ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 299.2016 37 ỨNG PHÓ VỚI KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT THÁI PHIÊN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG RESPONSES TO TH
Trang 1ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 2(99).2016 37
ỨNG PHÓ VỚI KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH LỚP 12
TRƯỜNG THPT THÁI PHIÊN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
RESPONSES TO THE PSYCHOLOGICAL DIFFICULTIES OF 12TH GRADE STUDENTS OF THAI PHIEN HIGH SCHOOL IN DANANG CITY
Phạm Thị Mơ 1, Phạm Thị Xuân Hường 2
1 Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
2 Sinh viên lớp 11CTL, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Tóm t ắt - Ứng phó là những nỗ lực của cá nhân để giải quyết các
vấn đề của chính mình trong quá trình phát triển Có ba nhóm ứng
phó tiêu biểu là đối diện với khó khăn và hành động (ứng phó tích
c ực); tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội (ứng phó tương đối tích cực); lảng
tránh khó khăn và tự trách mình (ứng phó chưa tích cực) Ứng phó
cá nhân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Qúa trình nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy học sinh lớp 12 Trường THPT Thái Phiên
Đà nẵng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong học tập, chọn nghề,
quan hệ xã hội Sự ứng phó của các em trước những vấn đề này
chủ yếu ở mức tích cực và tương đối tích cực, có sự khác biệt xét
ở góc độ giới tính, học lực và chịu ảnh hưởng của gia đình, bạn
bè, giáo viên
Abstract - Responses are personal efforts to solve individual
problems in the development process There are three typical types
of responses: facing difficulties and actions (positive response); seeking social support (relatively positive response); avoiding problems and blaming oneself (negative response) The individual responses are influenced by a lot of factors Our research does show that 12th grade students of Thai Phien High school, Danang city suffer a variety of difficulties, especially in study, choosing careers and social relationships Their responses are mainly positive and relatively postive The difference in these responses depends on gender, learning aptitude and the influence of families, friends and teachers
T ừ khóa - ứng phó; khó khăn tâm lý; học sinh trung học phổ thông,
giúp đỡ; lảng tránh; tự trách mình Key words - response; psychological difficulties; highschool students, help; evasive; blame oneself
1 Đặt vấn đề
Sự thành công trong từng lĩnh vực của mỗi người phụ
huộc vào khả năng ứng phó của người ấy trước những khó
khăn của bản thân Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
(THPT) là lứa tuổi hình thành sự định hướng vào tương lai
[5, tr.87] Do vậy, việc đối diện với những lựa chọn mang
tính chất quan trọng ở giai đoạn bước ngoặt cuộc đời khiến
cho học sinh có thể gặp phải những khó khăn về mặt tâm
lý Vậy các em đã ứng phó với khó khăn này ra sao? Năm
2015 là năm đầu tiên của sự đổi mới về hình thức thi tốt
nghiệp phổ thông và thi vào đại học, điều đó đã làm cho sự
lo lắng, căng thẳng của các em tăng thêm Học sinh lớp 12
Trường THPT Thái Phiên, thành phố Đà Nẵng không nằm
ngoài qui luật này Nhằm góp phần làm sáng tỏ thực trạng
khó khăn tâm lý và sự ứng phó của học sinh lớp 12 trong
tình hình đổi mới thi cử và đưa ra những biện pháp giúp
các em vượt khó trong bước ngoặt của cuộc đời, chúng tôi
đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Ứng phó với khó khăn tâm
lý của học sinh lớp 12 Trường THPT Thái Phiên, thành
phố Đà Nẵng” Bài viết sau đây được rút ra từ những kết
quả nghiên cứu đó
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý thuyết về ứng phó với khó khăn tâm lý của
học sinh THPT
2.1.1 Khái niệm về khó khăn tâm lý và ứng phó
- Khó khăn tâm lý là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh
trong quá trình hoạt động của chủ thể, gây cản trở, ảnh
hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả hoạt động của chủ
thể [3]
- Ứng phó là một vấn đề phức tạp được tiếp cận nghiên
cứu ở nhiều góc độ khác nhau, do vậy có những định nghĩa
khác nhau về ứng phó Theo quan điểm của Lazarus và Folkman (1984), “Ứng phó là những nỗ lực không ngừng thay đổi về nhận thức và hành vi của cá nhân để giải quyết các yêu cầu cụ thể, tồn tại bên trong cá nhân và trong môi trường mà cá nhân nhận định chúng có tính đe dọa, thách thức hoặc vượt quá nguồn lực của họ” [4, tr.47]
2.1.2 Phân loại ứng phó với khó khăn tâm lý
Có nhiều cách phân loại ứng phó, tùy thuộc vào mục đích, nội dung nghiên cứu Trong đó hướng phân loại khá hợp lý và được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng là quan điểm của các tác giả Tobin, Holroyd, Reynolds và Wigal đề xuất năm 1989 [4, tr.57] Họ tích hợp và khái quát các chiến lược ứng phó đã được nghiên cứu và chia ứng phó thành hai nhóm lớn: nhóm đối đầu (tập trung vào vấn đề, tập trung vào cảm xúc) và nhóm lảng tránh
- Nhóm đối đầu tập trung vào vấn đề: Là những nỗ lực nhằm thay đổi các tác nhân gây stress bằng cách quyết tâm, kiên trì và trực tiếp hành động Xem xét lại vấn đề xảy ra, nhìn nhận các sự kiện theo chiều hướng tích cực hơn và có tính xây dựng
- Nhóm đối đầu tập trung cảm xúc gồm có “tìm kiếm
hỗ trợ xã hội” và “bộc lộ cảm xúc”: Là nỗ lực tìm đến sự giúp đỡ để giải quyết vấn đề bằng cách tìm kiếm lời khuyên
và chia sẻ cảm xúc, tâm sự với những người thân hay bạn
bè Cố gắng đối diện không né tránh và giải tỏa các cảm giác căng thẳng, lo lắng ra bên ngoài
- Nhóm lảng tránh: Không có bất cứ suy nghĩ hoặc hành động nào liên quan đến sự kiện căng thẳng Hy vọng những điều kỳ diệu xảy ra để tình trạng có thể chuyển biến tốt hơn
Đổ lỗi cho bản thân, che dấu cảm xúc đối với các tình
huống gây stress trước bạn bè và người thân
Sự ứng phó của mỗi con người trước khó khăn phụ
Trang 238 Phạm Thị Mơ, Phạm Thị Xuân Hường thuộc vào nhiều yếu tố:
- Những yếu tố khách quan như đặc điểm của các tác
nhân gây ra khó khăn tâm lý, chỗ dựa xã hội như gia đình,
bạn bè, đồng nghiệp, các tổ chức, tôn giáo, tín ngưỡng
- Những yếu tố chủ quan như đặc điểm lứa tuổi, giới tính,
đặc điểm nhân cách gồm năng lực, tính cách, khí chất
2.2 Khách thể và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khách thể nghiên cứu: Học sinh Trường THPT Thái
Phiên thành ph ố Đà Nẵng
Trường THPT Thái Phiên, thành phố Đà Nẵng là
trường công lập Năm học 2014 - 2015 số lượng học sinh
(HS) của trường là 2568 em, trong đó khối 10 có 863 HS,
khối 11 có 859 HS, khối 12 có 846 HS Trên cơ sở số lượng
HS lớp 12, chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên 210 em làm đối
tượng khảo sát trong quá trình nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Nội dung bảng
hỏi có hai phần: Phần một gồm 12 câu hỏi đươc xây dựng
theo nguyên tắc rõ ràng, dễ hiểu, đơn trị, phù hợp với nội
