MỞ ĐẦU Việt Nam đang trở thành nhân tố ngày càng quan trọng trong chiến lược khu vực và toàn cầu của các nước lớn. Hình ảnh và uy tín của Việt Nam đã được nâng cao trong mắt bạn bè trong thời gian qua. Việt Nam vốn được biết đến và được yêu quý, vì là đất nước có nền văn hóa rất đặc sắc, có nhiều cộng đồng dân tộc và có lịch sử lâu dài. Đặc biệt bạn bè quốc tế biết đến Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng là dân tộc bất khuất và đã giành được thắng lợi trong việc bảo vệ nền độc lập của mình trong chiều dài lịch sử. Việt Nam cũng được biết đến nhiều về thành tựu của quá trình đổi mới, Việt Nam trở thành điểm đến của các nhà đầu tư là đối tác thương mại trên thế giới. Những thành tựu trên càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết khi thế giới trải qua những biến động to lớn, phức tạp chưa từng có. Công tác đối ngoại đã đóng góp quan trọng, trở thành một điểm sáng trong những thành tựu chung của cả dân tộc. Không chỉ giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định trong bối cảnh thế giới rất phức tạp, Việt Nam đã thể hiện được bản lĩnh, tinh thần chủ động thích ứng, khả năng kiến tạo và tận dụng cơ hội để không ngừng nâng cao thế và lực, uy tín quốc tế của đất nước. Trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có câu: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta... . Để góp phần làm rõ cơ sở hoạch định và quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới; những nội dung cơ bản trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay, đồng thời phân tích những điểm mới về nhiệm vụ đối ngoại và quan hệ quốc tế trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Tôi chọn đề tài “Những nội dung cơ bản trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay”
Trang 1MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ
“NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI
CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY”
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1 2
CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI 2
1 Cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới 2
1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại 2
1.2 Truyền thống ngoại giao của dân tộc 4
1.3 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong nước 4
1.4 Tình hình thế giới và khu vực 5
2 Quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới 9
2.1 Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (1986) đến năm 1995 9
2.2 Giai đoạn từ sau Đại hội VIII (1996) đến năm 2010 - giai đoạn mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế 11
2.3 Giai đoạn từ sau Đại hội XI (2011) đến nay - giai đoạn đưa các quan hệ đi vào chiều sâu và hội nhập quốc tế toàn diện 12
CHƯƠNG 2 13
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT nam' hiện nay 13
1 Mục tiêu đối ngoại 13
2 Nguyên tắc đối ngoại 13
3 Nhiệm vụ đối ngoại 14
4 Phương châm đối ngoại 15
4.1 Phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; dựa và phát huy nội lực là chính, tranh thủ tối đa ngoại lực 15
4.2 Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; vừa hợp tác, vừa đấu tranh 16
4.3 Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước 17
4.4 Chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả 17
4.5 Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc17 CHƯƠNG 3 19
NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ NHIỆM VỤ ĐỐI NGOẠI VÀ QUAN HỆ 19
QUỐC TẾ TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG 19
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trở thành nhân tố ngày càng quan trọng trong chiến lược khu vực vàtoàn cầu của các nước lớn Hình ảnh và uy tín của Việt Nam đã được nâng cao trong mắtbạn bè trong thời gian qua Việt Nam vốn được biết đến và được yêu quý, vì là đất nước cónền văn hóa rất đặc sắc, có nhiều cộng đồng dân tộc và có lịch sử lâu dài Đặc biệt bạn bèquốc tế biết đến Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng là dân tộc bất khuất và
đã giành được thắng lợi trong việc bảo vệ nền độc lập của mình trong chiều dài lịch sử.Việt Nam cũng được biết đến nhiều về thành tựu của quá trình đổi mới, Việt Nam trởthành điểm đến của các nhà đầu tư là đối tác thương mại trên thế giới Những thành tựutrên càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết khi thế giới trải qua những biến động to lớn, phức tạpchưa từng có Công tác đối ngoại đã đóng góp quan trọng, trở thành một điểm sáng trongnhững thành tựu chung của cả dân tộc Không chỉ giữ vững được môi trường hòa bình, ổnđịnh trong bối cảnh thế giới rất phức tạp, Việt Nam đã thể hiện được bản lĩnh, tinh thầnchủ động thích ứng, khả năng kiến tạo và tận dụng cơ hội để không ngừng nâng cao thế vàlực, uy tín quốc tế của đất nước Trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
có câu: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ
có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ".
