LỜI CẢM ƠN Đề tài “Nghiên cứu tiềm năng phát triển khu du lịch sinh thái bền vững dựa vào văn hóa cộng đồng tại vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình T
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Nghiên cứu tiềm năng phát triển khu du lịch sinh thái bền vững dựa vào văn hóa cộng đồng tại vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, huyện Tánh
Linh, tỉnh Bình Thuận” được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của
TS Nguyễn Tri Quang Hưng, người thầy đã theo sát, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Xin chân thành cám ơn ban lãnh đạo Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý môi trường, trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Quản lý Sau đại học và các Thầy, Cô trong Viện đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Xin cám ơn ban lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận,
Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh Bình Thuận, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, UBND huyện Tánh Linh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, cung cấp thông tin, đóng góp các ý kiến quý báu Đồng thời, tôi xin chân thành cám ơn khách
du lịch và người dân các xã vùng đệm đã nhiệt tình tham gia trả lời phỏng vấn, và đóng góp rất nhiều ý kiến hay cho đề tài nghiên cứu này
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã quan tâm, chia sẻ khó khăn và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Học viên
Huỳnh Khắc Điệp
Trang 2TÓM TẮT LUẬN VĂN
Du lịch sinh thái cộng đồng (DLSTCĐ) đang ngày càng trở thành nhu cầu và xu hướng của những người yêu thích du lịch DLSTCĐ đưa con người trở về gần gũi, hòa mình vào thiên nhiên hoang dã; hoạt động du lịch, tìm hiểu nét văn hóa lẫn phong tục tập quán lẫn nhau nhưng vẫn bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ cảnh quan môi trường bền vững Đề tài “Nghiên cứu tiềm năng phát triển khu du lịch sinh thái bền vững dựa vào văn hóa cộng đồng tại vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận” sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, thông tin, phương pháp khảo sát thực địa, phương pháp phỏng vấn, phân tích SWOT, phương pháp mô tả, phương pháp bản đồ, ứng dụng GIS Trên cơ
sở khai thác các tiềm năng tự nhiên về cảnh quan, môi trường, sự đa dạng về Tài nguyên tự nhiên của hệ sinh thái rừng, động, thực vật, và Tài nguyên nhân văn về văn hoá tâm linh, văn hóa truyền thống của khu vực; trên cơ sở khảo sát, đánh giá hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tạ vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, dựa vào nguyên tắc của hoạt động du lịch sinh thái, đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng mô hình “du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng” trong đó Ban quản
lý Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông kết hợp với các Công ty lữ hành đứng ra tổ chức du lịch sinh thái, ký kết hợp đồng với các nhóm cộng đồng địa phương tham gia thực hiện và cung cấp các dịch vụ du lịch với ưu tiên phát triển các loại hình du lịch leo núi thám hiểm, đi bộ trong rừng kết hợp tham quan các sinh cảnh độc đáo,
du lịch tâm linh hành hương viếng nhà thờ Đức Mẹ Tà Pao và du lịch vui chơi giải trí, giao lưu văn hoá với cộng đồng địa phương trong khu vực vùng đệm của khu bảo tồn, với các giải pháp đồng bộ như: xây dựng các loại hình, dịch vụ, các tuyến, điểm du lịch sinh thái hợp lý, phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sở vật chất,
kỹ thuật song song với bảo vệ, tôn tạo Tài nguyên môi trường rừng và thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của con người, tạo ra nguồn thu nhập để phục vụ công tác bảo tồn và đa dạng hoá các loại hình du lịch của tỉnh Bình Thuận