dung nghiên cứu, được điều tra thử, chỉnh sửa trước khi
điều tra chính thức Phần hai là phiên bản rút gọn của
Carver công bố năm 1997 Đây là công cụ đánh giá hành
vi ứng phó thường được sử dụng khi cá nhân đối diện với
khó khăn
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ nhằm mục đích tìm
hiểu số lượng HS, kết quả học tập, hoàn cảnh gia đình
của các em
- Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm thu thập, bổ sung,
kiểm tra và làm rõ hơn những thông tin đã thu được qua
khảo sát bằng phiếu hỏi trên diện rộng
- Phương pháp xử lý số liệu: Sau khi loại bỏ những
phiếu không đảm bảo độ tin cậy, số HS được khảo sát chính
thức còn 198 em Trong đó: Nam có 106 (53,5%),
nữ 92 em (46,5%); HS giỏi 6 em (3%), khá 76 em (38,4%),
trung bình 116 em (58,6%) Dựa vào cơ sở lý luận chúng
tôi xét ứng phó của HS ở ba nhóm loại: đối diện với khó
khăn và hành động (ứng phó tích cực); tìm kiếm sự hỗ trợ
xã hội (ứng phó tương đối tích cực); lảng tránh khó khăn
và tự trách mình (ứng phó chưa tích cực) Kết quả được
tính toán bằng phần mềm SPSS 20.0 Quá trình thực hiện
các phương pháp được tiến hành trong tháng 5 năm 2015
2.3 Kết quả nghiên cứu
2.3.1 Thực trạng khó khăn tâm lý của HS lớp 12 Trường
THPT Thái Phiên, thành ph ố Đà Nẵng
a Mức độ hài lòng của HS về cuộc sống
Tổng kết số liệu cho thấy đa số HS được hỏi có thái độ
tích cực với cuộc sống hiện tại (khá hài lòng 60,6%; rất hài
lòng 15,1%) Sự hài lòng hay không hài lòng với cuộc sống
của mỗi cá nhân liên quan tới nhiều vấn đề như mức độ
thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu, quan hệ tình cảm, thái
độ và kết quả hoạt động học tập, lao động… của bản thân
Chúng tôi nhận được câu trả lời của HS trong thời điểm các
em đang dốc sức vào học tập để thi cử Vì vậy số liệu trên
chứng tỏ đa số HS đã nhận thức và chấp nhận những khó
khăn các em đang phải vượt qua như một sự tất yếu Sự
không hài lòng hay ít hài lòng thể hiện cuộc sống của cá
nhân có những vấn đề bất ổn Số HS có biểu hiện này tuy không nhiều (18,2% & 6,1%), song các em cần được quan tâm giúp đỡ để vượt qua khó khăn Bởi lẽ trạng thái tâm lý không tích cực này nếu không được giải quyết sẽ kìm hãm
sự phát huy khả năng của bản thân, ảnh hưởng tới kết quả của kỳ thi có ý nghĩa quyết định tương lai của các em
b Những khó khăn tâm lý của học sinh
Tổng kết ý kiến tự đánh giá của HS về mức độ khó khăn của mình theo thứ tự (1 khó khăn nhiều nhất… 8 khó khăn
ít nhất) Tính điểm trung bình (ĐTB) của sự khó khăn trong
từng lĩnh vực kết quả thu được như sau:
Bảng 1 Những khó khăn tâm lý chung của học sinh
STT Các khó khăn ĐTB Thứ tự
2 Lý tưởng, nghề nghiệp trong tương
3 Quan hệ với bạn bè, với tập thể lớp 3,4 3
4 Vấn đề sức khỏe, thay đổi cơ thể 4,78 4
6 Quan hệ với cha mẹ, anh chị em 5,17 6
Kết quả thể hiện ở Bảng 1 cho thấy HS gặp khó khăn lớn nhất là ở các vấn đề học tập (ĐTB = 2,8), chọn nghề (ĐTB = 3,18), quan hệ với bạn bè và tập thể lớp (ĐTB = 3,4) Những vấn đề các em gặp khó khăn ít hơn là sức khỏe, tình yêu tuổi học trò, quan hệ với cha mẹ, anh chị
em, thầy cô giáo, tài chính Kết quả này phản ánh đúng thực
trạng cuộc sống và đặc điểm tâm lý HS lớp 12 Trong hoàn cảnh đổi mới phương thức thi cử và khó kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp đại học của thanh niên, các em lo lắng là điều tất yếu Ngày nay kinh tế khá lên, hầu hết các gia đình đầu