Để góp phần làm rõ cơ sở hoạch định và quá trình hình thành, phát triển đường lốiđối ngoại thời kỳ đổi mới; những nội dung cơ bản trong đường lối đối ngoại của Đảng,Nhà nước Việt Nam hiện nay, đồng thời phân tích những điểm mới về nhiệm vụ đối ngoại
và quan hệ quốc tế trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng Tôi chọn đề tài “Những nội
dung cơ bản trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay”
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG
LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1 Cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới
1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại
Trong quá trình hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nướcluôn kiên định lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coiđây là cơ sở lý luận và là vấn đề có tính nguyên tắc, bởi vì:
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ namcho hành động của Đảng ta Những nội dung có tính khoa học và cách mạng về thời đại,
về vấn đề dân tộc và quốc tế, về quan hệ quốc tế và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp côngnhân, về tư tưởng cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khácnhau, về quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế trong học thuyết Mác-Lênin luônđược Đảng chú trọng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo trong bối cảnh thế giới mới và điềukiện cụ thể của Việt Nam
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện trên các vấn đề lớn, mang tính chiếnlược như:
Một là, độc lập dân tộc: Đây vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là phương châm hành
động của ngoại giao Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam phải luôn giữvững tinh thần độc lập, tự chủ, tự mình quyết định đường lối, chủ trương của mình, vì
“muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” Điều đó cũng cónghĩa, chỉ trên tinh thần độc lập dân tộc, Đảng ta mới nắm được tình hình cụ thể, khả năng,lợi ích của đất nước, từ đó mà đề ra chủ trương, chính sách phù hợp để đạt được mục tiêu
đã xác định Vấn đề này càng quan trọng trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi lợi ích quốcgia, dân tộc được đặt lên hàng đầu trong quan hệ quốc tế
Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: Theo Hồ Chí Minh, sức
mạnh dân tộc bao gồm sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần
Trang 5Sức mạnh dân tộc là sức mạnh của thế và lực của đất nước sau 35 năm đổi mới; sứcmạnh tổng thể của Nhà nước và nhân dân, của kinh tế, quân sự, dân số, lãnh thổ; sức mạnhcủa các giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa, tinh thần yêu nước, tinh thần lao động cần cù
và ý chí vươn lên của con người Việt Nam
Sức mạnh thời đại thể hiện qua các trào lưu lớn của thời đại như: nội dung chủ yếucủa thời đại ngày nay, phong trào độc lập dân tộc, phong trào dân chủ và tiến bộ xã hội,cũng như các xu thế lớn của thế giới như: quyền độc lập cho mọi quốc gia; quyền tự quyếtcho mọi dân tộc; xu thế hòa bình cho toàn thể giới và sự hợp tác bình đẳng giữa các quốcgia, Sức mạnh thời đại của thế giới hiện nay như: cuộc cách mạng khoa học - công nghệ;
xu thế toàn cầu hóa và liên kết khu vực; trào lưu tái cấu trúc và đổi mới mô hình tăngtrưởng
Ba là, ngoại giao tâm công: Đó là nền ngoại giao đề cao tính chất chính nghĩa, đánh
vào lòng người bằng chính nghĩa, bằng lẽ phải, đạo lý và nhân tính; là nền ngoại giaomang tính nhân bản sâu sắc, phù hợp với khát vọng hòa bình, tự do, công lý
Bốn là, ngoại giao hòa hiếu với các dân tộc khác: Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm
đối ngoại là một mặt trận, phải “thêm bạn, bớt thù”, “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiềubạn đồng minh hơn hết”, và đây cũng thể hiện tinh nhân văn của dân tộc Việt Nam Đó lànền ngoại giao luôn dành mối quan tâm hàng đầu cho nhiệm vụ củng cố quan hệ với cácnước láng giềng, các nước trong khu vực, tập trung nỗ lực thiết lập và củng cố quan hệ vớicác nước lớn, đồng thời tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với mọi quốc gia khác trênthế giới
Năm là, ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến ”: Đó là nền ngoại giao kiên trì trong
nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo trong sách lược Theo quan điểm củaChủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao Việt Nam phải đặt lợiích quốc gia, dân tộc lên trên hết Phương châm đối ngoại của Người là “dĩ bất biến ứngvạn biến”, trong đó, thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh” trong giai đoạn hiện nay là cái “bất biến” Cái “vạn biến” làphải linh hoạt, khôn khéo trong bối cảnh tình hình thế giới đang có nhiều biến động
Trang 6Sáu là, ngoại giao nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước: Đó là nền ngoại
giao phải biết nắm vững thời cơ, chủ động tạo lập thời cơ, đồng thời chủ động tấn cônggiành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn
1.2 Truyền thống ngoại giao của dân tộc
Một trong những nét nổi bật hàng đầu trong truyền thống ngoại giao của dân tộc làtruyền thống ngoại giao hòa bình, hữu nghị Đây là sự thể hiện tư tưởng đối ngoại nhânvăn, hòa hiếu bắt nguồn từ chiều sâu bản sắc văn hóa dân tộc Đồng thời, đây cũng cònđược quy định bởi vai trò, vị trí địa-chiến lược, địa-chính trị quan trọng của nước ta ở khuvực Truyền thống ngoại giao của dân tộc Việt Nam là: (1) giữ vững nguyên tắc độc lập tựchủ và chủ quyền quốc gia; (2) ngoại giao vì hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, khoan dung; (3)ngoại giao rộng mở, biết tiếp thu thành tựu văn minh nhân loại để phát triển; (4) ngoạigiao với tinh thần chủ động, khôn khéo, sáng tạo, linh hoạt
1.3 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong nước
Bước vào thời kỳ đổi mới, đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thử thách to lớn:Nền kinh tế nhiều năm tăng trưởng âm và siêu lạm phát, khiến cho đời sống nhân dân hếtsức khó khăn Trên lĩnh vực đối ngoại, nước ta bị bao vây, cấm vận về kinh tế, bị cô lập vềchính trị Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng thông qua đường lối đổi mới toàn diện.Đại hội VI đã xác định nhiệm vụ có tính cấp bách trước mắt là giải phóng sức sản xuất, tậptrung phát triển kinh tế - xã hội để nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế - xã hội, phá thế bị bao vây, cấm vận, cô lập và mở rộng quan hệ đối ngoại
Những Đại hội sau đó xác định nhiệm vụ cơ bản, lâu dài là sớm đưa Việt Nam thoát
khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn
đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”
Là một bộ phận hợp thành đường lối chung của Đảng Cộng sản Việt Nam, đườnglối đối ngoại của Đảng phải góp phần tận dụng thời cơ, thuận lợi,
đưa đất nước vượt qua những khó khăn thách thức đang đặt ra nhằm thực hiện thắnglợi những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Đường lối đối
Trang 7ngoại thời kỳ đổi mới của Đảng được hoạch định nhằm tranh thủ tối đa nguồn lực bênngoài, kết hợp một cách có hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phục vụmục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh.
