kịp dân tộc đa số Tương trợ giúp nhau giữa các
Trang 13dân tộc không chỉ là yêu cầu mà còn là tất yếu khách quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước Nếu không có sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau thì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, việc rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, các dân tộc sẽ vô cùng khó khăn
2.3.3 Phương pháp vận động đồng bào dân tộc thiểu số
2.3.3.1 Phương pháp tuyên truyền
Theo Hồ Chí Minh, tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Muốn đạt được mục đích đó, người làm công tác tuyên truyền phải có phương pháp phù hợp
Hồ Chí Minh chủ yếu sử dụng 3 phương pháp tuyên truyền sau:
Tuyên truyền miệng
Sử dụng các phương tiện trực quan
Sử dụng các phương tiện kỹ thuật làm khâu trung gian
Đặc điểm nổi bật của phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh là tính chân thực, sử dụng nhiều dẫn chứng người thật, việc thật cụ thể; ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu và sử dụng rất linh hoạt các thành ngữ, tục ngữ Người đặc biệt nhấn mạnh đến việc tuyên truyền vận động phải nói và làm một cách thiết thực, phù hợp với trình độ nhận thức của đồng bào Theo Hồ Chí Minh, không cần phải nói tràng giang đại hải, chỉ cần nói ngắn gọn, nôm na, nói những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được
2.3.3.2 Phương pháp nêu gương
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp nêu gương là một trong những phương pháp vận động quần chúng hữu hiệu nhất vì theo Người đối với các dân tộc phương Đông một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền Khảo sát trong
Hồ Chí Minh Toàn tập cho thấy Người nhắc đến từ “nêu gương”, “làm gương” 240 lần Điều đó cho thấy, Hồ Chí Minh rất coi trọng việc “nêu gương”, “làm gương” của mọi tổ chức, mọi lực lượng cách mạng và mọi cá nhân, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên Cán bộ muốn thực hiện được CTVĐQC thì phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”
2.3.3.3 Phương pháp tổ chức các phong trào thi đua yêu nước
Theo Hồ Chí Minh cho rằng thi đua là một cách yêu nước thiết thực và tích cực Tổ chức phong trào thi đua yêu nước là cách tốt nhất để khơi dậy lòng yêu nước tiềm tàng trong mỗi người dân Việt Nam, biến nó thành sức mạnh, thành động lực thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội cũng như trong bảo vệ Tổ quốc Người cũng chỉ rõ rằng thi đua không phải là một việc gì quá khác so với những công việc làm hàng ngày Công việc hàng ngày chính là nền tảng của thi đua Đảng, Chính quyền, các đoàn thể nhân dân cần phải lập kế hoạch, vận động, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, tổng kết phong trào thi đua Đảng phải lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước Phải đề ra được tên phong trào với những khẩu hiệu hành động, tuyên truyền sắc bén, sát đúng với tình hình và nguyện vọng, lợi ích của quần chúng nhân dân, phù hợp với yêu cầu thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng
2.4 GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
2.4.1 Giá trị lý luận