Từ thực tại nêu trên, cần bổ sung các quy định cần thiết về quản lý chi phíđầu tư xây dựng để tăng cường kiểm tra, kiểm soát chi phí các dự án, công trình sử dụng vốn nhà nước trên cơ sở
Trang 1TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
Người soạn : Lê Văn Thịnh Cựu Trưởng phòng Quản lý chất lượng công trình xây dựng Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng
Bộ Xây dựng
Phần I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ ÁN
I KHÁI NIỆM VỀ DỰ ÁN
1 Khái niệm
Theo Đại bách khoa toàn thư , từ “ Project – Dự án” được hiểu là “ Điều
có ý định làm” hay “ Đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành động” Nhưvậy, dự án có khái niệm vừa là ý tưởng, ý đồ, nhu cầu vùa có ý năng động,chuyển động hành động Chính vì lẽ đó mà có khá nhiều khái niệm về thuật ngữnày, cụ thể như :
Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đódưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn lực đã định Thông qua việc thực hiện
dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã dề ra và kết quả của nó có thể
là một sản phẩm hay một dịch vụ mà bạn mong muốn
Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việcnhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựatrên nguồn vốn xác định
Dự án là một quá trình mang đặc thù riêng bao gồm một loạt các hoạtđộng được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thựchiện với những hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn lực nhằm đạt được mụctiêu phù hợp với những yêu cầu cụ thể
Dự án là đối tượng của quản lý và là một nhiệm vụ mang tính chất 1 lần,
có mục tiêu rõ ràng trong đó bao gồm chức năng, số lượng và tiêu chuẩn chấtlượng), yêu cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có
dự toán tài chính từ trước và nói chung không được vuợt qua dự toán đó
2 Đặc điểm chủ yếu của dự án:
2.1 Nhiệm vụ có tính đặc thù riêng, có tính một lần:
Không có nhiệm vụ nào khác có thể giống hoàn toàn với nhiệm vụ này.Điểm khác biệt của nó được thể hiện trên bản thân nhiệm vụ và trên thành quảcuối cùng
Trang 22.2 Phải đáp ứng những mục tiêu rõ ràng.
Mục tiêu của dự án bao gồm hai loại:
a) Mục tiêu mang tính thành quả là yêu cầu mang tính chức năng của dự
án như: công suất , chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật
b) Mục tiêu mang tính ràng buộc như thời hạn hoàn thành, chi phí, chấtlượng
2.3 Mang những yếu tố không chắc chắn và rủi ro
2.4 Chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định
2.5 Yêu cầu có sự kết hợp nhiều nguồn lực đa dạng
2.6 Là đối tượng mang tính tổng thể
3.5 Sự tương tác giữa các hoạt động dự án có thể phức tạp
II VÒNG ĐỜI CỦA DỰ ÁN
1 Khái niệm
Vì có thời gian khởi đầu và kết thúc nên dự án có một vòng đời Vòng đời
của Dự án bao gồm nhiều giai đoạn phát triển từ ý tưởng đến việc triển khai nhằmđạt được kết quả của Dự án Trong vòng đời này, công tác quản lý chú trọng vàophương thức kiểm soát nhằm giảm thiểu những nguồn lực và tiền của dành chonhững mục tiêu không chắc chắn
Khái niệm vòng đời xuất phát từ ba quan điểm sau:
• Dự án có thời gian khởi đầu và kết thúc
• Dự án giải quyết một vấn đề hoặc nhằm đạt tới một nhu cầu về tổ chức
• Quá trình quản lý được thực hiện song song với vòng đời
Hầu hết các dự án phát triển sử dụng vòng đời bốn giai đoạn:
Giai đoạn Tên gọi Những mục tiêu quản lý
Trang 3• Giáo dục và thông tin
• Qui hoạch chi tiết và thiết kế
• Giải thể nhân viên
• Kiểm toán và xem xét
2 Vòng đời của dự án theo các xác định của Ngân Hàng Thế giới:
2.1 Xác định các nội dung của dự án
2.2 Chuẩn bị dữ liệu
2.3 Đánh giá dữ liệu và lựa chọn giải pháp cho dự án
Trang 42.4 Đàm phán và huy động thành lập tổ chức dự án
2.5 Triển khai bao gồm thiết kế chi tiết và xây dựng dự án
2.6 Thực hiện Dự án
2.7 Đánh giá tổng kết sau dự án
3 Phân loại cơ bản các dự án trong điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1 Dự án xã hội : Cải tổ hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
vệ an ninh trật tự cho tất cả các tầng lớp dân chúng, khắc phục những hậu quảthiên tai
3.2 Dự án kinh tế: Cổ phần hóa doanh nghiệp, tổ chức hệ thống đấu
thầu, bán đấu giá tài sản, xây dựng hệ thống thuê mới
3.3 Dự án tổ chức: Cải tổ bộ máy quản lý thực hiện cơ cấu sản xuất
kinh doanh mới tổ chức các hội nghị quốc tế, đổi mới hay thành lập các tổ chức
xã hội, các hội nghề nghiệp khác
3.4 Các dự án nghiên cứu và phát triển: Chế tạo các sản phẩm mới,
nghiên cứu chế tạo các kết cấu xây dựng mới, xây dựng các chương trình phầnmềm tự động hóa
3.5 Dự án đầu tư xây dựng: Các công trình dân dụng, công nghiệp,
công cộng và hạ tầng kỹ thuật
III NỘI DUNG QUẢN LÝ DỰ ÁN
1 Khái niệm về quản lý dự án
Sự xuất hiện của hàng loạt công trình kém chất lượng, công trình dở dang,chúng ta cảm thấy đau lòng Nếu các nhà quản lý hiểu rõ được kiến thức quản lý
lý dự án nắm vững được quy luật vận động của dự án thi sẽ tránh được rất nhiềucác hiện tượng
Từ những năm 50 trở lại đây, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoahọc kỹ thuật và kinh tế xã hội, các nước đều cố gắng nâng cao sức mạnh tổnghợp của bản thân nhằm theo kịp cuộc cạnh tranh toàn cầu hóa Chính trong tiếntrình này, các tập đoàn doanh nghiệp lớn hiện đại hóa không ngừng xây dựngnhững dự án công trình có quy mô lớn kỹ thuật cao, chất lượng tốt Dự án đã trởthành phần cơ bản trong cuộc sống xã hội Cùng với xu thế mở rộng quy mô dự
án và sự không ngừng nâng cao về trình độ khoa học công nghệ, các nhà đầu tư
dự án cũng yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng dự án
Vì thế, quản lý dự án trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của
dự án Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệthống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự ándưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhàđầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế vàđịnh giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án
Trang 52 Những đặc trưng cơ bản về quản lý dự án
2.1 Chủ thể của quản lý dự án chính là người quản lý dự án.
2.2 Khách thể của quản lý dự án liên quan đến phạm vi công việc của
dự án (tức là toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án) Những công việc này tạo
thành quá trình vận động của hệ thống dự án Quá trình vận động này được gọi
là chu kỳ tồn tại của dự án
2.3 Mục đích của quản lý dự án là để thực hiện mục tiêu của dự án, tức
là sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Bản thânviệc quản lý không phải là mục đích mà là cách thực hiện mục đích
2.4 Chức năng của quản lý dự án có thể khái quát thành nhiệm vụ lên
kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án Nếu tách rời các chứcnăng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả mục tiêu quản lý cũng khôngđược thực hiện Quá trình thực hiện mỗi dự án đều cần có tính sáng tạo, vì thếchúng ta thường coi việc quản lý dự án là quản lý sáng tạo
3 Nội dung quản lý dự án
Quản lý dự án là việc giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức, lên kế hoạchđối với 4 giai đoạn của vòng đời dự án trong khi thực hiện dự án (giai đoạn hìnhthành, giai đoạn phát triển, giai đoạn trưởng thành và giai đoạn kết thúc) Mụcđích của nó là từ góc độ quản lý và tổ chức, áp dụng các biện pháp nhằm đảmbảo thực hiện tốt mục tiêu dự án như mục tiêu về giá thành, mục tiêu thời gian,mục tiêu chất lượng Vì thế, làm tốt công tác quản lý là một việc có ý nghĩa vôcùng quan trọng
3.1 Quản lý phạm vi dự án
Tiến hành khống chế quá trình quản lý đối với nội dung công việc của dự
án nhằm thực hiện mục tiêu dự án Nó bao gồm việc phân chia phạm vi, quyhoạch phạm vi, điều chỉnh phạm vi dự án …
3.2 Quản lý thời gian dự án
Quản lý thời gian dự án là quá trình quản lý mang tính hệ thống nhằmđảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra Nó bao gồm cáccông việc như xác định hoạt động cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt động, bố trí thờigian khống chế thời gian và tiến độ dự án
3.3 Quản lý chi phí dự án
Quản lý chi phí dự án là quá trình quản lý chi phí, giá thành dự án nhằmđảm bảo hoàn thành dự án mà chi phí không vượt quá mức trù bị ban đầu Nóbao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí
3.4 Quản lý chất lượng dự án
Quản lý chất lượng dự án là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện
dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra
Trang 6Nó bao gồm việc quy hoạch chất lượng khống chế chất lượng và đảm bảo chấtlượng …
3.5 Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực là phương pháp quản lý mang tính hệ thốngnhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi nguờitrong dự án và tận dụng nó một cách có hiệu quả nhất Nó bao gồm các việc nhưquy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và xây dựng cácban quản lý dự án
3.6 Quản lý việc trao đổi thông tin dự án
Quản lý việc trao đổi thông tin dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ thốngnhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập, trao đổi một cách hợp lý các tin tức cầnthiết cho việc thực hiện dự án cũng như việc truyền đạt thông tin, báo cáo tiến
độ dự án
3.7 Quản lý rủi ro trong dự án
Khi thực hiện dự án sẽ gặp phải những nhân tố rủi ro mà chúng ta khônglường trước được Quản lý rủi ro là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằmtận dụng tối đa những nhân tố có lợi không xác định và giảm thiểu tối đa những
nhân tố bất lợi không xác định cho dự án Nó bao gồm việc nhận biết phân biệt
rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống chế rủi ro
3.8 Quản lý việc thu mua của dự án
Quản lý việc thu mua của dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ thốngnhằm sử dụng những hàng hóa, vật liệu thu mua được từ bên ngoài tổ chức thựchiện dự án Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua lựa chọn việc thu mua vàtrưng thu các nguồn vật liệu
3.9 Quản lý việc giao nhận dự án
Đây là một nội dung quản lý dự án mới mà Hiệp hội các nhà quản lý dự
án trên thế giới đưa ra dựa vào tình hình phát triển của quản lý dự án Một số dự
án tương đối độc lập nên sau khi thực hiện hoàn thành dự án, hợp đồng cũng kếtthúc cùng với sự chuyển giao kết quả Nhưng một số dự án lại khác, san khi dự
án hoàn thành thì khách hàng lập tức sử dụng kết quả dự án này vào việc vậnhành sản xuất Dự án vừa bước vào giai đoạn đầu vận hành sản xuất nên kháchhàng (người tiếp nhận dự án) có thể thiếu nhân tài quản lý kinh doanh hoặc chưanắm vững được tính năng, kỹ thuật của dự án Vì thế cần có sự giúp đỡ của đơn
vị thi công dự án giúp đơn vị tiếp nhận dự án giải quyết vấn đề này, từ đó mà
xuất hiện khâu quản lý việc giao - nhận dự án Quản lý việc giao - nhận dự án
cần có sự tham gia của đơn vị thi công dự án và đơn vị tiếp nhận dự án, tức làcần có sự phối hợp chặt chẽ gian hai bên giao và nhận, như vậy mới tránh đượctình trạng dự án tốt nhưng hiệu quả kém, đầu tư cao nhưng lợi nhuận thấp.Trong rất nhiều dự án đầu tư quốc tế đã gặp phải trường hợp này, do đó quản lý
Trang 7việc giao - nhận dự án là vô cùng quan trọng và phải coi đó là một nội dungchính trong việc quản lý dự án.