1.4 Tình hình thế giới và khu vực
Tình hình thế giới và khu vực từ sau Chiến tranh lạnh đến nay nổi lên một sốđặc điểm và xu thế vận động chủ yếu tác động đến việc hoạch định đường lối đốingoại của Việt Nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, cục diện chính trị - an ninh thế giới có nhiều chuyển biến lớn, trong đó
nổi bật là sự thay đổi lớn trong tương quan lực lượng giữa các nước lớn
Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ởcác nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã, trật tự thế giới hai cực chấmdứt đã làm đảo lộn các quan hệ liên minh kinh tế, chính trị, quân sự được thiết lậptrong thời kỳ Chiến tranh lạnh Tương quan lực lượng thế giới cũng có sự thay đổinghiêng hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫn thời đại giữa chủ nghĩa xãhội và chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục tồn tại, song không còn là nhân tố duy nhất chiphối quan hệ quốc tế cũng như việc tập hợp lực lượng giữa các nước trên thế giới
Trong thời kỳ quá độ hình thành trật tự thế giới mới, tất cả các nước trên thếgiới tuy ở các mức độ khác nhau đều đứng trước những thách thức mới như: xung độtkhu vực, mâu thuẫn quốc gia, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; hố ngăn cách giàu - nghèo; sựbất bình đẳng trong quan hệ giữa các nước; nhu cầu phát triển kinh tế và ổn định chínhtrị ở mỗi nước; hoạt động ngày càng tăng của chủ nghĩa khủng bố, sự tăng lên củanhững vấn đề mang tính toàn cầu
Đặc biệt, trong quá trình hình thành trật tự thế giới sau Chiến tranh lạnh, tươngquan lực lượng của thế giới có sự thay đổi lớn, bản đồ quyền lực có sự chuyển dịch.Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, trong khi Mỹ tiếp tục suy yếu tương đối Bêncạnh đó, sự trỗi dậy của một số cường quốc trong nhóm BRICS
Trang 8đang gây sức ép phải xây dựng luật chơi mới trong quan hệ quốc tế ngày càng tăng Hòabình, ổn định, hợp tác để phát triển trở thành xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của cácquốc gia trên the giới trong giai đoạn hiện nay của thời đại.
Thứ hai, sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công
nghiệp 4.0 đang tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội
Sự phát triển khoa học - công nghệ đã và đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội và quan hệ quốc tế Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp4.0, nước nào chiếm lĩnh khoa học - công nghệ sẽ tiếp tục phát triển nhanh chóng vàngược lại Trong quan hệ giữa các nước lớn, nước nào giành và giữ ưu thế về công nghệcao thì nước đó có ưu thế trong việc giành ngôi vị siêu cường số 1 thế giới
Tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 càng làm cho sự tùy thuộclẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hóa, khiến cho xu hướng đadạng hóa quan hệ đối ngoại của các nước trở thành đòi hỏi khách quan Các nước ra sức
mở rộng quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, với tất cảnhững ai có khả năng hợp tác hiệu quả; việc xác định bạn - thù, hình thức và mức độ quan
hệ cũng trở nên rất linh hoạt Phương thức tập hợp lực lượng theo kiểu truyền thống đãđược thay bằng sự tập hợp lực lượng trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc Toàn cầu hóa làmột quá trình khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Đối với đại bộ phậncác nước trên thế giới, toàn cầu hóa là quá trình luôn chứa đựng tính hai mặt: thuận lợi vàkhó khăn, thời cơ và thách thức, tích cực và tiêu cực, hợp tác và đấu tranh
Hơn nữa, nền kinh tế số là kết quả của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ dẫn tới
sự dịch chuyển quyền lực toàn cầu trên cả phương diện không gian địa lý và chủ thể quyềnlực Trong nền kinh tế số, cạnh tranh quốc tế sẽ tập trung trong không gian số, trên lĩnhvực kinh tế, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao Trong thế giới củakinh tế số, hợp tác và hội nhập quốc tế sẽ vừa có động lực mới bởi sự gắn kết ngày càngchặt chẽ giữa các quốc gia, khu vực qua không gian số và mạng Internet toàn cầu, nhưngcạnh tranh, cọ xát và xung đột lợi ích giữa các quốc gia và trên phạm vi toàn cầu cũng sẽngày càng mở rộng và trở nên sâu sắc, khốc liệt hơn Cuộc cạnh tranh này sẽ có tác độngquan trọng tới việc hình thành những hình thức hợp tác, những tuyến lợi ích, những tập
Trang 9hợp lực lượng mới trên thế giới, có ý nghĩa quyết định đối với việc đẩy nhanh quá trìnhđịnh hình những đường nét cơ bản của trật tự kinh tế khu vực, quốc tế mới, nhất là ở khuvực châu Á - Thái Bình Dương.