Trang 3ABSTRACT
Eco-tourism is increasingly becoming the needs and trends of travel lovers Ecotourism bring people back to intimacy, immersed in the wild; tourism activities but conservation of natural resources and environmental protection for sustainable landscapes Project "Study, the model proposed ecotourism in nature reserve Nui Ong, Tanh Linh District, Binh Thuan Province," using the method of data collection, information, research methods field surveys, the cannon interview method SWOT analysis matrix, the method described On the basis of the exploitation of the natural potential of the landscape, the environment, the diversity
of natural resources of the forest ecosystems, flora and fauna, and natural resources humanistic spiritual culture, traditional culture regional; on the basis of the survey and assessment of the state of development of ecotourism in nature reserve Nui Ong, based on the principles of eco-tourism activities, focused research
"Ecotourism with the participation of the community" in which Nui Ong management combined with the travel company to host ecotourism, contracting with local community groups to participate in the implementation and provision of travel services with priority development of tourism mountaineering expeditions, hiking tour combines the unique habitat, spiritual tourism pilgrims and tourists visit the Temple recreation tourism, cultural exchange with local communities in the buffer zone of the reserve, with synchronization solutions such as building types, services, routes, destinations reasonable ecological, human resource development, developed infrastructure, alongside technical protection, environmental restoration
of forest resources and attract the local community involved in tourism activities to raise awareness of environmental protection of human beings, generate income to serve the conservation and diversification of the types of tourism in Binh Thuan
province
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Huỳnh Khắc Điệp
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng 5
1.1.2 Điều kiện để hình thành và phát triển du lịch cộng đồng 6
1.1.3 Vai trò của khu du lịch cộng đồng 8
1.1.4 Đặc điểm của du lịch cộng đồng 9
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản về phát triển du lịch cộng đồng 11
1.1.6 Các tiêu chí đánh giá tiềm năng DLCĐ tại vùng đệm KBTTN Núi Ông 12 1.1.7 Tác động tích cực từ hoạt động du lịch ở vùng đệm của KBTTN 12
1.1.8 Tác động tiêu cực có thể mang lại do hoạt động du lịch ở KBTTN 13
1.2 Các nghiên cứu về du lịch sinh thái cộng đồng và kinh nghiệm phát triển DLST ở một số các VQG, KBTTN trên thế giới 14
1.2.1 Các nghiên cứu về du lịch sinh thái trên thế giới 14
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển DLST ở các VQG, KBTTN trên thế giới 17
1.2.2.1 DLST ở VQG Galapagos 17
1.3.1 Các nghiên cứu về Du lịch sinh thái ở Việt Nam 21
1.3.2.1 Mô hình cộng đồng gắn với nông thôn mới – Hà Giang 23
1.3.2.2 Mô hình du lịch cộng đồng gắn với du lịch sinh thái và văn hóa - Lào Cai 24
1.3.2.3 Mô hình du lịch cộng đồng gắn với lịch sử - Điện Biên 25
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Nội dung nghiên cứu 26
2.2.1 Phương pháp luận 27
Trang 62.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 27
2.2.2.1 Thu thập số liệu, thông tin 27
2.2.2.2 Khảo sát thực địa 27
2.2.2.3 Điều tra xã hội học 29
2.2.2.4 Phương pháp so sánh 31
2.2.2.5 Phương pháp chuyên gia 31
2.2.2.6 Phương pháp mô tả 32
2.2.2.7 Phương pháp ma trận phân tích SWOT 32