tư, lo lắng nhiều cho con cái trong việc học hành Trong quan hệ với người lớn HS thanh niên biết tỏ thái độ tích cực với định hướng và chỉ dẫn của họ Điều này lý giải tại sao các em ít gặp khó khăn trong tài chính và những quan
hệ với người lớn Các em coi trọng quan hệ bạn bè, có nhu cầu cao về tình bạn Bạn bè ảnh hưởng sâu sắc tới nhân cách của các em Nhưng số liệu cho thấy HS gặp khá nhiều khó khăn trong quan hệ với bạn bè và tập thể lớp Hiện tượng này phải chăng có mối liên hệ với tình trạng bạo lực giữa HS với nhau ngày càng gia tăng như nhiều phương tiện thông đại chúng đã phản ánh Đây là vấn đề rất đáng phải quan tâm đối với các nhà sư phạm
2.3.2 Ứng phó với khó khăn tâm lý của HS lớp 12 Trường THPT Thái Phiên, thành ph ố Đà Nẵng
a Mức độ sử dụng các cách ứng phó của HS
Tổng kết câu trả lời trong phần 2 của phiếu hỏi, chúng tôi thu được kết quả thể hiện sự ứng phó của HS như sau Điểm trung bình của ứng phó với khó khăn tâm lý ở HS khá cao (ĐTB = 2,71) Trong đó nhóm “Đối diện với khó khăn và hành động” được thực hiện nhiều nhất (ĐTB = 3,00); nhóm “Tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội” (ĐTB = 2,97) và nhóm “Lẩn tránh khó khăn và tự trách mình” là HS thực hiện ít nhất (ĐTB = 2,16) Xét theo từng nhóm ứng phó, kết quả thể hiện tại Bảng 2 dưới đây
Trang 3ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 2(99).2016 39
B ảng 2 Ứng phó với khó khăn tâm lý của HS
Cách Mức độ sử dụng
ĐTB ĐLC
ứng phó Không Ít TB Nhi ều
Nhóm “Đối diện với khó khăn và hành động”
Tự tách mình
khỏi vấn đề 2 17,2 49,5 31,3 3,05 0,75
Tích cực tác
động vào
hoàn cảnh 1 23,2 30,3 45,5 3,15 0,63
Sắp xếp lại
mọi việc một
cách tích cực 7,1 38,4 32,3 22,2 2,79 0,63
Lập kế hoạch 2 27,3 32,3 38,4 3,02 0,63
Chấp nhận
hoàn cảnh 7,1 26,3 24,2 42,4 3,03 0,74
Nhóm “Tìm kiếm hỗ trợ xã hội”
Hỗ trợ về
mặt tình cảm 9,1 19,2 27,3 44,4 3,02 0,74
Hỗ trợ về
mặt công cụ 6,1 30,6 34,3 29,2 2,92 0,73
Nhóm “Lẩn tránh khó khăn và tự trách mình”
Chối bỏ 29,3 48,5 12,1 10,1 2,2 0,78
Sử dụng chất
kích thích 74,7 9,1 7,1 9,1 1,58 0,93
Không hành
Thể hiện
tiêu cực 23,2 56,6 11,1 9,1 2,26 0,71
Cười nhạo 39,4 41,4 11,1 8,1 2,03 0,76
Y tố thần linh 30,3 36,4 19,2 14,1 2,28 0,9
Tự trách mình 20,2 33,3 25,3 21,2 2,55 0,87
- Đối với nhóm “Đối diện với khó khăn và hành động”
phần lớn các cách ứng phó đều được thực hiện ở mức trung
bình và nhiều Tuy nhiên cách “Sắp xếp lại mọi việc một
cách tích cực” để vượt qua khó khăn là chưa cao (38,4% ít
và 7,1% không) Điều này chứng tỏ sự ứng phó tích cực của
các em chưa đạt tới sự hoàn hảo Bởi lẽ việc sắp xếp lại một
cách tích cực mọi công việc của mình để vượt qua khó khăn,
không chỉ thể hiện sự nhận thức sâu sắc những vấn đề bản
thân phải đối mặt, mà còn thể hiện ý chí quyết tâm của cá
nhân nhằm vượt qua khó khăn đó Ngoài ra số liệu còn thể
hiện không có sự chênh lệch lớn giữa các cách ứng phó
- Các cách ứng phó thuộc nhóm “Tìm kiếm hỗ trợ xã
hội” gồm tìm kiếm hỗ trợ về mặt tình cảm và tìm kiếm hỗ
trợ về mặt công cụ, phương tiện được HS sử dụng ở mức
trung bình và nhiều Cách ứng phó này cũng thể hiện mặt
tích cực, tuy nhiên mức độ không cao bằng cách đối diện
với khó khăn và hành động Bởi lẽ khi bế tắc trong cuộc
sống nếu được người khác quan tâm, chia sẻ, động viên
giúp đỡ, cá nhân sẽ được giải tỏa về mặt tâm lý, trở nên vui
vẻ, có niềm tin vào bản thân Đó cũng là động lực lớn giúp
con người vượt qua khó khăn, giải quyết vấn đề một cách