4 Ý nghĩa của quản lý dự án
4.1 Thông qua quản lý dự án có thể tránh được những sai sót trong những công trình lớn, phức tạp.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và không ngừng nâng caođời sống nhân dân, nhu cầu xây dựng các dự án công trình quy mô lớn, phức tạpcũng ngày càng nhiều Ví dụ, công trình xây dựng các doanh nghiệp lớn, cáccông trình thủy lợi, các trạm điện và các công trình phục vụ ngành hàng không.Cho dù là nhà đầu tư hay người tiếp quản dự án đều khó gánh vác được nhữngtổn thất to lớn do sai lầm trong quản lý gây ra Thông qua việc áp dụng phươngpháp quản lý dự án khoa học hiện đại giúp việc thực hiện các dự án công trìnhlớn phức tạp đạt được mục tiêu đề ra một cách thuận lợi
4.2 Áp dụng phương pháp quản lý dự án sẽ có thể khống chế, điều tiết
Một công trình dự án có quy mô lớn sẽ liên quan đến rất nhiều bên thamgia dự án như người tiếp quản dự án, khách hàng, đơn vị thiết kế, nhà cung ứng,các ban ngành chủ quản nhà nước và công chúng xã hội Chỉ khi điều tiết tốt cácmối quan hệ này mới có thể tiến hành thực hiện công trình dự án một cách thuậnlợi
4.3 Quản lý dự án thúc đẩy sự trưởng thành nhanh chóng của các nhân tài chuyên ngành.
Mỗi dự án khác nhau lại đòi hỏi phải có các nhân tài chuyên ngành khácnhau Tính chuyên ngành dự án đòi hỏi tính chuyên ngành của nhân tài Vì thế,quản lý dự án thúc đẩy việc sử dụng và phát triển nhân tài, giúp cá nhân tài cóđất để dụng võ
Tóm lại, quản lý dự án ngày càng trở nên quan trọng và có nghĩa trongđời sống kinh tế Trong xã hội hiện đại, nếu không nắm vững phương pháp quản
lý dự án sẽ gây ra những tổn thất lớn Để tránh được những tổn thất này và giànhđược những thành công trong việc quản lý dự án thì trước khi thực hiện dự án.chúng ta phải lên kế hoạch một cách tỉ mỉ, chu đáo
5 Bảy yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dự án:
Trang 85.1 Hai yếu tố do tác động bên ngoài
5.1.1 Nguồn tài trợ và chương trình: nguồn tài chính do nhà tài trợ và chủ
dự án cung cấp, kết quả mong đợi và thời gian "hoàn " vốn
5.1.2 Ảnh hưởng bên ngoài như tác động về chính trị, kinh tế, xã hội,pháp lý, môi trường
5.2 Hai yếu tố phát sinh từ chiến lược của dự án
a) Thái độ: thể hiện tầm quan trọng của dự án và sự hỗ trợ của các bênliên quan
b) Xác định: dự án cần xác định rõ phải làm gì, phương pháp tiếp cận thiết
kế dự án và chiến lược thực hiện
5.3 Ba yếu tố xuất phát từ bên trong tổ chức dự án
a) Con người: sự quản lý và lãnh đạo
b) Hệ thống: kế hoạch, chế độ báo cáo và kiểm soát để đo lường tiến độcủa dự án
c) Tổ chức: vai trò, trách nhiệm và quan hệ giữa các bên tham gia
Phần II GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH (LUẬT XÂY DỰNG, LUẬT ĐẦU TƯ, LUẬT ĐẦU TƯ CÔNG, LUẬT ĐẤT ĐAI, LUẬT ĐẤU THẦU, LUẬT QUY HOẠCH ĐÔ THỊ)
I LUẬT XÂY DỰNG
1 Quá trình chuẩn bị dự án Luật Xây dựng 2014
a) Căn cứ Nghị quyết số 23/2012/QH13 ngày 13 tháng 6 năm 2012 củaQuốc hội nhiệm kỳ thứ XIII về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm
2013, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1229/QĐ-TTg ngày 07 tháng 9năm 2012 giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thựchiện dự án Luật Xây dựng (sửa đổi)
b) Bộ Xây dựng đã thành lập Ban soạn thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) vớicác thành viên là đại diện của một số Bộ ngành và cơ quan liên quan tại Quyếtđịnh số 657/QĐ-BXD ngày 05/7/2012
c) Ban soạn thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) đã tiến hành tổng kết, đánh giátình hình thi hành pháp luật về xây dựng giai đoạn 2003 – 2012; tổ chức khảosát thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về xây dựng tại một số địa phương
và doanh nghiệp đại diện cho các vùng, địa phương trong nước; tổ chức nghiêncứu, tham khảo kinh nghiệm về quản lý hoạt động đầu tư xây dựng của một số
Trang 9nước như Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản qua đó rút ra những nội dungcần thiết có thể vận dụng trong soạn thảo Luật Xây dựng (sửa đổi).
c) Dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) đã được đăng tải trên trang thông tinđiện tử của Bộ Xây dựng để lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các tổ chức, doanhnghiệp và nhân dân Ban soạn thảo đã phối hợp tổ chức một số buổi hội thảo vềLuật Xây dựng (sửa đổi) tại các khu vực Miền Bắc, Miền Trung và Miền Namvới sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức, hội nghềnghiệp; đã gửi văn bản lấy ý kiến của các Bộ ngành, địa phương, một số doanhnghiệp, tổ chức, hội nghề nghiệp đối với dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) đồngthời phối hợp với Uỷ ban Khoa học và Công nghệ của Quốc hội thực hiện giámsát tình hình thi hành pháp luật về xây dựng ở một số địa phương, công trình xâydựng Trên cơ sở tiếp thu các ý kiến đóng góp đối với dự thảo Luật, Ban soạnthảo đã bổ sung, hoàn chỉnh dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) để trình Chính phủtại văn bản số 22/TTr-BXD ngày 18/6/2013
d) Dự án Luật Xây dựng (sửa đổi) đã được Bộ Tư pháp thẩm định tại vănbản số 123/BC-HĐTĐ ngày 10/6/2013 và được các thành viên Chính phủ thảoluận, thông qua để trình ra Quốc hội
2 Sự cần thiết ban hành Luật Xây dựng 2014.
Luật Xây dựng được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 26/11/2003 và cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Để thi hành Luật Xây dựng, Chính phủ vàThủ tướng Chính phủ đã ban hành 18 Nghị định, 6 Quyết định để trên cơ sở đó,các Bộ ngành, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố đã có nhiều thông tư, quyđịnh hướng dẫn thực hiện Luật Xây dựng
Luật Xây dựng và hệ thống các quy định pháp luật về xây dựng đã tạo lậphành lang pháp lý cần thiết và môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhântrong nước và nước ngoài tham gia các hoạt động đầu tư xây dựng, góp phầnthúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội, từng bước hình thành và vậnhành thị trường xây dựng với nhiều thành phần kinh tế tham gia có sự quản lýcủa nhà nước
Những kết quả đạt được của Luật Xây dựng và hệ thống các quy định phápluật về xây dựng đã được tổng kết và đánh giá trong Báo cáo đánh giá tình hìnhthực hiện Luật Xây dựng năm 2003
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Luật Xây dựng (2003) cũng bộc lộnhững mặt hạn chế, chưa đáp ứng kịp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội vàchuyển đổi mô hình tăng trưởng của nước ta trong giai đoạn hiện nay, hiệu lực,hiệu quả của quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng còn bất cập, yếu kém đượcbiểu hiện ở một số điểm sau đây:
Một là: Quy định của Luật Xây dựng (2003) và các văn bản hướng dẫn thi
hành Luật chưa có sự phân định rõ về trách nhiệm của các chủ đầu tư khác nhaukhi quản lý sử dụng các nguồn vốn khác nhau để đầu tư xây dựng Trong nềnkinh tế nhiều thành phần với các hình thức sở hữu khác nhau, việc thiếu các quy
Trang 10định cụ thể để quản lý sử dụng vốn theo tính chất, loại nguồn vốn sử dụng làmột kẽ hở trong quản lý, dễ bị lợi dụng gây thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây
dựng Đối với các dự án, công trình được đầu tư xây dựng bằng các nguồn vốn
của doanh nghiệp, tổ chức và tư nhân, chủ đầu tư thường đồng thời là người sởhữu vốn nên trách nhiệm quản lý sử dụng vốn là rõ ràng và luôn gắn với lợi íchthiết thực của chủ đầu tư Riêng đối với các dự án, công trình sử dụng vốn nhànước, chủ đầu tư không phải là chủ sở hữu vốn mà chỉ là người được nhân dânthông qua Quốc hội, Chính phủ, các Bộ ngành, địa phương ủy quyền quản lý sửdụng vốn để đầu tư xây dựng Việc thiếu các quy định cụ thể về thẩm quyền vàphương thức quản lý áp dụng đối với các chủ đầu tư khác nhau dẫn đến chủ đầu
tư dự án công trình sử dụng vốn nhà nước thiếu quan tâm đối với những vấn đềliên quan đến hiệu quả đầu tư xây dựng, chất lượng, tiến độ, chi phí thực hiện vàkhả năng khai thác, sử dụng công trình Đây là một trong những nguyên nhândẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp, ảnh hưởng đếntốc độ tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội ở nước ta hiện nay.Như vậy, việc quy định thẩm quyền của chủ đầu tư sử dụng vốn nhà nước cầnđược giới hạn và phải có phương thức quản lý phù hợp
Hai là: Quá trình đẩy mạnh phân cấp quản lý đầu tư xây dựng được thể
hiện trong các quy định pháp luật về phân cấp quyết định đầu tư, phân quyền đốivới chủ đầu tư chưa phù hợp với năng lực, mặt khác chỉ quy định việc hậu kiểmcủa cơ quan quản lý nhà nước nhưng thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát dẫn đếnnhững sai phạm, thất thoát, lãng phí lớn Bên cạnh đó, vai trò quản lý nhà nướcthống nhất, xuyên suốt toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ khâu quy hoạch, kếhoạch đến quản lý thực hiện dự án chưa được quy định rõ và thiếu nhất quángiữa quyền hạn và trách nhiệm, giữa các Bộ quản lý ngành, giữa trung ương vàđịa phương đã ảnh hưởng đến việc thực hiện phân cấp quản lý trong đầu tư xâydựng
Do hoạt động đầu tư xây dựng là một lĩnh vực lớn, đa dạng và phức tạp, cóliên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều chủ thể và được điều chỉnh bằngnhiều loại quy định pháp luật khác nhau nên việc phân cấp, phân quyền quản lýchưa hợp lý và thiếu đồng bộ là một tồn tại, hạn chế lớn cần sớm được khắcphục
Ba là: Công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng có vai trò rất quan trọng trong
việc xem xét, quyết định đầu tư và bảo đảm hiệu quả của dự án Nội dung chủyếu của công tác này là việc lập dự án với thiết kế cơ sở là nội dung cốt lõi LuậtXây dựng (2003) đã có những quy định về thiết kế cơ sở của dự án nhưng cácquy định này chưa được coi trọng đúng mức khi lập, thẩm định và phê duyệt dự
án Điều này một mặt xuất phát từ nhận thức của người quyết định đầu tư, chủđầu tư về vai trò của thiết kế cơ sở, mặt khác do pháp luật về xây dựng còn thiếunhững quy định cụ thể về sự tham gia, kiểm soát của cơ quan chuyên môn vềxây dựng đối với thiết kế cơ sở của dự án
Trang 11Đối với dự án đầu tư xây dựng, thiết kế cơ sở là bước thiết kế xây dựng đầutiên và là nhân tố chính quyết định mức độ khả thi trong thực hiện và hiệu quảđầu tư của dự án Trong trường hợp thiết kế cơ sở đưa ra các lựa chọn về quy
mô đầu tư, giải pháp công nghệ, loại vật liệu, quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụngkhông phù hợp hoặc vượt quá yêu cầu khai thác, sử dụng công trình sẽ dẫn đến
sự tùy tiện, gây lãng phí Mặt khác, thiết kế cơ sở có chất lượng thấp do công táckhảo sát sơ sài, lựa chọn địa điểm xây dựng không phù hợp… thì trong quá trìnhthực hiện sẽ phải điều chỉnh, bổ sung gây tốn kém, lãng phí về nguồn lực và thờigian, làm giảm hiệu quả của đầu tư xây dựng
Việc quy định người quyết định đầu tư tự chịu trách nhiệm thẩm định thiết
kế cơ sở khi thẩm định dự án và chỉ lấy ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nướckhi cần thiết dẫn đến ý kiến về thiết kế cơ sở của các cơ quan quản lý nhà nướckhông là cơ sở pháp lý cần thiết, không kiểm soát được về quy mô đầu tư, địađiểm xây dựng, mức độ đáp ứng các yêu cầu về an toàn xây dựng công trình,phòng chống cháy nổ, kết nối hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ cảnh quan và môi trườngcủa dự án
Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng, tăng cường sựkiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước đối với thiết kế cơ sở của dự án là giảipháp cần thiết để khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp như hiệnnay
Bốn là: Chất lượng công trình xây dựng được quyết định bởi chất lượng
của nhiều khâu như thiết kế xây dựng, năng lực của nhà thầu thi công, giám sát,nghiệm thu và bàn giao…
Luật Xây dựng (2003) quy định việc phân quyền cho chủ đầu tư tự tổ chứcthẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng sau thiết kế cơ sở của dự án Việc quyđịnh như vậy chỉ phù hợp một phần với các dự án, công trình sử dụng các nguồnvốn ngoài nhà nước Đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, việc quy định chủđầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế là thiếu chặt chẽ, dễ bị lợi dụng Dokhông ít các chủ đầu tư còn có những hạn chế về năng lực và kinh nghiệm nên
có trường hợp đã uỷ thác toàn bộ công việc thiết kế cho tư vấn, nhà thầu xâydựng thực hiện; trong một số trường hợp khác lại thông đồng với tư vấn và nhàthầu để nâng khống khối lượng gây thất thoát, tham nhũng, lãng phí
Để khắc phục tình trạng nêu trên, cần phải bổ sung quy định về tráchnhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, của tổ chức chuyên môn có đủ điều kiệnnăng lực trong việc thẩm định, thẩm tra thiết kế xây dựng sau thiết kế cơ sở Một số quy định về công tác giám sát, nghiệm thu chất lượng công trìnhxây dựng trong Luật Xây dựng (2003) cũng cần được xem xét, bổ sung nhằmtăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với công tác này Đồng thời, cần có quyđịnh chặt chẽ về điều kiện năng lực hoạt động, năng lực hành nghề của các tổchức, cá nhân tham gia và tăng cường quản lý, giám sát hoạt động xây dựng làm
cơ sở cho các chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệmphù hợp với yêu cầu của công việc
Trang 12Chất lượng công trình xây dựng sau khi bàn giao đưa vào khai thác sử dụng
đã được Luật Xây dựng (2003) đề cập đến trong các quy định về bảo hành, bảotrì công trình xây dựng Tuy nhiên, việc thực hiện quy định về bảo hành côngtrình xây dựng có những tồn tại trên thực tế như: còn có những khiếm khuyết vềchất lượng công trình xây dựng sau thời hạn bảo hành, chủ đầu tư chiếm dụngvốn của nhà thầu khi giữ lại chi phí bảo hành ngoài thời hạn quy định, nhà thầuxây dựng bị giải thể, phá sản trong thời gian bảo hành Để khắc phục tình trạngnày, cần bổ sung quy định về bảo hiểm bảo hành công trình xây dựng
Năm là: Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Luật
Xây dựng (2003) chưa được phân định rõ theo loại nguồn vốn sử dụng để đầu tưxây dựng cũng như còn thiếu các quy định cụ thể để bảo đảm tính đúng, tính đủchi phí theo từng công trình phù hợp với yêu cầu khách quan của thị trường Đốivới các dự án, công trình sử dụng vốn nhà nước, một số quy định về phân quyềncho chủ đầu tư thẩm định, phê duyệt dự toán chi phí xây dựng trong điều kiệnnăng lực của nhiều chủ đầu tư còn hạn chế, thiếu quy định kiểm tra, kiểm soátcủa cơ quan quản lý nhà nước dẫn đến những sơ hở, dễ bị lợi dụng làm tăng chiphí đầu tư xây dựng, gây thất thoát, lãng phí lớn Quy định về điều chỉnh tổngmức đầu tư, chi phí thực hiện do những biến động lớn, bất thường của thị trườngthường không phù hợp và thiếu nhất quán gây khó khăn cho chủ đầu tư và nhàthầu xây dựng, làm kéo dài tiến độ, gây lãng phí Pháp luật về đầu tư xây dựnghiện còn thiếu các quy định, chế tài cần thiết để điều chỉnh, xử lý đối với tìnhtrạng nợ đọng kéo dài trong đầu tư xây dựng
Từ thực tại nêu trên, cần bổ sung các quy định cần thiết về quản lý chi phíđầu tư xây dựng để tăng cường kiểm tra, kiểm soát chi phí các dự án, công trình
sử dụng vốn nhà nước trên cơ sở quy định việc cơ quan quản lý nhà nước theophân cấp kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng khi thẩm định thiết kế xây dựng; đổimới phương thức định giá sản phẩm, công trình xây dựng theo suất đầu tư, giá
bộ phận kết cấu, công trình xây dựng gắn với quy định việc nhà nước thống nhấtquản lý đối với các hao phí định lượng và phù hợp với mặt bằng giá thị trường;hạn chế việc điều chỉnh tổng mức đầu tư, giá hợp đồng xây dựng trong quá trìnhthực hiện đồng thời bổ sung các chế tài cần thiết để xử lý tình trạng nợ đọngtrong đầu tư xây dựng hiện nay
Hợp đồng xây dựng là công cụ quan trọng để quản lý dự án và chi phí đầu
tư xây dựng Luật Xây dựng (2003) chưa quy định cụ thể về các nội dung như:loại hợp đồng, nguyên tắc ký kết hợp đồng, giá hợp đồng, thanh toán và điềuchỉnh giá hợp đồng, chế tài đối với hành vi vi phạm
Sáu là: Luật Xây dựng (2003) đã có quy định về hình thức tổ chức quản lý
dự án đầu tư xây dựng nhưng không quy định rõ về điều kiện áp dụng theo loạinguồn vốn sử dụng của dự án Do đó, việc áp dụng các quy định này đã bộc lộnhững mặt tồn tại, hạn chế như: số lượng các ban quản lý dự án sử dụng vốnngân sách quá nhiều do việc quy định chủ đầu tư dự án được gắn với người quản
lý sử dụng công trình dẫn đến tình trạng các ban quản lý dự án thiếu nhân sự
Trang 13chuyên môn có năng lực, kinh nghiệm để quản lý dự án, đặc biệt là đối với các
dự án ở vùng sâu, vùng xa Mặt khác, việc tổ chức ban quản lý dự án để quản lýthực hiện một dự án không cho phép nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệptrong công tác quản lý dự án do thời gian thực hiện nhiệm vụ quản lý dự ánkhông dài nên điều kiện và khả năng tích lũy kinh nghiệm quản lý bị hạn chế.Bên cạnh đó, việc bố trí công việc, giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ,nhân viên ban quản lý dự án sau khi kết thúc dự án gặp nhiều khó khăn, phứctạp
Hình thức thuê tư vấn quản lý dự án mặc dù đã được quy định trong LuậtXây dựng (2003) nhưng việc áp dụng đang gặp nhiều khó khăn, phát triển rấtchậm do chi phí thuê tư vấn quản lý dự án còn thấp cũng như do tâm lý củanhiều chủ đầu tư muốn trực tiếp quản lý thực hiện dự án hơn đi thuê Pháp luật
về xây dựng hiện chưa có quy định điều chỉnh đối với vấn đề này
Hiện nay ở một số Bộ ngành, địa phương đã có những ban quản lý dự ánchuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực Hình thức quản lý dự án này đã đượckiểm chứng về sự phù hợp và tính hiệu quả đối với các dự án sử dụng vốn ngânsách, dự án xây dựng công trình theo chuyên ngành Do vậy, việc bổ sung quyđịnh về hình thức ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực làcần thiết, đặc biệt là với các dự án sử dụng vốn ngân sách được thực hiện trêncùng một địa bàn khu vực, các dự án của doanh nghiệp có quy mô lớn, được xâydựng theo tuyến công trình hoặc trên nhiều khu vực khác nhau Khi áp dụnghình thức ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực sẽ chophép giảm bớt số lượng các ban quản lý dự án và nhân lực làm nhiệm vụ quản lý
dự án, qua đó tiết kiệm kinh phí quản lý dự án và có điều kiện để nâng cao trình
độ, năng lực và tính chuyên nghiệp trong công tác quản lý dự án
Bẩy là: Quy định về cấp phép xây dựng là một nội dung quan trọng trong
quản lý đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay Tại các nước phát triển, việc quản
lý đối với hoạt động đầu tư xây dựng chủ yếu được thực hiện thông qua cấpphép xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Luật Xây dựng (2003)cũng đã có những quy định cụ thể về cấp phép xây dựng Tuy nhiên, các quyđịnh về cấp phép và quản lý việc cấp phép xây dựng chưa bảo đảm các yếu tốcần thiết như thiếu các quy hoạch xây dựng chi tiết, thiếu địa điểm và mặt bằngxây dựng, chưa thu xếp, bố trí đủ vốn để xây dựng công trình Một số công trìnhthuộc diện miễn giấy phép xây dựng nhưng lại thiếu những thủ tục cần thiếthoặc công trình xây dựng trong đô thị tuy đã được cấp phép xây dựng nhưngchất lượng kiến trúc của công trình lại không bảo đảm phù hợp với cảnh quancủa khu vực
Nội dung cấp phép xây dựng theo quy định còn sơ sài và nặng về thủ tục.Những vấn đề về thiết kế đô thị, cảnh quan, quy hoạch chi tiết cần được xem xétkhi cấp phép xây dựng còn phụ thuộc vào cảm tính của người có trách nhiệmgiải quyết việc cấp phép xây dựng
Trang 14Các quy định hiện hành về cấp phép xây dựng chưa được phân định rõ giữacác loại công trình xây dựng, giữa nhà ở đô thị với nhà ở nông thôn Do vậy,điều kiện để cấp phép xây dựng cũng chưa được quy định cụ thể để phù hợp vớitừng loại công trình, nhà ở riêng lẻ Bên cạnh đó, hồ sơ xin cấp giấy phép xâydựng theo quy định của Luật Xây dựng (2003) còn đơn giản, chưa cho phép có
đủ các thông tin cần thiết làm cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước xem xét, cấpphép xây dựng dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian cấp phép xây dựng
Việc đổi mới các quy định về cấp phép xây dựng cần được gắn với điềukiện khởi công xây dựng công trình, minh bạch về quy trình và đơn giản hóa cácthủ tục trong cấp phép xây dựng
Tám là: Việc khắc phục những trùng lắp, mâu thuẫn, chồng chéo trong các
nội dung, quy định của Luật Xây dựng (2003) với các quy định của các Luật cóliên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng là vấn đề cấp thiết để bảo đảm tínhthống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực của việc thực thipháp luật và tạo điều kiện thuận lợi để cải cách thủ tục hành chính trong hoạtđộng đầu tư xây dựng
Sau khi Luật Xây dựng (2003) được ban hành và có hiệu lực, Quốc hội đã banhành nhiều Luật có liên quan đến Luật Xây dựng và hoạt động đầu tư xây dựngnhư: Luật Đầu tư (2005), Luật Doanh nghiệp (2005), Luật Đấu thầu (2005), LuậtNhà ở (2005), Luật kinh doanh bất động sản (2006), Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản (2009), Luật Quy hoạch
Đô thị Nội dung của các luật này có nhiều quy định trùng lặp, chồng chéo, mâuthuẫn với một số quy định đã có trong Luật Xây dựng (2003) như quy định về quyhoạch xây dựng theo Luật Quy hoạch đô thị, quy định về công tác bồi thường thiệthại, giải phóng mặt bằng và tái định cư theo Luật Đất đai, quy định về đấu thầu xâylắp theo Luật Đấu thầu
Việc sửa đổi, điều chỉnh các quy định của Luât Xây dựng (2003) ở nhữngnội dung có sự trùng lắp, chồng chéo, mâu thuẫn với quy định của pháp luật liênquan phải bảo đảm tính liên thông giữa các quy định pháp luật, đồng thời không
bỏ sót các hành vi trong hoạt động đầu tư xây dựng cần được pháp luật điềuchỉnh Quá trình này cũng đặt ra yêu cầu về sự cần thiết phải thực hiện rà soát đểsửa đổi, bổ sung một số quy định trong nội dung các luật có liên quan
Với những lý do nêu trên, việc xây dựng Luật Xây dựng (sửa đổi) là yêucầu cấp thiết có tính khách quan trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật về đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay
3 Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và yêu cầu xây dựng Luật Xây dựng 2014.