2.2.2.8 Phương pháp bản đồ, ứng dụng GIS 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Đánh giá hiện trạng du lịch và tài nguyên thiên nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn Núi Ông 33
3.1.1 Khách du lịch 33
3.1.1.1 Nguồn khách và thành phần khách 33
3.1.1.2 Số lượng khách 34
3.1.1.3 Doanh thu 34
3.1.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 35
3.1.2.1 Giao thông 35
3.1.2.2 Điện, nước và thông tin liên lạc 35
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 36
3.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển khu du lịch vùng đệm 37
3.1.3 Kết quả điều tra về khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách 39
3.1.3.1 Mục đích của khách khi đến với khu du lịch 39
3.1.3.2 Khả năng đáp ứng 39
3.2 Thế mạnh về điều kiện tự nhiên, về tài nguyên nhân văn và chính sách phát triển du lịch 40
3.2.1 Tiềm năng về Tài nguyên thiên nhiên 40
3.2.1.1 Vị trí địa lý, hành chính 40
3.2.1.2 Khí hậu thủy văn 41
Trang 73.2.1.3 Hiện trạng các loại đất, loại rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Núi
Ông 43
3.2.1.4 Tài nguyên khác 51
3.2.2 Thế mạnh về điều kiện kinh tế xã hội và Tài nguyên nhân văn phục vụ DLSTCĐ 54
3.2.2.1 Dân số 54
3.2.2.2 Dân tộc 54
3.2.2.3 Các hoạt động kinh tế và tình trạng phục thuộc vào rừng 55
3.2.2.4 Lao động 57
3.2.2.5 Giáo dục, đào tạo 58
3.2.2.6 Tình trạng nhà ở 58
3.2.2.7 Thu nhập 58
3.2.3 Thế mạnh về các chính sách, quy hoạch phát triển DLCĐ của nhà nước cho vùng đệm khu BTTN Núi Ông 59
3.2.3.1 Giải pháp phát triển du lịch 59
3.2.3.2 Khả năng gắn kết giữa việc phát triển du lịch sinh thái tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông với Tài nguyên du lịch của vùng gần kề 59
3.3 Điều tra văn hóa cộng đồng 61
3.3.1 Phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng tại vùng đệm KBTN Núi Ông 61 3.3.2 Sự cần thiết về việc đề xuất phát triển DLCĐ tại KBTTN Núi Ông 63
3.3.3 Nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái cộng đồng ở KBTTN Núi Ông 66
3.3.4 Đề xuất mô hình du lịch sinh thái tại vùng đệm KBTTN Núi Ông 67
3.3.4.1 Lựa chọn mô hình du lịch sinh thái cộng động tại KBTTN Núi Ông 67 3.3.4.2 Định hướng phát triển các loại hình DLCĐ 68
3.3.4.3 Định hướng các loại hình dịch vụ 69
3.3.5 Xây dựng các tuyến, điểm du lịch 69
3.3.5.1 Đề xuất các tuyến du lịch trong khu bảo tồn và vùng đệm 69
3.3.6 Dự báo nguy cơ khi phát triển DLCĐ đối với công tác bảo tồn 72
3.3.6.1 Nguy cơ về sự thâm nhập bất hợp pháp 72
3.3.6.3 Vượt quá sức chứa của KBTTN Núi Ông 73
Trang 83.4 Một số các giải pháp phát triển du lịch sinh thái, tại vùng đệm, bảo tồn đa
dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông 74
3.4.1 Bảo vệ, tôn tạo Tài nguyên, môi trường 74
3.4.2 Giải pháp xây dựng cơ chế chính sách, tổ chức hoàn thiện bộ máy hoạt động quản lý 75
3.4.4 Phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn các nguồn Tài nguyên, đảm bảo lợi ích kinh tế, xã hội cho cộng đồng dân cư 77
3.4.5 Giải pháp nghiên cứu thị trường, tiếp thị và quảng bá hình ảnh khu du lịch tại vùng đệm KBTTN Núi Ông 78
3.4.6 Giải pháp về nguồn nhân lực 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC i
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện số lƣợng khách du lịch đến 34
Hình 3.2: Bản đồ Quy hoạch phạm vi, quy mô, ranh giới vùng đệm KBTTN 41
Hình 3.3: Bản đồ hiện trạng rừng và sử dụng đất KBTTN Núi Ông năm 2013 43
Hình 3.4: Mô hình DLCĐ tại KBTTN Núi Ông 68
Hình 3.5: Sơ đồ tuyến DLST 1 70
Hình 3.6: Sơ đồ tuyến DLST 2 71
Hình 3.7: Sơ đồ tuyến DLST 3 72
Trang 10
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Số lƣợng khách đến với Khu DLST Núi Ông 34
Bảng 3.2: Doanh thu của Khu du lịch qua các năm 35