nhanh chóng và hiệu quả hơn Điều này cho thấy sự cần
thiết phải có sự quan tâm, chia sẻ về mặt tình cảm và giúp
đỡ phương tiện vượt khó từ phía gia đình, thầy cô và mọi người đối với các em
- Số liệu còn cho thấy đa phần HS không hoặc ít sử dụng các cách thuộc nhóm “Lẩn tránh khó khăn và tự trách mình” để ứng phó với khó khăn Nhìn chung kết quả khảo sát thể hiện tính tích cực của HS trong ứng phó với khó khăn tâm lý
b Ứng phó với khó khăn tâm lý của HS xét ở góc độ giới tính
Tổng kết số liệu ứng phó với khó khăn tâm lý thể hiện
ở góc độ giới, kết quả có được như sau:
B ảng 3 Ứng phó với khó khăn tâm lý của HS (ở góc độ giới tính)
Các cách ứng phó ĐTB Sig
Nam Nữ Đối diện với khó khăn và hành động
Tự tách mình khỏi vấn đề 3,02 3,17 0,165 Tích cực tác động vào hoàn cảnh 3,20 3,17 0,000 Sắp xếp lại mọi việc một cách tích cực 2,78 2,81 0,004
Tìm kiếm hỗ trợ xã hội
Lẩn tránh khó khăn và tự trách mình
Thể hiện tiêu cực (gây gổ, buồn …) 2,25 2,27 0,815
Chú thích: Nếu sig > 0.05 kết luận không có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể, còn nếu sig < = 0.05 thì kết luận có sự
khác biệt giữa các nhóm khách thể
Số liệu thu được tại Bảng 3 chứng tỏ rằng:
- Nhóm ứng phó “Đối diện với khó khăn và hành động”, ứng phó của nam và nữ có sự khác biệt ở các cách tích cực tác động vào hoàn cảnh (sig = 0,000 < 0,05), sắp xếp lại
mọi việc một cách tích cực (sig = 0,004 < 0,05), lập kế hoạch (sig = 0,018 < 0,05) Với cách tự tách mình khỏi vấn
đề (sig = 0,165 > 0,05) và chấp nhận hoàn cảnh (sig = 0,095
> 0,05) thì không có sự khác biệt
- Các cách thuộc nhóm “Tìm kiếm hỗ trợ xã hội” thì nam
và nữ đều có sự khác biệt, vì hỗ trợ về mặt tình cảm (sig = 0,000) và hỗ trợ về mặt công cụ (sig = 0,024) đều < 0,05
- Với nhóm “Lẩn tránh khó khăn và tự trách mình”, ứng phó của nam và nữ có sự khác biệt ở cách sử dụng chất kích thích (sig = 0,000 < 0,05); cười nhạo (sing = 0,02 < 0,05) Còn lại ứng phó bằng những cách chối bỏ, không hành động, thể hiện tiêu cực, yếu tố thần linh, tự trách mình không có sự khác biệt giữa nam và nữ vì tất cả những cách này đều có sig > 0,05
Trang 440 Phạm Thị Mơ, Phạm Thị Xuân Hường
- Số liệu Bảng 3 còn thể hiện điểm trung bình trong
từng nhóm ứng phó của nữ và nam là khác nhau: Với nhóm
“Đối diện khó khăn và hành động”, ĐTB của nam (2,98)
nhỏ hơn ĐTB của nữ (3,09) Với nhóm “Tìm kiếm hỗ trợ
xã hội”, ĐTB của nam (2,78) cũng nhỏ hơn ĐTB của nữ
(3,13) Trong khi đó ở nhóm “lẩn tránh khó khăn và tự trách
mình”, ĐTB của nam (2,20) lại lớn hơn ĐTB của nữ (2,11)
Như vậy trước khó khăn, cả nam và nữ đều chọn cách ứng
phó tích cực nhiều hơn là ứng phó tiêu cực và nữ ứng phó
tích cực hơn nam
- Xét từng cách ứng phó trong mỗi nhóm cũng có sự
khác nhau giữa nam và nữ
Với nhóm “Đối diện với khó khăn và hành động” cách
ứng phó biểu hiện tính tích cực rõ nhất là “tích cực tác động
vào hoàn cảnh” thì nam (ĐTB = 3,20) cao hơn nữ (ĐTB =
3,17) Còn cách sắp xếp lại mọi công việc một cách tích
cực và lập kế hoạch ở nữ (ĐTB là 2,81 & 3,18) đều cao
hơn nam (ĐTB là 2,78 & 2,98)
Ở nhóm “Tìm kiếm hỗ trợ xã hội”, mọi cách tìm kiếm
ở nữ đều cao hơn ở nam Điều đó chứng tỏ khi ứng phó tích
cực, nam lựa chọn nhiều cách tích cực tác động đến hoàn
cảnh, còn nữ lựa chọn nhiều cách tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội
Đối với nhóm “Lẩn tránh khó khăn và tự trách mình”,
những cách biểu hiện ứng phó tiêu cực rõ nhất là “không