Thứ ba, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, nhất là ở khu
vực châu Á - Thái Bình Dương
Một đặc điểm nổi bật của thế giới trong giai đoạn hiện nay là các nước lớn và quan
hệ giữa các nước lớn trở thành nhân tố có vai trò quan trọng đến sự phát triển thế giới.Trong thập niên gần đây, các nước lớn có nhiều điều chỉnh quan trọng theo hướng đặt lợiích quốc gia lên trên hết, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ Kể từ Đại hội XIX Đảng Cộngsản Trung Quốc năm 2017, Trung Quốc cơ bản đã từ bỏ phương châm “giấu mình chờthời” sang hướng “chủ động hơn, cứng rắn hơn”, quyết đoán theo đuổi lợi ích cốt lõi, kể cả
ở Biển Đông Nước Mỹ trong nhiệm kỳ của Tổng thống D.Trump thực hiện phương châm
“Nước Mỹ trên hết”, theo đó, các chính sách được triển khai theo hướng thực dụng, coitrọng cơ chế hợp tác song phương hơn đa phương Các nước lớn và trung tâm quyền lựckhác như Nga, Nhật Bản, Ân Độ, EU cũng có những điều chỉnh theo hướng ngày càng đềcao lợi ích quốc gia - dân tộc
Đặc biệt, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ vàTrung Quốc đã chuyển sang giai đoạn gay gắt hơn, quyết liệt hơn Nếu như trên bình diệnthế giới, cục diện thế giới cơ bản vẫn cục diện “nhất siêu, đa cường” thì ở khu vực châu Á
- Thái Bình Dương đang định hình ngày càng rõ nét cục diện “lưỡng siêu, đa cường”
Nhìn chung, thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, cùng với xu thế hòa bình, hợp tác vì pháttriển, các nước lớn, một mặt, thường thỏa hiệp với Mỹ để tìm tiếng nói chung nhằm tăngcường hợp tác; mặt khác, lại đấu tranh gay gắt với nhau nhằm giành lấy những điều kiệnthuận lợi nhất cho phát triển cũng như khẳng định vị thế của nước mình trong trật tự thếgiới mới đang trong quá trình hình thành, chống tham vọng thiết lập trật tự thế giới đơncực do Mỹ lãnh đạo Sự cạnh tranh, tranh giành ảnh hưởng và lợi ích giữa các nước lớn thểhiện trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều khu vực trên thế giới vẫn tiếp tục gay gắt trong mối quan
hệ vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau
Trang 10Thứ tư, nhiều vấn đề mang tính toàn cầu nổi lên, tác động lớn đến đời sống quan hệ
quốc tế
Nhân loại ngày nay đang đối phó với nhiều vấn đề mang tính toàn cầu cấp bách đòihỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết Do tính chất nghiêm trọng và phức tạp củanhững vấn đề toàn cầu tiếp tục đòi hỏi các nước phải tích cực phối hợp, hợp tác một cáchhiệu quả, thiết thực cả trong khuôn khổ song phương cũng như đa phương Đây cũng lànguyên nhân khách quan của xu thế hợp tác trong quan hệ quốc tế giai đoạn hiện nay
Thứ năm, tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực pháttriển năng động, góp phần vào sự phát triển chung của thế giới Cùng với vị thế quốc tếngày càng tăng, châu Á - Thái Bình Dương cũng là nơi diễn ra sự tranh giành ảnh hưởngmột cách quyết liệt giữa các nước lớn Những biến đổi sâu sắc của môi trường địa-chính trị
và địa-kinh tế tại châu Á - Thái Bình Dương kể từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh đã mở ramột không gian phát triển mới cho khu vực và tạo nên vị thế mới của châu Á - Thái BìnhDương trong quan hệ quốc tế Có thể nói, vai trò của châu Á - Thái Bình Dương trongquan hệ quốc tế ngày càng quan trọng hơn xét trên cả hai phương diện: chính trị - an ninh