Bảng 3.3: Nhu cầu, mục đích của khách du lịch đến với 39
Bảng 3.4: Mức độ hài lòng của khách du lịch đến với 40
Bảng 3.5: Hiện trạng rừng và sử dụng đất Khu BTTN Núi Ông [15] 44
Bảng 3.6: Nhóm và thành phần dân tộc trong vùng đệm phân theo xã [16] 55
Bảng 3.7: Tình hình kinh tế xã hội của các xã vùng đệm [16] 56
Bảng 3.8: Phân tích điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – thách thức (SWOT) 64
Trang 11UBND : Ủy ban nhân dân
UNEP : Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế trên thế giới, du lịch đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa-xã hội của con người Du lịch không những là một ngành kinh tế góp phần nâng cao đời sống vật chất mà còn giúp con người có điều kiện giao lưu văn hóa giữa các quốc gia vùng miền Vì vậy, ngày nay
du lịch đã nằm trong chiến lược phát triển của rất nhiều quốc gia, trở thành nền kinh
tế quan trọng có đóng góp lớn trong sự phát triển của các nước
Mô hình DLSTCĐ giúp con người có điều kiện tiếp cận với thiên nhiên hoang sơ, môi trường trong lành, tìm hiểu nền văn hóa bản địa đặc sắc, thỏa mãn nhu cầu khám phá và hồi phục sức khỏe cho con người Một điều không thể phủ nhận là ngành du lịch đã đem lại rất nhiều lợi ích trực tiếp hay gián tiếp cho cộng đồng địa phương (CĐĐP) như: Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, giúp xây dựng và tu bổ
cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật tốt hơn, đem đến sự hiểu biết, giao lưu văn hoá, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế của vùng, Điều đó mang ý nghĩa nhân văn, thể hiện đường lối chiến lược, chính sách phát triển kinh tế xã hội đúng đắn, phù hợp của mỗi vùng, của mỗi quốc gia
Bình Thuận là một tỉnh được thiên nhiên ưu đãi với những đường bờ biển dài và rất đẹp, vì thế là một địa phương nổi tiếng phát triển về du lịch biển, trong đó phải kể đến thủ đô Resort Mũi Né Ngoài ra, còn có các khu bảo tồn biển như: biển Hòn Cau (Cù Lau Cau), biển đảo Phú Quý Nhưng không chỉ có biển, Bình Thuận còn
có các ngọn núi cao, với các khu bảo tồn thiên nhiên còn khá hoang sơ, hùng vĩ rất phù hợp để phát triển mô hình du lịch sinh thái cộng đồng tại các vùng đệm của các khu bảo tồn như: Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) núi Tà Cú (diện tích 8.468 ha), KBTTN Núi Ông (diện tích 24.017 ha), KBTTN Kalon – sông Mao (diện tích
Trang 1320.000 ha) Trong đó, tổng diện tích quy hoạch vùng đệm tại khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông là 5.504 ha, nằm trên địa bàn các xã La Ngâu, Đức Bình, Đức Thuận, Lạc Tánh, Gia Huynh, Đa Mi Nơi đây có một số thắng cảnh quan trọng trong vùng như: Khu vực Núi Ông với nhiều kiểu rừng sắp xếp theo những địa hình
và độ cao khác nhau tạo nên một thắng cảnh hùng vĩ và hoang sơ, Thánh tượng Đức
Mẹ Tà Pao, Thác Bà, Thác Vàng, Dinh Cậu; các điểm quan sát chim, thú và phong cảnh thiên nhiên, các loài động thực vật quý hiếm đặc hữu ở khu vực Núi Ông; dịch
vụ nhà nghỉ sinh thái và các sản phẩm sinh thái; dịch vụ hội thảo nhỏ kết hợp tham quan, nghỉ dưỡng tại khu bảo tồn; dịch vụ hướng dẫn; dịch vụ ăn uống; dịch vụ cho thuê dụng cụ chuyên dụng trong du lịch; dịch vụ vận chuyển trong khu vực; dịch vụ cung cấp các sản phẩm địa phương; du lịch trãi nghiệm không gian thơ mọng lồng
hồ Đa Mi cũng như hồ Biển Lạc Tuy nhiên, KBTTN Núi Ông đối với du khách còn tương đối mới mẻ nhưng bản thân nó có tiềm năng rất lớn về mặt sinh thái cũng như phát triển du lịch gắn với công tác bảo vệ môi trường bền vững