hành động”, “tự trách mình’, “ thể hiện tiêu cực” thì ĐTB
ở nữ đều cao hơn ĐTB ở nam Trong khi đó “Sử dụng chất
kích thích” thì ở nam (“ĐTB =1,86) cao hơn ở nữ (ĐTB =
1,34) Điều này cho thấy sự ứng phó tiêu cực của HS cũng
thể hiện rõ đặc điểm của giới tính
c Ứng phó với khó khăn tâm lý của HS xét ở góc độ
học lực
Kết quả khảo sát thể hiện qua số liệu tại Bảng 4 cho thấy:
- Đối với nhóm “Đối diện khó khăn và hành động”, HS
lớp 12 có học lực loại giỏi có ĐTB (3,11) cao hơn ĐTB của
HS có học lực loại khá (3,00) HS khá có ĐTB cao hơn
ĐTB của HS có học lực trung bình (2,85)
- Với nhóm “Tìm kiếm hỗ trợ xã hội”, ĐTB của HS giỏi
(2,96) và ĐTB của HS khá (2,97) chênh lệnh không nhiều
và đều cao ĐTB của HS trung bình(2,53)
- Với nhóm “Lẩn tránh khó khăn và tự trách mình”,
ĐTB của HS giỏi (2,19) và TB của HS khá (2,16) lại ít hơn
ĐTB của HS trung bình (2,27)
- Trong từng nhóm ứng phó, HS có học lực khác nhau
lựa chọn cách ứng phó cũng khác nhau:
Trong nhóm “đối diện với khó khăn và hành động”, ba
cách ứng phó có sự khác biệt giữa HS giỏi, HS khá và HS
trung bình là tích cực tác động vào hoàn cảnh (sig = 0,037
< 0,05), sắp xếp lại mọi việc một cách tích cực (sig = 0,044
< 0,05), lập kế hoạch (sig = 0,005 < 0,05) Đây cũng là
những cách thể hiện rõ nhất tính tích cực của sự ứng phó
của cá nhân trước khó khăn
Bảng 4 Ứng phó với khó khăn tâm lý của HS xét ở góc độ học lực
Các cách
ứng phó TB ĐTB Khá Giỏi Sig
Đối diện với khó khăn và hành động
mình khỏi
Tích cực tác động vào
Sắp xếp lại mọi việc một
Chấp nhận
Điểm trung
Tìm kiếm hỗ trợ xã hội
Hỗ trợ về
Hỗ trợ về
Điểm trung
Lẩn tránh khó khăn và tự trách mình
Sử dụng chất
Không hành
Thể hiện tiêu cực (gây gổ,
Yếu tố thần
Tự trách
Điểm trung
Điểm trung bình của mỗi cách ứng phó trong nhóm này
ở HS giỏi đều cao hơn HS khá, HS khá cao hơn HS trung bình
Với nhóm “Tìm kiếm hỗ trợ xã hội” giữa các loại HS
có sự khác biệt về tìm kiếm tình cảm (Sig = 0,008 < 0,05) Đối với nhóm “Lẩn tránh khó khăn và tự trách mình”,
có sự khác biệt giữa các loại HS ở những cách sau: Sử dụng
chất kích thích (sig = 0,000 < 0,05), không hành động (sig
= 0,015 < 0,05), yếu tố thần linh (sig = 0,002 < 0,05), tự trách mình (sig = 0, 013 < 0,05) Tổng ĐTB của ba cách lẩn tránh trước khó khăn biểu hiện mức độ tiêu cực rõ nhất
là “không hành động, thể hiện tiêu cực, tự trách mình” ở
HS giỏi thấp nhất (2,28), ở HS khá (ĐTB = 2,30) thấp hơn
HS trung bình (ĐTB = 2,55)
Những số liệu trên đây chứng tỏ, mức độ tích cực trong ứng phó của HS phụ thuộc vào năng lực học tập của các
em HS có học lực càng cao thì có cách ứng phó tích cực càng nhiều, ứng phó tiêu cực càng ít
d Ứng phó với khó khăn tâm lý trong từng loại hoạt động của HS
Kết quả khảo sát cách ứng phó của HS trong từng loại hoạt động cho thấy:
Trang 5ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 2(99).2016 41
- Trong học tập, phần lớn HS có cách ứng phó tương
đối tích cực là 78,8%, số HS tích cực không nhiều, chỉ có
7,1% Còn lại 14,1% chưa tích cực Quan sát thực tế cũng
cho thấy phần đông số HS được khảo sát vẫn tìm thầy để
học thêm những môn liên quan tới việc xét tuyển vào đại
học theo nguyện vọng của mình Các em cũng rất quan tâm
đến những thông tin liên quan đến dạng đề thi theo hướng
đổi mới “hai trong một” để tìm ra cách học phù hợp
- Trong lĩnh vực chọn nghề, có tới 33,3% số HS được
hỏi chưa có cách ứng phó tích cực; số tích cực 44,4%;