và kinh tế
Tuy nhiên, tình hình an ninh chính trị châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục diễn biếnrất phức tạp Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các thực thể quyền lực khác đã tạo nên cụcdiện ganh đua quyết liệt, tập hợp lực lượng, hòa hoãn, liên kết đa phương đa diện, cạnhtranh và hợp tác hết sức năng động, tùy thuộc lẫn nhau vô cùng sâu sắc Châu Á - TháiBình Dương còn thiếu một cấu trúc nội tại ổn định có vai trò lãnh đạo, chi phối toàn diện
cả về kinh tế lẫn chính trị trong khu vực; sự ổn định an ninh khu vực phụ thuộc vào nhữngyếu tố bên ngoài, trong đó đặc biệt phải kể đến vai trò can dự của Mỹ Ở châu Á - TháiBình Dương hiện vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố có khả năng gây mất ổn định, đòi hỏi phải
có sự tham gia mạnh mẽ của các nước liên quan để giải quyết Đáng chú ý nhất là chươngtrình hạt nhân của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, vấn đề eo biển Đài Loan vànhững mâu thuẫn, xung đột chủ quyền ở Biển Đông và Biển Hoa Đông
Trang 112 Quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới
2.1 Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (1986) đến năm 1995 Đây là giai đoạn
hình thành đường lối đối ngoại đổi mới, đồng thời phá thế bị bao vây cấm vận về kinh tế,
bị cô lập về chính trị, thể hiện qua các văn kiện sau:
Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đồng thờicũng mở đầu quá trình hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới Đại hội xác địnhnhiệm vụ hàng đầu là tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Thực hiện chính sách đối ngoại thêm bạn, bớt thù; phá thế
bị bao vây, cấm vận; mở rộng quan hệ quốc tế, theo đó phương hướng đối ngoại được xácđịnh: (1) Phát triển và củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia, trên cơ
sở tôn trọng độc lập chủ quyền mỗi nước; (2) Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô làhòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam; (3) sẵn sàng đàmphán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, tiến tới bìnhthường hóa quan hệ; (4) Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tạihòa bình
Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI (1988) đã đánh dấu sự hình thành bước đầuchính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa Đảng ta xác định nhiệm vụ đối ngoạichuyển từ chỗ chú trọng nhân tố chính trị - quân sự sang ưu tiên cho nhân tố kinh tế, ưutiên giữ vững hòa bình, độc lập dân tộc, có cách tiếp cận toàn diện hơn về tình hình thếgiới và khu vực Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, Đảng ta triển khai chính sách đốingoại “thêm bạn, bớt thù”, nhấn mạnh chủ trương phát triển quan hệ với tất cả các nước cóchế độ chính trị khác nhau trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ,bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989) một lần nữa tái khẳng định đối ngoại phảichuyển từ chính trị-an ninh là chủ yếu sang chính trị - kinh tế là chủ yếu; thúc đẩy quátrình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; xác định lộ trình cải thiện quan hệ với cácnước ASEAN; xác định lộ trình rút quân khỏi Campuchia; tiếp cận lộ trình bình thườnghóa quan hệ với Mỹ