Nhận thấy phát triển DLSTCĐ là một giải pháp rất hợp lý vừa góp phần đa dạng hình thức và phát triển lên một tầng cao mới cho ngành du lịch Bình Thuận, vừa góp phần bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông và giúp nâng cao đời sống của người dân Vấn đề đặt ra đối với du lịch tại vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông là cần giúp người dân địa phương tham gia hoạt động du lịch, có sự liên kết với nhau, mang tính cộng đồng sâu sắc, toàn dân làm du lịch, cùng vì mục đích lợi ích chung Việc tổ chức thu hút cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch, giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao nhận thức về du lịch, về ý nghĩa của việc bảo vệ Tài nguyên môi trường, ý nghĩa của việc tạo ra môi trường nhân văn hấp dẫn khách du lịch
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý môi trường-Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã Quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu tiềm năng phát triển khu du lịch sinh thái bền vững dựa vào văn hóa cộng đồng tại vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận”, như một giải pháp phù
Trang 14hợp để vừa phát triển kinh tế, vừa góp phần gìn giữ nét văn hóa, tôn giáo cộng đồng địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn hệ sinh thái
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu các tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch, mục tiêu của đề tài là phát triển du lịch cộng đồng tại vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông để hài hòa với bảo tồn tài nguyên ở khu bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, góp phần nâng cao đời sống của người dân và bảo vệ môi trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về tiềm năng, hiện trạng hoạt động du
lịch gắn với dân cư địa phương tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông Trên
cơ sở đó, đề xuất phương hướng phát triển du lịch và đưa ra giải pháp nhằm khai thác hợp lý, tôn trọng mục tiêu bảo tổn khai thác những giá trị văn hóa sẵn có của
địa phương và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
Phạm vi nghiên cứu: Tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, huyện Tánh
Linh, tỉnh Bình Thuận Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu của đề tài còn đề cập hai địa danh là hồ Biển lạc, xã Gia An và Hồ Đa Mi, xã La Ngâu, huyện Tánh Linh
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Đề tài được thực hiện trong bối cảnh du lịch sinh thái ở Bình Thuận thật sự có tiềm năng nhưng đang bước những bước đi đầu tiên theo định hướng phát triển lâu dài, bền vững Trên cơ sở khảo sát đánh giá hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, các hoạt động du lịch đang diễn ra ở KBTTN Núi Ông, với cơ sở thực tiễn và độ tin cậy cao để nghiên cứu, xây dựng mô hình du lịch sinh thái một cách khoa học, phù hợp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội huyện Tánh Linh nói riêng và tỉnh Bình Thuận nói chung
Trang 15 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý địa phương trong việc định hướng quản lý và phát triển du lịch sinh thái Khu BTTN Núi Ông nói riêng và DLST trên địa bàn tỉnh Bình Thuận nói chung Từ nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn, phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch phục vụ việc nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, học tập và nghiên cứu khoa học, làm phong phú các hoạt động du lịch của tỉnh Bình Thuận; thông qua phát triển du lịch góp phần tuyên truyền, giáo dục cho người dân địa phương và du khách về các giá trị tự nhiên, văn hóa, nhân văn của Khu bảo tồn, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ Tài nguyên thiên nhiên và môi trường; vừa phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo tồn hệ sinh thái, cảnh quan, mang lại lợi ích kinh tế, xã hội cho tỉnh Bình Thuận