tương đối tích cực là 22,2% Như vậy sự thụ động khi ứng
phó với khó khăn trong việc chọn nghề của HS là không ít
Phương pháp trò chuyện với nhiều học sinh cũng cho kết
quả là có nhiều trường hợp các em chọn nghề theo ý của
cha mẹ hoặc theo ý của bạn bè Có những em băn khoăn
không biết chọn trường nào vì học xong đại học, ngành nào
cũng khó xin việc, học trường nghề thì không thích Thực
tế này đòi hỏi quá trình giáo dục hướng nghiệp phải tác
động đến mặt nhận thức của HS để các em thấy rằng không
nhất thiết cứ phải học đại học mới có nghề theo ý muốn
- Trước khó khăn trong quan hệ với người khác, phần
lớn HS có cách ứng phó tích cực
Quan hệ với bạn bè: Ứng phó tích cực 51,5%; tương
đối tích cực 35,4%; chưa tích cực 13,1%
Quan hệ với người thân: Ứng phó tích cực 64,6%;
tương đối tích cực 4%; chưa tích cực 31,3% Điều này được
lý giải bởi nét văn hóa của người Việt Nam vẫn còn tồn tại
ở nhiều gia đình hiện nay, đó là con cái phải nghe theo lời
cha mẹ
* Ứng phó với khó khăn tâm lý trong từng loại hoạt
động của HS xét ở góc độ giới tính
B ảng 5 Ứng phó với khó khăn tâm lý trong từng loại hoạt động
của HS xét ở góc độ giới tính
Trong mối quan hệ với bạn bè 2,24 2,51 0,007
Trong mối quan hệ với người thân 2,21 2,43 0,102
Số liệu Bảng 5 chứng tỏ ứng phó với khó khăn trong
học tập, trong chọn nghề, trong quan hệ với bạn bè của HS
là có sự khác biệt giữa nam và nữ, vì tất cả những yếu tố
này đều có sig < 0,05 Riêng ứng phó với khó khăn trong
mối quan hệ với người thân thì không có sự khác biệt giữa
nam và nữ (sig = 0,102 > 0,05) ĐTB của ứng phó với khó
khăn trong các loại hoạt động ở nữ (2,28) cao hơn nam
(2,08) Số liệu này làm sáng tỏ thêm nhận định mà chúng
tôi đã rút ra ở nội dung trên là khi phải đối mặt với những
khó khăn trong cuộc sống thì các em nữ thường ứng phó
tích cực hơn so với những em nam
* Ứng phó với khó khăn tâm lý trong từng loại hoạt
động của HS xét ở góc độ học lực
- Số liệu Bảng 6 chứng minh rằng, có sự khác biệt về ứng
phó trong học tập và chọn nghề giữa HS giỏi, HS khá và HS
trung bình (sig = 0,015 & 0,024 < 0,05) Điểm trung bình
của ứng phó trong hai loại hoạt động này của những HS có
năng lực học tập loại giỏi cao hơn HS khá, HS khá cao hơn
HS trung bình Như vậy khả năng ứng phó của HS trong học
tập và chọn nghề có sự ảnh hưởng bởi yếu tố năng lực Học sinh có năng lực học tập càng cao, sự ứng phó trước khó khăn trong học tập và chọn nghề càng tích cực
B ảng 6 Ứng phó với khó khăn tâm lý trong từng loại hoạt động
của HS xét ở góc độ học lực
Khó khăn trong quan hệ với người khác mang những đặc trưng riêng Ứng phó trong lĩnh vực này phụ thuộc khá nhiều vào đặc điểm khí chất, tính cách, tình cảm của mỗi người Loại ứng phó này không có khác biệt (sig = 0,061 & 0,994)
giữa những học sinh có năng lực học tập khác nhau
2.3.3 Các yếu tố tác động đến ứng phó với khó khăn tâm
lý c ủa HS lớp 12 Trường THPT Thái Phiên, TP Đà Nẵng
Kết quả nghiên cứu phản ánh các yếu tố tác động đến ứng phó với khó khăn của HS như sau:
- Ứng phó của các em chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi gia đình (ĐTB = 2,67) Điều này phản ánh đặc trưng văn hóa Việt Nam, dù con cái đã lớn khôn thì cha mẹ vẫn luôn
là chỗ dựa, hỗ trợ con cái từ vật chất đến tinh thần trong
lúc khó khăn
- Sau gia đình bạn bè là những người có ảnh hưởng nhiều đến ứng phó của HS (ĐTB = 2,46) Nguyên nhân là do quan