3.1 Mục tiêu.
Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động đầu tưxây dựng sử dụng các loại nguồn vốn khác nhau, bảo đảm cho các hoạt độngđầu tư xây dựng được thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch và được kiểm soát
Trang 15chặt chẽ; tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về xâydựng đối với toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng kết hợp với việc xác lập quan hệbình đẳng, phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể tham gia nhằm nâng caochất lượng xây dựng, hiệu quả đầu tư, khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phíđặc biệt là đối với các hoạt động đầu tư xây dựng có sử dụng vốn nhà nước.
3.2 Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Xây dựng 2014
Luật Xây dựng 2014 được xây dựng trên cơ sở các quan điểm chủ yếu sau:a) Luật Xây dựng 2014 phải thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng,chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN có sự quản lý của nhà nước, trong đó vừa bảo đảm môi trườngpháp lý bình đẳng, ổn định để huy động nguồn lực của các thành phần kinh tếcho hoạt động đầu tư xây dựng đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cánhân trong nước và nước ngoài tham gia các hoạt động này Mặt khác, phải cóphương thức và nội dung quản lý phù hợp với từng loại nguồn vốn, đặc biệt làtrong quản lý sử dụng vốn nhà nước Phân định rõ giữa chức năng quản lý nhànước đối với các hoạt động đầu tư xây dựng với nhiệm vụ, trách nhiệm quản lývốn của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước
b) Nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng, bảo đảm sự quản lý toàn diện, xuyên suốt đối vớitoàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ khâu chuẩn bị đầu tư đến thực hiện dự án
và hoàn thành xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng trên cơ sở tăngcường các quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện phâncông, phân cấp hợp lý, thống nhất giữa các Bộ ngành, giữa trung ương và địaphương đồng thời quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham giahoạt động đầu tư xây dựng
c) Kế thừa, phát triển những quy định phù hợp và đã phát huy hiệu quả của
hệ thống pháp luật xây dựng hiện hành
d) Tạo điều kiện và tiền đề để từng bước phát triển và hoàn thiện thị trườngxây dựng trong nước gắn với quá trình đổi mới, nâng cao năng lực, sức cạnhtranh của các doanh nghiệp xây dựng Việt nam
3.3 Yêu cầu đối với Luật Xây dựng (sửa đổi).
Việc dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) cần phải đạt được các yêu cầu sau:a) Đảm bảo đồng bộ, thống nhất với các luật có liên quan và hệ thống cácquy định pháp luật về xây dựng;
b) Khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật xây dựng hiện hành trongviệc điều chỉnh các hoạt động đầu tư xây dựng;
c) Nội dung các quy định của Luật phải rõ ràng và có tính khả thi
Trang 16d) Các quy định của Luật phải phù hợp với các cam kết quốc tế mà nước ta
đã tham gia, ký kết, từng bước thực hiện hội nhập quốc tế phù hợp với điều kiệncủa Việt nam
3.4 Bố cục và nội dung cơ bản của Luật Xây dựng 2014
3.4.1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng.
Luật Xây dựng (sửa đổi) điều chỉnh đối với các hoạt động đầu tư xây dựngcủa tổ chức, cá nhân và các quyền, nghĩa vụ của tổ chức cá nhân khi tham giahoạt động đầu tư xây dựng
Luật Xây dựng (sửa đổi) áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước; tổchức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt nam
3.4.2 Bố cục của dự thảo Luật Xây dựng 2014.
a) Bố cục của Luật Xây dựng 2014
Luật Xây dựng 2014 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014 trên cơ
sở tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và ý kiếmthẩm tra của Ủy ban KH,CN&MT có 11 chương, 168 điều, tăng thêm 02chương, 45 điều so với Luật Xây dựng (2003)
b) Nội dung Luật Xây dựng 2014
CHƯƠNG I-NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG (12 Điều)
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh
Điều 2 Đối tượng áp dụng
Điều 3 Giải thích từ ngữ
Điều 4 Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đầu tư xây dựng
Điều 5 Loại và cấp công trình xây dựng
Điều 6 Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong hoạt động đầu tư xâydựng
Điều 7 Chủ đầu tư
Điều 8 Giám sát, đánh giá dự án đầu tư xây dựng
Điều 9 Bảo hiểm trong hoạt động đầu tư xây dựng
Điều 10 Chính sách khuyến khích trong hoạt động đầu tư xây dựng
Điều 11 Hợp tác quốc tế trong hoạt động đầu tư xây dựng
Điều 12 Các hành vi bị nghiêm cấm
CHƯƠNG II-QUY HOẠCH XÂY DỰNG (36 Điều)
Mục 1-QUY ĐỊNH CHUNG ( 9 Điều)
Điều 13 Quy hoạch xây dựng và căn cứ lập quy hoạch xây dựng
Trang 17Điều 14 Yêu cầu và nguyên tắc tuân thủ đối với quy hoạch xây dựng
Điều 15 Rà soát quy hoạch xây dựng
Điều 16 Trách nhiệm lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng
Điều 17 Hình thức, thời gian lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng
Điều 18 Lựa chọn tổ chức tư vấn lập quy hoạch xây dựng
Điều 19 Kinh phí cho công tác lập quy hoạch xây dựng
Điều 20 Trình tự lập, phê duyệt quy hoạch xây dựng
Điều 21 Lưu trữ hồ sơ đồ án quy hoạch xây dựng
Mục 2-QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÙNG ( 2 Điều)
Điều 22 Quy hoạch xây dựng vùng và trách nhiệm tổ chức lập quy hoạchxây dựng vùng
Điều 23 Nhiệm vụ và nội dung đồ án quy hoạch xây dựng vùng
Mục 3-QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU CHỨC NĂNG ĐẶC THÙ ( 5Điều)
Điều 24 Đối tượng và trách nhiệm lập quy hoạch xây dựng khu chức năngđặc thù
Điều 25 Các cấp độ quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù
Điều 26 Quy hoạch chung xây dựng khu chức năng đặc thù
Điều 27 Quy hoạch phân khu xây dựng khu chức năng đặc thù
Điều 28 Quy hoạch chi tiết xây dựng trong khu chức năng đặc thù
Mục 4-QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN( 3 Điều)
Điều 29 Đối tượng, cấp độ và trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch xây dựngnông thôn
Điều 30 Quy hoạch chung xây dựng xã
Điều 31 Quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn
Mục 5-THẨM ĐỊNH, PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH XÂY DỰNG ( 3 Điều)Điều 32 Thẩm quyền thẩm định nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựngĐiều 33 Hội đồng thẩm định và nội dung thẩm định nhiệm vụ và đồ án quyhoạch xây dựng
Điều 34 Thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựngMục 6-ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH XÂY DỰNG ( 5 Điều)
Điều 35 Điều kiện điều chỉnh quy hoạch xây dựng
Điều 36 Nguyên tắc điều chỉnh quy hoạch xây dựng
Trang 18Điều 37 Các loại điều chỉnh quy hoạch xây dựng
Điều 38 Trình tự điều chỉnh tổng thể quy hoạch xây dựng
Điều 39 Trình tự điều chỉnh cục bộ quy hoạch xây dựng
Mục 7-TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ( 5 Điều)Điều 40 Công bố công khai quy hoạch xây dựng
Điều 41 Trách nhiệm tổ chức công bố công khai quy hoạch xây dựng Điều 42 Hình thức công bố công khai quy hoạch xây dựng
Điều 43 Cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng
Điều 44 Cắm mốc giới xây dựng ngoài thực địa
Mục 8-QUẢN LÝ XÂY DỰNG THEO QUY HOẠCH XÂY DỰNG ( 4Điều)
Điều 45 Nguyên tắc quản lý xây dựng theo quy hoạch xây dựng
Điều 46 Giới thiệu địa điểm xây dựng
Điều 47 Giấy phép quy hoạch xây dựng
Điều 48 Tổ chức quản lý thực hiện quy hoạch xây dựng
CHƯƠNG III- DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ( 24Điều)
Mục 1-QUY ĐỊNH CHUNG ( 3 Điều)
Điều 49 Phân loại dự án đầu tư xây dựng
Điều 50 Trình tự đầu tư xây dựng
Điều 51 Yêu cầu đối với dự án đầu tư xây dựng
Mục 2- LẬP, THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ XÂYDỰNG ( 10 Điều)
Điều 52 Lập dự án đầu tư xây dựng
Điều 53 Nội dung Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng
Điều 54 Nội dung Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng
Điều 55 Nội dung Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng
Điều 56 Thẩm định dự án đầu tư xây dựng
Điều 57 Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư xây dựng
Điều 58 Nội dung thẩm định dự án đầu tư xây dựng
Điều 59 Thời gian thẩm định dự án đầu tư xây dựng
Điều 60 Thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng
Điều 61 Điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng
Trang 19Mục 3-QUẢN LÝ THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG ( 6 Điều)Điều 62 Hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng
Điều 63 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự
án đầu tư xây dựng khu vực
Điều 64 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án
Điều 65 Thuê tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng
Điều 66 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng
Điều 67 Quản lý tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Mục 4- QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ ĐẦU TƯ, BAN QUẢN LÝ
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG, NHÀ THẦU TƯ VẤN VÀ NGƯỜI QUYẾTĐỊNH ĐẦU TƯ ( 5 Điều)
Điều 68 Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong việc lập và quản lý thựchiện dự án đầu tư xây dựng
Điều 69 Quyền và nghĩa vụ của ban quản lý dự án đầu tư xây dựng
Điều 70 Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu tư vấn lập dự án, quản lý dự ánđầu tư xây dựng
Điều 71 Quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thẩm định dự án đầu tưxây dựng
Điều 72 Quyền và trách nhiệm của người quyết định đầu tư xây dựng CHƯƠNG IV- KHẢO SÁT XÂY DỰNG VÀ THIẾT KẾ XÂY DỰNG( 16 Điều)
Mục 1-KHẢO SÁT XÂY DỰNG ( 5 Điều)
Điều 73 Loại hình khảo sát xây dựng
Điều 74 Yêu cầu đối với khảo sát xây dựng
Điều 75 Nội dung chủ yếu của báo cáo kết quả khảo sát xây dựng
Điều 76 Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong khảo sát xây dựng
Điều 77 Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu khảo sát xây dựng
Mục 2-THIẾT KẾ XÂY DỰNG ( 11 Điều)
Điều 78 Quy định chung về thiết kế xây dựng
Điều 79 Yêu cầu đối với thiết kế xây dựng
Điều 80 Nội dung chủ yếu của thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ
sở
Điều 81 Thi tuyển, tuyển chọn thiết kế kiến trúc công trình xây dựng
Điều 82 Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản
vẽ thi công và dự toán xây dựng
Trang 20Điều 83 Nội dung thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở
và dự toán xây dựng
Điều 84 Điều chỉnh thiết kế xây dựng
Điều 85 Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong việc thiết kế xây dựngĐiều 86 Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình Điều 87 Quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thẩm định thiết kế, dựtoán xây dựng
Điều 88 Lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng
CHƯƠNG V- GIẤY PHÉP XÂY DỰNG ( 18 Điều)
Điều 89 Đối tượng và các loại giấy phép xây dựng
Điều 90 Nội dung chủ yếu của giấy phép xây dựng
Điều 91 Điều kiện cấp giấy phép xây dựng đối với công trình trong đô thị Điều 92 Điều kiện cấp giấy phép xây dựng đối với công trình không theotuyến ngoài đô thị
Điều 93 Điều kiện cấp giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ
Điều 94 Điều kiện cấp giấy phép xây dựng có thời hạn
Điều 95 Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới
Điều 97 Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng đối với trường hợp di dờicông trình
Điều 98 Điều chỉnh giấy phép xây dựng
Điều 99 Gia hạn giấy phép xây dựng
Điều 100 Cấp lại giấy phép xây dựng
Điều 101 Thu hồi, hủy giấy phép xây dựng
Điều 102 Quy trình cấp, cấp lại, điều chỉnh và gia hạn giấy phép xây dựng Điều 103 Thẩm quyền cấp, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấyphép xây dựng
Điều 104 Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựngĐiều 105 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức liên quan đến cấp giấy phépxây dựng
Điều 106 Quyền và nghĩa vụ của người đề nghị cấp giấy phép xây dựngCHƯƠNG VI- XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ( 25 Điều)
Mục 1-CHUẨN BỊ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ( 4 Điều)
Điều 107 Điều kiện khởi công xây dựng công trình
Điều 108 Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
Trang 21Điều 109 Yêu cầu đối với công trường xây dựng
Điều 110 Yêu cầu về sử dụng vật liệu xây dựng
Mục 2-THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ( 9 Điều)
Điều 111 Yêu cầu đối với thi công xây dựng công trình
Điều 112.Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong việc thi công xây dựngcông trình
Điều 113 Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu thi công xây dựng