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng
Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng một khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [1]
Klaus P Hasen lại đưa ra định nghĩa: “Cộng đồng là tập hợp một nhóm người chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng các Tài nguyên thiên nhiên ở địa phương”[2] Tại Hội nghị quốc tế về di sản văn hoá phi vật thể năm 2002, UNESCO thống nhất định nghĩa về cộng đồng “là những người tự ý thức về sự gắn bó lẫn nhau, điều này được thể hiện ở ý thức về bản sắc chung hoặc các hành vi chung, hoặc các hoạt động chung và lãnh thổ chung”, bao gồm:
- Cộng đồng văn hoá: Là một cộng đồng mà thông qua văn hoá của mình, qua cách tiếp cận văn hoá hoặc qua sự biến thể từ văn hoá chung mà được phân biệt với các cộng đồng khác
- Cộng đồng bản địa: Là một cộng đồng mà các thành viên thuộc cộng đồng này cho rằng họ có nguồn gốc từ một khu vực lãnh thổ nhất định
- Cộng đồng địa phương: Là một cộng đồng sống ở một địa phương nhất định
Tiếp cận từ góc độ di sản văn hoá, cộng đồng ở đây được hiểu là tập hợp những người có mối quan hệ gắn bó mang tính lịch sử, có chung nhận thức về bản sắc văn hoá và cùng tham gia vào việc sáng tạo, lưu giữ, bảo tồn di sản của cộng đồng Trên cơ sở các nghiên cứu trên, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về cộng đồng:
Trang 17Cộng đồng là một tập hợp những chủ thể văn hóa và những người cùng cư trú ở một khu vực địa lý, có những đặc tính chung về văn hóa, xã hội, cùng thừa nhận một di sản văn hóa là tài sản của họ và một di sản văn hóa phi vật thể nhất định
là bản sắc văn hóa của họ
1.1.2 Điều kiện để hình thành và phát triển du lịch cộng đồng
Tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú và mang tính đặc trưng cao
Đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đến phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch (Pháp lệnh Du lịch Việt Nam, 1999)
Điều kiện về yếu tố cộng đồng là sự tham gia rộng rãi và hiệu quả
Các yếu tố cộng đồng quyết định tới sự phát triển du lịch cộng đồng là:
- Ý thức về tầm quan trọng cũng như tính chuyên nghiệp trong việc cung cấp một sản phẩm du lịch đúng nghĩa; điều đó phải bắt nguồn từ việc nhận thức về lợi ích của du lịch cộng đồng tới sự phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa và môi trường của cộng đồng
- Ý thức tự hào về cộng đồng tức là tự hào về truyền thống văn hóa bản địa
- Ý thức về trách nhiệm bảo tồn các Tài nguyên tự nhiên, môi trường và văn hóa bản địa
- Cộng đồng phải có một trình độ văn hóa nhất định để hiểu được các giá trị văn hóa bản địa, tiếp thu và ứng dụng các kiến thức văn hóa và kỹ thuật phù hơp vào hoạt động du lịch
Cơ chế chính sách tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng
Chính quyền địa phương có vai trò quan trọng trong điều kiện phát triển du lịch cộng đồng và được thể hiện ở các mặt:
Trang 18- Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan như việc cấp thủ tục hành chính, các quy định không quá khắt khe đối với khách du lịch
- Khuyến khích và hỗ trợ địa phương tham gia hoạt động du lịch: Hỗ trợ đầu tư về vốn, kỹ thuật cho cộng đồng, có những chính sách thông thoáng, mở cửa đối với các
tổ chức, đoàn thể tham gia phát triển du lịch
- Tham gia định hướng chỉ đạo và quản lý các hoạt động du lịch
- Tạo môi trường an toàn cho khách du lịch bằng các biện pháp an ninh cần thiết