hệ bạn bè thân thiết ở tuổi học sinh THPT mang tính bền vững sâu sắc, các em sẵn sàng chia sẻ những băn khoăn, bế tắc và giúp đỡ nhau trong những hoàn cảnh khó khăn
- Thầy cô giáo là người có ảnh hưởng ít nhất đối với khả năng ứng phó trước khó khăn của các em (ĐTB = 2,23) Đây là vấn đề cần lưu tâm, bởi lẽ hơn ai hết
thầy cô là những người có tri thức khoa học và tri thức sư phạm Nhiệm vụ giáo dục của nhà trường không chỉ dạy tri thức khoa học mà còn dạy học sinh kỹ năng sống, trong đó
có kỹ năng biết vượt khó để thành công trong cuộc sống
3 Kết luận
Qúa trình khảo sát thực trạng ứng phó của HS lớp 12 trường THPT Thái Phiên, TP Đà Nẵng năm học 2014-2015
có được kết quả như sau: Phần lớn học sinh lớp 12 Trường THPT Thái Phiên, thành phố Đà Nẵng gặp khó khăn trong học tập, chọn nghề và quan hệ với người khác Nhìn chung ứng phó của các em trước những khó khăn theo hướng tích cực (đối đầu với khó khăn và hành động, tìm kiếm sự hỗ
trợ) nhiều hơn là ứng phó theo hướng tiêu cực (lấn tránh khó khăn và tự trách mình) Ứng phó của HS có sự khác biệt xét theo giới tính và học lực HS nữ ứng phó tích cực hơn HS nam Trong ứng phó tích cực, nam lựa chọn nhiều cách tích cực tác động đến hoàn cảnh, nữ lựa chọn nhiều cách tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội Mức độ tích cực trong ứng
Trong mối quan hệ với
Trong mối quan hệ với
Trang 642 Phạm Thị Mơ, Phạm Thị Xuân Hường phó của HS phụ thuộc vào năng lực học tập của các em
HS có học lực càng cao thì có cách ứng phó tích cực
càng nhiều, ứng phó tiêu cực càng ít Riêng ứng phó với
khó khăn trong quan hệ với người khác của HS thì không
có sự khác biệt xét theo giới và năng lực học tập Ứng phó
của các em chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ gia đình và bạn
bè, ít chịu ảnh hưởng từ phía thầy cô giáo
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi có khuyến nghị:
Giáo viên bộ môn cần quan tâm nhiều hơn nữa để giúp
các em vượt qua khó khăn trong học tập Nhà trường cần
chú ý nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục hướng
nghiệp, tăng cường dạy kỹ năng sống cho học sinh, trong
đó chú trọng đến kỹ năng tự lập, vượt khó và kỹ năng hợp
tác với bạn bè, hợp tác với người khác Nội dung, hình thức
rèn luyện những kỹ năng trên phải phù hợp với từng loại
HS có năng lực học tập khác nhau và phù hợp với đặc điểm
giới tính của các em Đối với gia đình, cần tạo môi trường
thuận lợi về vật chất và tinh thần, giúp các em vượt khó, nhưng không bao cấp, không làm thay Cần quan tâm đến
bạn bè của con cái, phát huy vai trò của bạn bè đối với việc hình thành phát triển nhân cách của các em
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trần Thị Tú Anh, Ứng phó với khó khăn của sinh viên thiệt thòi Đại
học Huế, Đề tài dự án PHE, 2009
[2] Dương Thị Diệu Hoa, Vũ Khánh Linh, Trần Văn Thức, “Khó khăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của học sinh trung học phổ thông”, Tạp
chí Tâm lý học số 2 (95), 2- 2007, Tr 36 – tr42
[3] Nguyễn Thị Thu Huyền, Thực trạng khó khăn tâm lý trong quá trình
giải bài tập thực hành các thao tác kỹ thuật của sinh viên trường CĐSP Kỹ Thuật Vinh, Luận văn thạc sỹ, 2002
[4] Phan Thị Mai Hương, Các cách ứng phó của trẻ vị thành niên với
hoàn cảnh khó khăn, NXB Khoa học Xã hội, 2007
[5] Lê Quang Sơn, Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, NXB
Đà Nẵng, 2011
(BBT nhận bài: 29/09/2015, phản biện xong: 14/12/2015)