Điều 114 Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu thiết kế trong việc thi công xâydựng
Điều 115 An toàn trong thi công xây dựng công trình
Điều 116 Bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình
Điều 117 Di dời công trình xây dựng
Điều 118 Phá dỡ công trình xây dựng
Điều 119 Sự cố công trình xây dựng
Mục 3-GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG, NGHIỆM THU, BÀNGIAO CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG ( 5 Điều)
Điều 120 Giám sát thi công xây dựng công trình
Điều 121 Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong việc giám sát thi côngxây dựng công trình
Điều 122 Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu giám sát thi công xây dựng côngtrình
Điều 123 Nghiệm thu công trình xây dựng
Điều 124 Bàn giao công trình xây dựng
Mục 4-BẢO HÀNH, BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG (3 Điều)Điều 125 Bảo hành công trình xây dựng
Điều 126 Bảo trì công trình xây dựng
Điều 127 Dừng khai thác sử dụng công trình xây dựng
Mục 5-XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐẶC THÙ ( 4 Điều)
Điều 128 Công trình xây dựng đặc thù
Điều 129 Xây dựng công trình bí mật nhà nước
Điều 130 Xây dựng công trình theo lệnh khẩn cấp
Điều 131 Xây dựng công trình tạm
CHƯƠNG VII- CHI PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ HỢP ĐỒNG XÂYDỰNG ( 16 Điều)
Trang 22Mục 1-QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG ( 6 Điều)
Điều 132 Nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Điều 133 Nội dung quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Điều 134 Tổng mức đầu tư xây dựng
Điều 135 Dự toán xây dựng
Điều 136 Định mức, giá xây dựng công trình và chỉ số giá xây dựng
Điều 137 Thanh toán, quyết toán dự án đầu tư xây dựng
Mục 2-HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG (10 Điều)
Điều 138 Quy định chung về hợp đồng xây dựng
Điều 139 Hiệu lực của hợp đồng xây dựng
Điều 140 Các loại hợp đồng xây dựng
Điều 141 Nội dung hợp đồng xây dựng
Điều 142 Hồ sơ hợp đồng xây dựng
Điều 143 Điều chỉnh hợp đồng xây dựng
Điều 144 Thanh toán hợp đồng xây dựng
Điều 145 Tạm dừng và chấm dứt hợp đồng xây dựng
Điều 146 Thưởng, phạt hợp đồng xây dựng, bồi thường thiệt hại do viphạm và giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng
Điều 147 Quyết toán, thanh lý hợp đồng xây dựng
CHƯƠNG VIII- ĐIỀU KIỆN NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG(12 Điều)
Điều 148 Quy định chung về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân hoạtđộng xây dựng
Điều 149 Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng
Điều 150 Điều kiện của tổ chức lập thiết kế quy hoạch xây dựng
Điều 151 Điều kiện của tổ chức lập, thẩm tra dự án đầu tư xây dựng
Điều 152 Điều kiện của tổ chức tư vấn quản lý dự án, Ban quản lý dự ánđầu tư xây dựng
Điều 153 Điều kiện của tổ chức khảo sát xây dựng
Điều 154 Điều kiện của tổ chức thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng côngtrình
Điều 155 Điều kiện của tổ chức tư vấn giám sát thi công xây dựng
Điều 156 Điều kiện của tổ chức tư vấn quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Trang 23Điều 157 Điều kiện của tổ chức thi công xây dựng công trình
Điều 158 Điều kiện của cá nhân hành nghề độc lập
Điều 159 Quản lý và giám sát năng lực hoạt động xây dựng
CHƯƠNG IX-TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ XÂYDỰNG CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC ( 6 Điều)
Điều 160 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng
Điều 161 Trách nhiệm của Chính phủ
Điều 162 Trách nhiệm của Bộ Xây dựng
Điều 163 Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ
Điều 164 Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
Điều 165 Thanh tra xây dựng
CHƯƠNG X-ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH ( 3 Điều)
Điều 166 Điều khoản chuyển tiếp
Điều 167 Hiệu lực thi hành
Điều 168 Quy định chi tiết
3.5 Những nội dung mới trong Luật Xây dựng 2014:
Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Xây dựng (2003) đã ổn định,được cuộc sống chấp nhận và đã phát huy hiệu quả, nội dung Luật Xây dựng
2014 được nghiên cứu bổ sung các quy định mới sau đây:
Thứ nhất: Đổi mới phương thức, nội dung quản lý dự án nhằm quản lý chặt chẽ đối với dự án, công trình sử dụng vốn nhà nước, khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí, hiệu quả thấp, đồng thời tạo thuận lợi cho tổ chức,
cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư xây dựng.
- Luật Xây dựng 2014 đưa ra các quy định về quản lý dự án phù hợp vớiloại nguồn vốn sử dụng theo nguyên tắc: dự án sử dụng các nguồn vốn khácnhau sẽ được quản lý theo các phương thức khác nhau Để cụ thể hoá nguyên tắc
này, dự thảo Luật đã có các quy định cụ thể về chủ đầu tư xây dựng (Điều 7) và phân loại dự án đầu tư xây dựng (Điều 49) theo từng loại nguồn vốn sử dụng để
đầu tư xây dựng Ngoài ra, yêu cầu và nội dung quản lý phải phù hợp với loại
nguồn vốn sử dụng còn được thể hiện trong các quy định về Yêu cầu đối với dự
án đầu tư xây dựng (Điều 51); Thẩm định dự án (Điều 58) và Quyết định đầu tư xây dựng (Điều 60); Hình thức quản lý thực hiện dự án (Điều 62);Thẩm định và phê duyệt thiết kế xây dựng (Điều 82,83); Giám sát, đánh giá dự án đầu tư xây dựng (Điều 8); Quản lý chi phí đầu tư xây dựng (từ Điều 132 đến Điều 137).
- Quy định về Trình tự đầu tư xây dựng (Điều 50) trong Luật Xây dựng
2014 nhằm bảo đảm cho việchình thành và triển khai thực hiện dự án phải tuânthủ theo một trình tự nhất định, làm cơ sở đề ra các quy định về phân công, phân
Trang 24cấp quản lý, xác định quyền và trách nhiệm của các chủ thể tham gia cũng nhưquy định áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật tronghoạt động đầu tư xây dựng
- Tăng cường sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền và của cộng đồng đối với các dự án đầu tư xây dựng đang là một yêu cầucấp thiết để khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí, hiệu quả thấp trong đầu tưxây dựng hiện nay, theo đó vai trò, trách nhiệm kiểm tra, giám sát của cơ quanquản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng được thể hiện trong các
quy định về Giám sát, đánh giá dự án đầu tư xây dựng (Khoản 1 Điều 8); Thẩm định dự án và thiết kế cơ sở (Điều 56); Thẩm định thiết kế xây dựng và dự toán sau thiết kế cơ sở (Điều 82); Cấp, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng (Từ Điều 90 đến Điều 106) và các quy định khác có liên quan
đến quản lý chất lượng, tiến độ thực hiện, chi phí xây dựng; bảo đảm an toàn, vệsinh môi trường, nghiệm thu, bàn giao và bảo hiểm, bảo hành, bảo trì công trìnhxây dựng
Ngoài ra, quy định về giám sát của cộng đồng đối với dự án (Khoản 2 Điều 8) có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí Sự
tham gia giám sát của cộng đồng chủ yếu được thực hiện đối với các dự án xâydựng kết cấu hạ tầng tại địa phương sử dụng nguồn vốn ngân sách và nguồn lựcđóng góp của nhân dân thông qua các đại diện của mình là Mặt trận tổ quốc ởcác cấp và các đoàn thể thành viên
- Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng
và nhiệm vụ quản lý dự án của chủ đầu tư là điều kiện và tiền đề cho việc đổimới cơ chế quản lý trong đầu tư xây dựng theo đó yêu cầu của quản lý nhà nước
đối với hoạt động đầu tư xây dựng được quy định trong Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đầu tư xây dựng (Điều 4), Yêu cầu đối với dự án đầu tư xây dựng (Điều 51) và nhiệm vụ quản lý dự án của chủ đầu tư được quy định tại Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng (Điều 66).
Để thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án có hiệu quả thì việc nâng caonăng lực, tính chuyên nghiệp của các chủ đầu tư trên cơ sở đổi mới và hoànthiện các mô hình tổ chức quản lý thực hiện dự án là cần thiết Dự thảo Luật đã
bổ sung quy định về Hình thức Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý
dự án khu vực (Điều 63) Đây là hình thức quản lý dự án đang được áp dụng tại
một số Bộ ngành, địa phương và đã được kiểm chứng về sự phù hợp và tính hiệuquả Do vậy, việc bổ sung quy định về hình thức ban quản lý dự án chuyênngành, ban quản lý dự án khu vực trong nội dung Luật Xây dựng 2014 là phùhợp và cần thiết
Thứ hai: Sửa đổi, bổ sung quy định về quy hoạch xây dựng để đáp ứng các yêu cầu mới trong phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm công khai, minh bạch đối với quy hoạch xây dựng được duyệt.
- Theo quy định của Luật Xây dựng (2003), quy hoạch xây dựng bao gồm:quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây dựng đô thị và quy hoạch xây dựng
Trang 25điểm dân cư nông thôn Tuy nhiên, do quy hoạch xây dựng đô thị đã được điềuchỉnh theo quy định của Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 nên việc giữ lại cácquy định về quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây dựng nông thôn trong nộidung Luật Xây dựng (sửa đổi) là cần thiết và phù hợp.
- Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội những năm gần đây, việc hìnhthành các khu vực có chức năng đặc thù, chuyên biệt như khu kinh tế, khu côngnghiệp, khu công nghệ cao, sân bay, cảng biển là một quá trình tất yếu nhằmđáp ứng các yêu cầu phát triển Do đó, việc bổ sung các quy định về quy hoạch
xây dựng khu chức năng đặc thù (từ Điều 24 đến Điều 28) làm cơ sở cho việc
xác định chủ trương, quyết định đầu tư và triển khai thực hiện dự án tại các khuvực này là cần thiết
- Để khắc phục những tồn tại, bất cập trong tổ chức, quản lý thực hiện quyhoạch xây dựng và tăng cường tính công khai, minh bạch của các quy hoạch xây
dựng, dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) đã bổ sung các quy định việc Điều chỉnh quy hoạch xây dựng (các Điều từ 35 đến Điều 39) trên cơ sở làm rõ các loại điều
chỉnh quy hoạch xây dựng, điều kiện, nguyên tắc và trình tự điều chỉnh quy
hoạch xây dựng đồng thời quy định cụ thể việc công bố, cung cấp thông tin, cấp chứng chỉ quy hoạch xây dựng và quản lý mốc giới theo quy hoạch xây dựng (các Điều từ 40-44).
Thứ ba: Tăng cường kiểm soát, quản lý chất lượng xây dựng ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng.
- Ngoài những quy định về trách nhiệm của các chủ thể tham gia đối vớichất lượng của dự án, công trình xây dựng, Luật Xây dựng 2014 đã quy định cụthể các quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng trong
việc ban hành, hướng dẫn thực hiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng (Điều 6), đề ra yêu cầu đối với các công việc như: lập dự án (Điều 51), khảo sát xây dựng (Điều 74), thiết kế xây dựng công trình (Điều 79), khởi công xây dựng công trình (Điều 107),giám sát thi công xây dựng (Điều 120) đồng thời quy định trách nhiệm kiểm soát, thẩm định thiết kế cơ sở của dự án (Điều 58) và thiết kế xây dựng sau thiết kế cơ sở (Điều 82) để bảo đảm cho việc xây
dựng công trình tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, phù hợp với yêucầu sử dụng và đáp ứng các yêu cầu vể vệ sinh, an toàn, phòng chống cháy, nổ,bảo vệ cảnh quan và môi trường
- Luật Xây dựng 2014 quy định về kiểm tra công tác nghiệm thu công trình
xây dựng (Khoản 4 Điều 123) đối với các công trình khi xảy ra sự cố sẽ gây thiệt
hại về người hoặc gây ô nhiễmmôi trường ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏecủa cộng đồng Những công trình này phải được cơ quan quản lý nhà nước vềxây dựng kiểm tra, kết luận trước khi được đưa vào khai thác, sử dụngnhằmgiảm thiểu các tác động xấu của công trình xây dựng đối với môi trường và cộngđồng khi được đưa vào vận hành, sử dụng
- Quy định về bảo hiểm trong hoạt động đầu tư xây dựng (Điều 9) của Dự
thảo Luật một mặt để tăng cường trách nhiệm của chủ đầu tư, tư vấn và nhà thầu
Trang 26xây dựng đối với chất lượng sản phẩm xây dựng của mình, phòng ngừa các rủi
ro (nếu có) trong quá trình xây dựng công trình, mặt khác đặt ra yêu cầu về tráchnhiệm của nhà thầu xây dựng đối với chất lượng công trình khi được đưa vào
khai thác sử dụng thông qua việc áp dụng loại hình bảo hiểm bảo hành công trình xây dựng
- Năng lực, kinh nghiệm của tổ chức cá nhân tham gia hoạt động đầu tư xâydựng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của công trìnhxây dựng Do vậy, nội dung Luật Xây dựng 2014 đã có quy định về loại hoạt
động đầu tư xây dựng có điều kiện , theo đó tổ chức, cá nhân chỉ được tham gia
các hoạt động này khi có đủ điều kiện về năng lực theo quy định Ngoài ra, Dự
thảo Luật có một chương riêng quy định về Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng (các Điều từ 148-159).
Quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng và trách nhiệm kiểmtra, giám sát năng lực của cơ quan quản lý nhà nước đối với tổ chức, cá nhântham gia đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên ở nước ta, vấn
đề này còn đang trong quá trình định hình và hoàn thiện, do đó việc quy định vềđiều kiện năng lực hoạt động xây dựng như trong Luật là rất cần thiết và phùhợp
Thứ tư: Đổi mới cơ chế quản lý chi phí đầu tư xây dựng trên cơ sở quản
lý chặt chẽ chi phí đầu tư xây dựng từ nguồn vốn nhà nước kết hợp với việc đáp ứng các yêu cầu khách quan của thị trường, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các chủ thể tham gia thông qua các quy định của hợp đồng xây dựng
-Luật Xây dựng 2014 quy định các nguyên tắc, nội dung quản lý, các chỉ tiêu và cơ sở xác định chi phí đầu tư xây dựng công trình (các Điều từ 132- 137), theo đó chi phí đầu tư xây dựng phải được tính đúng, tính đủ theo từng
công trình cụ thể, phù hợp với giai đoạn thực hiện, bước thiết kế, thời gian xâydựng và mặt bằng giá thị trường Trên cơ sở những nguyên tắc này, nhà nướcthực hiện chức năng hướng dẫn phương pháp lập và quản lý chi phí đầu tư xâydựng, công bố các định mức, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và kiểm tra, giám sátviệc thực hiện
Đối với các dự án, công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước,việc áp dụng các phương pháp lập và quản lý chi phí, các định mức, chỉ tiêukinh tế kỹ thuật là bắt buộc đồng thời cơ quan chuyên môn về xây dựng có tráchnhiệm thẩm định, kiểm soát việc thực hiện các quy định này Đối với các dự án,công trình sử dụng các nguồn vốn khác, việc áp dụng các quy định, hướng dẫn
về lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng có tính chất tham khảo, vận dụng phùhợp với điều kiện thực hiện cụ thể của dự án, công trình xây dựng
- Bổ sung một số quy định về hợp đồng xây dựng như: Hồ sơ hợp đồng xây dựng (Điều 142), Thanh toán hợp đồng xây dựng (Điều 144), Tạm dừng và chấm dứt hợp đồng xây dựng (Điều 145), Quyết toán và thanh lý hợp đồng xây dựng (Điều 147) nhằm cụ thể hoá nội dung hợp đồng xây dựng, bảo đảm nguyên
tắc công bằng, bình đẳng, cùng có lợi giữa các chủ thể tham gia và thực hiện
Trang 27thanh toán trên cơ sở giá hợp đồng và các điều kiện hợp đồng góp phần khắcphục tình trạng chậm thanh toán, nợ đọng kéo dài trong đầu tư xây dựng hiệnnay.
Thứ năm: Thống nhất quản lý nhà nước về trật tự xây dựng thông qua việc cấp giấy phép xây dựng, bảo đảm sự bình đẳng giữa các đối tượng được xét cấp giấy phép xây dựng và công khai, minh bạch trong quy trình, thủ tục cấp giấy phép xây dựng
- Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của công tác cấp giấy phép xây dựng,Luật Xây dựng 2014 có một chương quy định về giấy phép xây dựng Ngoàinhững nội dung kế thừa từ những quy định của Luật Xây dựng (2003), nội dung
về giấy phép xây dựng của Luật Xây dựng 2014 quy định đối tượng cấp giấy phép xây dựng (Điều 89) là tất cả các công trình đều phải xin cấp giấy phép xây
dựng trước khi khởi công kể cả các công trình thuộc dự án đã được cơ quan nhànước có thẩm quyền phê duyệt mà theo quy định hiện hành là đối tượng đượcmiễn giấy phép xây dựng Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu
tư có thể sớm triển khai xây dựng công trình khi chưa hoàn thiện xong thiết kế
xây dựng, Dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) bổ sung quy định về cấp giấy phép xây dựng theo giai đoạn đối với công trình có quy mô lớn (không bắt buộc phải
hoàn thành toàn bộ thiết kế công trình mới được xét cấp giấy phép xây dựng mà
có thể xong từng phần thiết kế để xin cấp giấy phép xây dựng) và cấp giấy phép xây dựng đối với trường hợp dự án gồm nhiều công trình xây dựng (Điều 77).
Chi tiết sẽ được Chính phủ quy định và hướng dẫn cụ thể
- Quy định về giấy phép xây dựng tạm là một chủ trương đúng đắn đã đượcquy định trong Luật Xây dựng (2003) nhằm tạo điều kiện cho tổ chức, hộ giađình xây dựng công trình để kinh doanh hoặc cải thiện về nhà ở trong thời giannhà nước chưa thực hiện quy hoạch xây dựng Tuy nhiên, quá trình thực hiệnquy định này thời gian qua cho thấy việc cấp giấy phép xây dựng tạm vẫn cònnhiều khó khăn, lúng túng gây ra những bức xúc cho doanh nghiệp, tổ chức và
cá nhân Để khắc phục tình trạng này thì việc quy định về Điều kiện cấp giấy phép xây dựng tạm (Khoản 4 Điều 94) trong Luật Xây dựng 2014 là cần thiết.
- Nội dung Luật Xây dựng 2014 đã bổ sung một số quy định về Điều chỉnh giấy phép xây dựng (Điều 98) Gia hạn giấy phép xây dựng (Điều 99), Cấp lại giấy phép xây dựng (Điều 100), Thu hồi giấy phép xây dựng (Điều 101) nhằm tiếp tục
làm rõ về quy trình, thủ tục liên quan đến việc cấp giấy phép xây dựng
Thứ sáu: Xác định trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu
tư xây dựng trên cơ sở quy định rõ về nội dung quản lý nhà nước và thực hiện phân công, phân cấp hợp lý giữa các Bộ ngành, địa phương.
- Quy định Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng (Điều 160) đã có sự kế thừa và phát triển quy định của Luật Xây dựng (2003) với việc
bổ sung các quy định về quản lý, cung cấp thông tin phục vụ các hoạt động đầu
tư xây dựng và quản lý lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng Những quy định bổ
Trang 28sung này là cần thiết để đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý nhà nước hiệnnay.
- Luật Xây dựng 2014 đã có quy định cụ thể về trách nhiệm của Chính phủ,
Bộ quản lý nhà nước về xây dựng, các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyênngành và của các bộ ngành, UBND các cấp (các Điều từ 161-165) đối với cáchoạt động đầu tư xây dựng Nội dung các quy định này là phù hợp với quy địnhcủa Luật Tổ chức Chính phủ và quy định của pháp luật có liên quan, đồng thời
có sự phân công, phân cấp quản lý hợp lý dựa trên nguyên tắc thống nhất quản
lý nhà nước đối với toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng kết hợp với phân côngquản lý theo lĩnh vực xây dựng có tính chất chuyên ngành và phân cấp quản lýcho chính quyền địa phương
3.6 Những Nghị định hướng dẫn Luật Xây dựng 2014 đã ban hành
1.7.1 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 28/6/2015 của Chính phủ vềQuản lý dự án đầu tư xây dựng
1.7.2 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ vềQuản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
1.7.3 Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ vềQuản lý Chi phí đầu tư xây dựng
1.7.4 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ về Quyđịnh chi tiết về Hợp đồng xây dựng
II LUẬT ĐẦU TƯ
1 Sự cần thiết sửa đổi Luật Đầu tư 2005
Việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005 là một bước tiến quan trọng trongtiến trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư tại Việt Nam Cùngvới Luật Doanh nghiệp được thông qua và có hiệu lực thi hành vào cùng mộtthời điểm (1/7/2006), đây là đầu tiên sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới,Việt Nam có một khung pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp áp dụng thống nhấtcho các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
Những quy định của Luật Đầu tư đã mở rộng quyền tự chủ trong hoạt độngđầu tư, kinh doanh của các nhà đầu tư bằng việc xóa bỏ một loạt rào cản đầu tưkhông phù hợp với thông lệ kinh tế thị trường và cam kết hội nhập của ViệtNam, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theohướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các nhà đầu tư
Tuy nhiên, sau hơn 8 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả tíchcực nêu trên, Luật Đầu tư đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần phải nghiên cứusửa đổi, bổ sung; cụ thể như sau:
Một là, quá trình tổng kết thi hành Luật cho thấy, lĩnh vực và địa bàn
khuyến khích đầu tư theo quy định của Luật và Nghị định 108/2006/NĐ- CP còn
Trang 29dàn trải, thiếu tính thống nhất và chưa thật sự hướng mạnh vào việc thu hút các
dự án đầu tư với chất lượng và hiệu quả cao hơn Các quy định về điều kiện đầu
tư và thủ tục đầu tư theo quy định của Luật và Nghị định 108/2006/NĐ-CP cònthiếu tính minh bạch, khả thi và đồng bộ, chưa thật sự tạo lập được một bằngpháp lý bình đẳng cho nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, đồngthời chưa có cơ chế để đảm bảo thực hiện một cách nhất quán và hiệu quả cáccam kết quốc tế của Việt Nam về điều kiện đầu tư, kinh doanh Các quy định vềthủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư và triển khai thực hiện dự án còn phức tạp,tồn tại nhiều đầu mối xem xét, giải quyết, không phù hợp với chủ trương đơngiản hóa thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp Các quy định vềquản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nói chung và cơ chế phối hợp giữa cơquan trung ương và địa phương chưa được hoàn thiện kịp thời trong bối cảnhthực hiện chế độ phân cấp cũng gây khó khăn trong hoạt động quản lý đầu tư
Hai là, nhu cầu vốn đầu tư xã hội để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, khôi
phục tốc độ tăng trưởng hợp lý tăng lên theo thời gian Trong điều kiện tình hìnhđất nước đang còn nhiều khó khăn, nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn ODA
có thể chỉ ổn định ở mức đã đạt được, thì việc cải thiện cơ chế, chính sách nhằmtăng cường huy động các nguồn lực ngoài nhà nước cho đầu tư phát triển là hếtsức cần thiết và hiện thực
Bên cạnh đó, quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăngtrưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội nhập sâu rộng hơn với khu vực
và thế giới cũng đặt ra yêu cầu cấp bách phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống phápluật, chính sách trong đó có Luật Đầu tư, để thích ứng với đòi hỏi cao hơn củaquá trình phát triển kinh tế- xã hội cũng như thực hiện cam kết quốc tế về tự dohóa đầu tư và thương mại
Ba là, Việt Nam đang phải đối mặt với xu hướng cạnh tranh thu hút đầu tư
nước ngoài ngày càng gay gắt từ các nước trên thế giới và trong khu vực, trongkhi năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung và sức cạnh tranh thu hút đầu tưnước ngoài nói riêng còn nhiều mặt hạn chế Trong bối cảnh đó, mặc dù Chínhphủ đã chỉ đạo ráo riết và thu được một số kết quả nhất định trong việc cải thiệnmôi trường đầu tư, nhất là cải cách thủ tục hành chính, nhưng so với nhiều nướcASEAN thì hệ thống luật pháp và thủ tục hành chính của nước ta vẫn chưa đápứng được kỳ vọng của các nhà đầu tư lớn Trong bảng xếp hạng của Ngân hàngthế giới về môi trườngkinh doanh toàn cầu được công bố ngày 29/10/2013 thìViệt Nam đứng thứ 99 trên 189 nền kinh tế, trong khi Cămpuchia tăng 23 bậc,Indonexia, Philippines tăng 19 bậc Ngân hàng thế giới nhận định, thứ hạng củaViệt Nam không thay đổi mặc dù từ năm 2005 đến nay đã thực hiện 21 cải cách,nhiều nhất trong khu vực Đông Á- Thái Bình Dương Do vậy, để thu hút đầu tưcủa các tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới thì cần bảo đảm tính côngkhai, minh bạch, ổn định của hệ thống pháp luật, trong đó có Luật Đầu tư
Trong năm 2011, Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam đã tổ chức
rà soát độc lập 16 luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh Kết quả khảo sát cho
Trang 30thấy, cộng đồng doanh nghiệp đã thống nhất kiến nghị sửa đổi Luật Đầu tư đểtạo môi trường thuận lợi, minh bạch hơn nữa cho hoạt động đầu tư.
2 Quá trình soạn thảo Luật
Thực hiện Nghị quyết số 45/2013/QH13 ngày 18/6/2013 của Quốc hội vềChương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 và Quyết định số 1441/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công cơ quan chủtrì soạn thảo các dự án luật năm 2014, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã banhành Quyết định thành lập Ban Soạn thảo và Tổ biên tập Luật Đầu tư (sửa đổi)
Để triển khai xây dựng Luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quyphạm pháp luật, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức tổng kết thi hành Luật Đầu
tư và trình Thủ tướng Chính phủ định hướng xây dựng Luật, đồng thời hoànthành báo cáo nghiên cứu pháp luật về đầu tư của các một số nước để tham khảotrong quá trình xây dựng Luật
Trên cơ sở đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng
Dự thảo Luật, tổ chức một số cuộc họp của Ban soạn thảo, Tổ biên tập và nhiềuhội thảo, hội nghị để lấy ý kiến của các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước
ở các địa phương về Dự thảo Luật
Dự thảo Luật đã được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Kếhoạch và Đầu tư và gửi Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam để thamkhảo ý kiến cộng đồng doanh nghiệp
Bộ Tư pháp đã có ý kiến thẩm định Dự án Luật Trên cơ sở tiếp thu ý kiếnthẩm định của Bộ Tư pháp và ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương, doanhnghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chỉnh lý, hoàn thiện Dự thảo
3 Mục tiêu quan điểm và yêu cầu sửa đổi Luật Đầu tư 2005
3.1 Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật
Dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở những mục tiêu, quan điểm cơ bảnsau đây:
a) Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư thôngthoáng, thuận lợi, minh bạch để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế theo định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giaiđoạn 2011-2020, đồng thời góp phần thực hiện chủ trương tái cơ cấu tổng thểnền kinh tế nói chung và tái cơ cấu đầu tư, doanh nghiệp nói riêng
b) Tạo bước chuyển biến mới về cải cách thủ tục hành chính trong thựchiện dự án đầu tư; giải quyết những khó khăn trong hoạt động đầu tư của cácdoanh nghiệp, đặc biệt là những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định vềđiều kiện đầu tư và thủ tục đầu tư
c) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt độngđầu tư, đồng thời hoàn thiện cơ chế phối hợp và chế độ phân cấp quản lý hoạtđộng đầu tư
Trang 31d) Tạo cơ sở pháp lý đồng bộ để củng cố, tăng cường cơ chế khuyến khích,bảo hộ đầu tư nước ngoài nhằm tạo môi trường có sức hấp dẫn, cạnh tranh thuhút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
3.2 Những yêu cầu soạn thảo Luật:
Để thực hiện những mục tiêu, quan điểm nêu trên, việc xây dựng Luật phảiđáp ứng các yêu cầu cơ bản sau đây:
a) Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về đầu tư,kinh doanh
b) Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư, nhưngphải đảm bảo thực hiện có hiệu qủa công tác quản lý nhà nước, tăng cường chế
độ kiểm tra, giám sát và phối hợp giữa các cơ quan quản lý ở trung ương và địaphương
c) Đảm bảo thực hiện lộ trình cam kết mở cửa thị trường và tự do hóa đầu
tư theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
3.4 Bố cục và nội dung cơ bản của Luật Đầu tư 2014
3.4.1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật này quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạtđộng đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài
Luật này áp dụng đối với nhà đầu tư và tổ chức, cá nhân liên quan đếnhoạt động đầu tư kinh doanh
3.4.2 Bố cục của dự thảo Luật Đầu tư 2014
Luật Đầu tư 2014 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 trên cơ sởtiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và ý kiếm thẩmtra của Ủy ban KH,CN&MT có 7 chương, 76 với bố cục như sau:
Chương I- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNGĐiều 1 Phạm vi điều chỉnh
Điều 2 Đối tượng áp dụng
Điều 3 Giải thích từ ngữ
Điều 4 Áp dụng Luật đầu tư, các luật có liên quan và điều ước quốc tếĐiều 5 Chính sách về đầu tư kinh doanh
Điều 6 Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh
Điều 7 Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Điều 8 Sửa đổi, bổ sung ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, Danh mụcngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Trang 32Chương II- BẢO ĐẢM ĐẦU TƯĐiều 9 Bảo đảm quyền sở hữu tài sản
Điều 10 Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh
Điều 11 Bảo đảm chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoàiĐiều 12 Bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng
Điều 13 Bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luậtĐiều 14 Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh
Chương III- ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
Mục 1: ƯU ĐÃI ĐẦU TƯĐiều 15 Hình thức và đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư
Điều 16 Ngành, nghề ưu đãi đầu tư và địa bàn ưu đãi đầu tư
Điều 17 Thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư
Điều 18 Mở rộng ưu đãi đầu tư
Mục 2: HỖ TRỢ ĐẦU TƯĐiều 19 Hình thức hỗ trợ đầu tư
Điều 20 Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khuchế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế
Điều 21 Phát triển nhà ở và công trình dịch vụ, tiện ích công cộng chongười lao động trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế
Chương IV- HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
Mục 1: HÌNH THỨC ĐẦU TƯĐiều 22 Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
Điều 23 Thực hiện hoạt động đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài
Điều 24 Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổchức kinh tế
Điều 25 Hình thức và điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào
tổ chức kinh tế
Điều 26 Thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốngóp
Điều 27 Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP
Điều 28 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC
Điều 29 Nội dung hợp đồng BCC
Trang 33Mục 2: THỦ TỤC QUYẾT ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ
Điều 30 Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội
Điều 31 Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chínhphủ
Điều 32 Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dâncấp tỉnh
Điều 33 Hồ sơ, trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư của Ủy bannhân dân cấp tỉnh
Điều 34 Hồ sơ, trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư của Thủtướng Chính phủ
Điều 35 Hồ sơ, trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hộiMục 3: THỦ TỤC CẤP, ĐIỀU CHỈNH VÀ THU HỒI GIẤY CHỨNG NHẬN
ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯĐiều 36 Trường hợp thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầutư
Điều 37 Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Điều 38 Thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi Giấy chứng nhận đăng kýđầu tư
Điều 39 Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Điều 40 Điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Điều 41 Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Mục 4: TRIỂN KHAI THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƯĐiều 42 Bảo đảm thực hiện dự án đầu tư
Điều 43 Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư
Điều 44 Giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ
Điều 45 Chuyển nhượng dự án đầu tư
Điều 46 Giãn tiến độ đầu tư
Điều 47 Tạm ngừng, ngừng hoạt động của dự án đầu tư
Điều 48 Chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư
Điều 49 Thành lập văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài tronghợp đồng BCC
Điều 50 Chấm dứt hoạt động văn phòng điều hành của nhà đầu tư nướcngoài trong hợp đồng BCC
Chương V-HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI
Mục 1: QUY ĐỊNH CHUNG
Trang 34Điều 51 Nguyên tắc thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Điều 52 Hình thức đầu tư ra nước ngoài
Điều 53 Nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài
Mục 2: THỦ TỤC QUYẾT ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ RA NƯỚCNGOÀI
Điều 54 Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài
Điều 55 Hồ sơ, trình tự, thủ tục Thủ tướng Chính phủ quyết định chủtrương đầu tư ra nước ngoài
Điều 56 Hồ sơ, trình tự, thủ tục Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư ranước ngoài
Mục 3: THỦ TỤC CẤP, ĐIỀU CHỈNH VÀ CHẤM DỨT HIỆU LỰCCỦA GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI
Điều 57 Thẩm quyền quyết định đầu tư ra nước ngoài
Điều 58 Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoàiĐiều 59 Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài
Điều 60 Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài
Điều 61 Điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài
Điều 62 Chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài
Mục 4: TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ Ở NƯỚC NGOÀI
Điều 63 Mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài
Điều 64 Chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài
Điều 65 Chuyển lợi nhuận về nước
Điều 66 Sử dụng lợi nhuận để đầu tư ở nước ngoài
Chương VI- QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯĐiều 67 Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư
Điều 68 Trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư
Điều 69 Giám sát, đánh giá đầu tư
Điều 70 Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư
Điều 71 Chế độ báo cáo hoạt động đầu tư tại Việt Nam
Điều 72 Chế độ báo cáo hoạt động đầu tư ở nước ngoài
Chương VII- TỔ CHỨC THỰC HIỆNĐiều 73 Xử lý vi phạm
Điều 74 Điều khoản chuyển tiếp
Trang 35Điều 75 Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 18 của Luật công nghệ cao số21/2008/QH12
Điều 76 Hiệu lực thi hành
3.5 Những nội dung đổi mới của Luật Đầu tư 2014
3.5.1 Quy định về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Thay đổi quan trọng nhất của Luật Đầu tư 2014 là việc tạo lập cơ sở pháp
lý minh bạch để bảo đảm thực hiện nguyên tắc Hiến định về quyền tự do đầu tưkinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà Luật không cấm thông quacác quy định về ngành, nghề cấm đầu tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện Việc tập hợp, rà soát và quy định cụ thể Danh mục ngành, nghề cấm đầu
tư kinh doanh và đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật Đầu tư 2014 theophương pháp loại trừ (chọn bỏ) đã góp phần đổi mới căn bản nguyên tắc ápdụng pháp luật, từ việc nhà đầu tư chỉ được quyền thực hiện hoạt động đầu tưkinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật cho phép sang nguyên tắcđược tự do đầu tư kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà Luật này không cấmhoặc quy định phải có điều kiện
Cụ thể, trên cơ sở rà soát, loại bỏ các ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanhtrùng lặp theo các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanhnghiệp và Luật Thương mại, Luật quy định 06 ngành, nghề cấm đầu tư kinhdoanh bao gồm:
(i) kinh doanh các chất ma túy theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèmtheo Luật;
(ii) kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật độc hại quy định tại Phụ lục 2ban hành kèm theo Luật;
(iii) kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã theo quy địnhtại Phụ lục 1 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vậthoang dã nguy cấp; mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quýhiếm Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 ban hànhkèm theo Luật
(iv) kinh doanh mại dâm;
(v) mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; (vi) các hoạt động liênquan đến sinh sản vô tính trên người
Về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện: Trên cơ sở rà soát 386
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật hiệnhành, Luật đã quy định cụ thể Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh theonguyên tắc:
+ Bãi bỏ các ngành, nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh không hợp lý,không rõ ràng, tạo ra gánh nặng chi phí tuân thủ đối với nhà đầu tư;
Trang 36+ Sửa đổi một số điều kiện đầu tư kinh doanh theo hướng giảm thiểu hìnhthức cấp phép, xác nhận hoặc chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để chuyển sang áp dụng chủ yếu hình thức ban hành quy định về tiêu chuẩn,điều kiện để nhà đầu tư tự đăng ký thực hiện và cơ quan quản lý tiến hành hậukiểm;
+ Cập nhật, chuẩn xác tên gọi và hệ thống một số ngành, nghề nhằm phảnánh chính xác, minh bạch các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, tránhtrùng lặp và tạo thuận lợi cho việc thực hiện các quy định của pháp luật về vấn
đề này
Trên cở sở nguyên tắc nêu trên, Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh
có điều kiện quy định tại Phụ lục 4 của Luật gồm có 267 ngành, nghề
Luật cũng sửa đổi thẩm quyền quy định về ngành, nghề và điều kiện đầu tưkinh doanh Theo đó, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện chỉ được quyđịnh tại Luật Đầu tư còn điều kiện cụ thể đối với từng ngành, nghề đầu tư kinhdoanh có điều kiện được quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định và điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên Kể từ ngày Luật có hiệu lực thi hành(1/7/2015), ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinhdoanh có điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác sẽ hếthiệu lực thi hành Các điều kiện áp dụng đối với 267 ngành, nghề đầu tư kinhdoanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư 2014 đang được quy định tạicác văn bản dưới nghị định tiếp tục được áp dụng cho đến ngày 01/7/2016
3.5.2 Củng cố, hoàn thiện cơ chế bảo đảm đầu tư phù hợp với quy định của Hiến pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Luật Đầu tư 2014 tiếp tục duy trì cơ chế và nguyên tắc bảo đảm đầu tư đãđược quy định tại Luật Đầu tư 2005, đồng thời hoàn thiện các cơ chế và nguyêntắc nàyvới các sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:
- Cập nhật các quy định về việc Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu tài sảncủa nhà đầu tư và cam kết bồi thường thỏa đáng, công bằng trong trường hợptrưng thu, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư phù hợp với quy định của Hiếnpháp
- Hoàn thiện quy định về việc Nhà nước bảo đảm đối xử không phân biệtgiữa các nhà đầu tư phù hợp với cam kết của Việt Nam theo các điều ước quốc
tế
- Hoàn thiện quy định về việc áp dụng nguyên tắc không hồi tố trongtrường hợp văn bản quy phạm pháp luật thay đổi làm ảnh hưởng bất lợi đến ưuđãi đầu tư đã áp dụng đối với nhà đầu tư Theo đó, Luật đã bỏ quy định về việcchỉ áp dụng nguyên tắc không hồi tố đối với ưu đãi đầu tư đã được quy định tạiGiấy chứng nhận đăng ký đầu tư để bảo đảm bình đẳng trong việc áp dụngnguyên tắc không hồi tố giữa nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư và nhà đầu tư không thuộc diện phải thực hiện thủ tục này
Trang 373.5.3 Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính gắn liền với việc nâng cao trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc triển khai thực hiện dự án đầu tư
Luật Đầu tư 2014 đã cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính theo hướngminh bạch, đơn giản và bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư với nhữngnội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng gồm:
Một là, Luật đã bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với
nhà đầu tư trong nước (Điều 36)
Hai là, Luật đã đơn giản hoá hồ sơ, trình tự, thủ tục và rút ngắn thời gian
thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nướcngoài với thời hạn tối đa 15 ngày thay cho 45 ngày như trước đây (Điều 37)
Cùng với việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, Luật đã bổ sung, hoànthiện một số quy định nhằm nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện dự án đầu tư,như: bổ sung quy định về bảo đảm nghĩa vụ thực hiện dự án của nhà đầu tư dướihình thức ký quỹ; bổ sung quy định về giám định chất lượng máy móc, thiết bị,công nghệ nhập khẩu để thực hiện dự án đầu tư; hoàn thiện các quy định về chuyểnnhượng dự án đầu tư, giãn tiến độ đầu tư, tạm ngừng hoạt động đầu tư, thu hồigiấy chứng nhận đăng ký đầu tư và chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư… theohướng xác định cụ thể điều kiện, thủ tục thực hiện các hoạt động này, cũng nhưtrách nhiệm của nhà đầu tư và thẩm quyền giải quyết của cơ quan quản lý ở địaphương
Ba là, cải cách quy trình thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài
theo hướng bãi bỏ yêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh để tách bạch hoạt động đầu tư theo dự án với hoạtđộng đăng ký kinh doanh Theo hướng này, sau khi thực hiện thủ tục cấp giấychứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanhnghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh như nhà đầu tư trong nước
Bên cạnh đó, Luật cũng đã làm rõ địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài để làm cơ sở áp dụng thống nhất điều kiện và thủ tục đầu tưđối với các doanh nghiệp này theo hướng chỉ các doanh nghiệp có nhà đầu tưnước ngoài nắm giữ trên 51% hoặc doanh nghiệp có các doanh nghiệp nêu trênnắm giữ trên 51% mới phải áp dụng điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nướcngoài Những trường hợp còn lại, doanh nghiệp áp dụng điều kiện và thủ tục đầu
tư như nhà đầu tư trong nước
Bốn là, Luật đã cải cách quy trình góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của
nhà đầu tư nước ngoài theo hướng cho phép nhà đầu tư nước ngoài trực tiếpthực hiện thủ tục thay đổi thành viên theo quy định của pháp luật về doanhnghiệp mà không phải thực hiện thủ tục đầu tư, trừ trường hợp nhà đầu tư nướcngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp kinh doanh trongngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nướcngoài hoặc trường hợp nhà đầu tư nước ngoài sở hữu trên 51% vốn điều lệ củadoanh nghiệp sau khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp
Trang 38Để cải cách quy trình này, Luật cũng đã phân định rõ phạm vi điều chỉnhcủa Luật Đầu tư và Luật Chứng khoán trong hoạt động mua cổ phần, quy địnhchi tiết các hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nướcngoài và làm rõ điều kiện phải tuân thủ của nhà đầu tư nước ngoài
3.5.4 Hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả thu hút đầu tư
Luật đã hoàn thiện các quy định của Luật Đầu tư hiện hành về ngành, nghề
ưu đãi đầu tư cũng như các nguyên tắc, điều kiện áp dụng ưu đãi nhằm bảo đảmthu hút đầu tư có chọn lọc, chất lượng, tập trung vào các ngành sử dụng côngnghệ cao, kỹ thuật hiện đại, dự án sản xuất có quy mô lớn, dự án đầu tư tại vùngnông thôn sử dụng nhiều lao động, dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗtrợ, dự án thực hiện trong các các lĩnh vực xã hội hóa đầu tư (y tế, giáo dục, dạynghề, văn hóa…)
Để khắc phục việc áp dụng ưu đãi đầu tư tràn lan đối với tất cả các dự ánthuộc địa bàn ưu đãi đầu tư, Luật bổ sung quy định không áp dụng ưu đãi đầu tưtheo tiêu chí địa bàn đối với các dự án khai thác khoáng sản; dự án sản xuất,kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo quyđịnh của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
3.5.5 Hoàn thiện chế độ phân cấp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
Để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các dự
án đầu tư quan trọng, có quy mô lớn và tác động liên ngành, liên vùng, Luật đã
bổ sung quy định về thẩm quyền, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốchội, Thủ tướng Chính phủ và UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngtheo hướng:
- Quy định dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận đầu tư của Quốc hội vàThủ tướng Chính phủ trên cơ sở kế thừa, luật hóa và hoàn thiện quy định tươngứng của Nghị quyết số 49/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội và quy địnhcủa Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
- Bổ sung quy định về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư củaUBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với các dự án được Nhànước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Điểm mới trong nội dung này là chuẩn hóa và đơn giản hóa thủ tục hànhchính đối với một số dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư củaUBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Theo đó, cơ quan quản lýđầu tư thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với việc xemxét thẩm tra nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mụcđích sử dụng đất Việc áp dụng đồng thời các thủ tục nêu trên sẽ giúp cắt giảmđáng kể thời gian thực hiện thủ tục hành chính do nhà đầu tư không phải tiến
Trang 39hành lần lượt từng thủ tục liên quan đến việc sử dụng đất như quy định hiệnhành
Ngoài ra, Luật đã chuyển thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư từ UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sang sở kế hoạch và đầutư; bổ sung quy định về trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các
bộ, UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ban quản lý khu côngnghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế trong quản lý hoạt độngđầu tư, đồng thời hoàn thiện các quy định về chế độ báo cáo đầu tư, giám sát vàđánh giá hoạt động đầu tư
3.5.6 Cải cách thủ tục đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài
Các quy định về vấn đề này được thiết kế trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một
số nội dung tương ứng của Luật Đầu tư trước đây; đồng thời, luật hóa và hoànthiện một số quy định tại Nghị định 78/2006/NĐ-CP, ngày 9/8/2006 của Chínhphủ về đầu tư ra nước ngoài Theo đó, Luật khẳng định nguyên tắc nhà đầu tưđược thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác, phát triển, mởrộng thị trường; tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu ngoại tệ; tiếpcận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản lý và bổ sung nguồn lực pháttriển kinh tế đất nước; hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ quy địnhcủa Luật này, pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư và điều ước quốc tế mà ViệtNam là thành viên; nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động đầu tư.Luật cũng quy định trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc huy động cácnguồn vốn (bao gồm cả ngoại tệ) để thực hiện hoạt động đầu tư ở nước ngoài;xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của nhà đầu tư, cũng như cơ quan đại diệnchủ sở hữu nhà nước và các cơ quan liên quan trong việc quyết định đầu tư,quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài; đồng thời, bổ sung một số quy định vềthủ tục triển khai hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm tạo cơ chế giám sát vàquản lý chặt chẽ nguồn vốn chuyển ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư.Ngoài ra, Luật đã bổ sung hình thức đầu tư đầu tư ra nước ngoài thông quamua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác và đầu tư thông qua các quỹ đầu
tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài mà khôngtrực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư và giao cho Chính phủ hướng dẫn đểtạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư theo hình thức này
3.6 Về các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật:
1 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tưtheo hình thức đối tác công – tư
Trang 40III LUẬT ĐẦU TƯ CÔNG 2014
1 Sự cần thiết xây dựng Luật Đầu tư công
Trong thời gian vừa qua, việc đầu tư công bằng các nguồn vốn của Nhànước đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kết cấu
hạ tầng kinh tế-xã hội Nhiều công trình, dự án sử dụng nguồn vốn đầu tư côngđược đầu tư đã kịp thời giải quyết những yêu cầu bức thiết trong đời sống xãhội, thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường tiềm lựcquốc phòng, an ninh Tuy nhiên, do thiếu hệ thống pháp luật đồng bộ, đặc biệt làviệc phân cấp quá rộng lại thiếu các chế tài và biện pháp quản lý giám sát, nên
đã phát sinh nhiều tồn tại, hạn chế, như: phê duyệt chủ trương và quyết định đầu
tư tràn làn không tính đến khả năng cân đối vốn, bố trí vốn dàn trải; dẫn đến thờigian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tưkém và lãng phí nguồn lực của Nhà nước Tình trạng thi công vượt quá vốn kếhoạch được giao, gây nợ đọng xây dựng cơ bản quá mức, gây áp lực đến cân đốiNSNN các cấp
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư công còn thiếuchưa đồng bộ, thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau Việc quản lý đầu
tư sử dụng vốn nhà nước được quy định rải rác trong các văn bản Luật (Ngânsách nhà nước 2003, Xây dựng 2003, Đầu tư 2005…), các Nghị định, Thông tư
và các quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng dẫncủa các bộ, ngành, Trong các năm gần đây việc thực hiện Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ góp phần khắc phụcmột bước các tồn tại, hạn chế nêu trên Tuy nhiên, đây vẫn là các quy định dướiLuật và mới giải quyết được một số bức xúc trước mắt, chưa đáp ứng được yêucầu đổi mới về đầu tư công một cách toàn diện, có hệ thống Các văn bản quyphạm pháp luật này có quy định về quản lý đầu tư đối với nguồn vốn đầu tưcông, tuy nhiên chưa đầy đủ, thiếu cụ thể, ví dụ như chưa có quy định về quyhoạch; trình tự thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình, dự án; cácquy định về thẩm định nguồn vốn đối với các chương trình, dự án sử dụng vốnđầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đầu tư; triển khai thực hiện kếhoạch; theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, giám sát kế hoạch đầu tư, cũngnhư các chương trình, dự án đầu tư công
Với tình hình thực tế cùng những hạn chế, tồn tại trong quản lý đầu tưcông hiện nay, đồng thời quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấphành Trung ương Đảng (khóa XI), thực hiện tái cơ cấu đầu tư, mà trọng tâm làđầu tư công; việc ban hành Luật Đầu tư công là hết sức cần thiết nhằm tăngcường quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước để hướng tớithực hiện mục tiêu đột phá xây dựng hạ tầng đồng bộ trong thời gian tới
Theo ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và đánh giá của các cơ quan, dựthảo Luật Đầu tư công được soạn thảo một cách công phu, trên cơ sở kế thừa vàhoàn thiện các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vềquản lý đầu tư công nhằm quản lý chặt chẽ, chống thất thoát, lãng phí, sử dụng