Sự hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước về nhân lực, tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Tổ chức phi chính phủ là các tổ chức hoạt động vì mục đích phát triển cộng đồng trong nhiều lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa, du lịch, môi trường và giáo dục, Trong bối cảnh điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước nói chung cũng như địa phương nói riêng còn khó khăn thì sự hỗ trợ của các tổ chức này là rất quan trọng Đối với du lịch cộng đồng, sự hỗ trợ thể hiện ở các mặt:
- Sự nghiên cứu về tiềm năng du lịch địa phương cùng những giải pháp giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường tạo tiền đề cho sự phát triển du lịch
- Sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương
Sự liên kết với các doanh nghiệp du lịch trong vấn đề tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch
Trong điều kiện phát triển du lịch hiện nay thì doanh nghiệp du lịch đóng vai trò lớn đối với địa phương Đối với du lịch cộng đồng thì các doanh nghiệp du lịch lữ hành
là rất quan trọng Các doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong trong việc tiếp cận khách du lịch, tạo dựng các sản phẩm du lịch, các tua du lịch, giống như các doanh nhân trong thời đại kinh tế thị trường ngày nay, luôn luôn đi trước một bước trong chiến lược kinh doanh cũng như những bước đột phá phát triển kinh tế của đất nước Hoạt động du lịch của người dân hoàn toàn tự phát, không có nhiều sự giúp
Trang 19đỡ, hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ Song nhờ các doanh nghiệp du lịch dẫn khách tới mà lượng khách ngày càng đông
Công tác tiếp thị được coi là rất quan trọng, được coi là công tác kích cầu, tạo điều kiện cho khách biết tới du lịch địa phương và những cơ hội tiếp cận với điểm du lịch Hoàn thiện chiến lược quảng bá và xúc tiến du lịch tạo điều kiện cho du khách khám phá bản sắc văn hóa bản địa trong phong cảnh tự nhiên hoang sơ, đồng thời nâng cao thu nhập và gìn giữ, bảo tồn các giá trị tự nhiên và nhân văn
1.1.3 Vai trò của khu du lịch cộng đồng
Vai trò của khu du lịch sinh thái cộng đồng được thể hiện các nội dung sau:
Đối với công tác bảo tồn Tài nguyên:
- Góp phần bảo vệ bền vững Tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái
- Bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hoá vật thể và phi vật thể của cộng đồng
- DLCĐ mang lại lợi ích kinh tế cho các thành viên trực tiếp tham gia cung cấp dịch
vụ du lịch cho du khách Đồng thời, những thành viên khác của cộng đồng cùng được hưởng lợi từ sự tái đầu tư của nguồn doanh thu du lịch vào việc hỗ trợ cung cấp phát triển cơ sở hạ tầng góp phần thay đổi xã hội địa phương
- DLCĐ giúp cộng đồng nhận ra trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ Tài nguyên thiên nhiên và môi trường của địa phương tại khu du lịch, từ đó tác động
Trang 20đến nhận thức của các cộng đồng khác về vấn đề nâng cao ý thức bảo vệ Tài nguyên môi trường của cộng đồng
1.1.4 Đặc điểm của du lịch cộng đồng
Đặc điểm nổi bật của DLCĐ như sau:
- Sự tham gia tích cực của người dân địa phương: Họ được trao quyền làm chủ, quản lý và vừa thực hiện các dịch vụ du lịch
- Phát triển du lịch cộng đồng đồng nghĩa với việc chia sẻ lợi ích công bằng cho cộng đồng địa phương và các bên tham gia
- Hoạt động du lịch thu hút các cộng đồng địa phương, đem lại lợi ích cho họ, tạo
cơ hội việc làm và cải thiện điều kiện sống cho họ
- Điều kiện tiên quyết là khu du lịch hay điểm du lịch đó phải có nguồn Tài nguyên
Trang 21Loại hình DLCĐ Hình thức thể hiện
Chuyên đề đặc biệt - Xem chim và các loài động vật quý hiếm
khác
- Xem lan rừng và các loại thực vật khác
- Tìm hiểu cây thuốc bản địa
- Học nghề thủ công, mỹ nghệ
- Thưởng thức văn hoá dân gian bản địa
Du lịch mạo hiểm - Đi bộ dã ngoại
- Chèo thuyền trên sông, thác ghềnh
- Leo Núi
- Xem động vật hoang dã
Du lịch làng, bản - Cùng ăn, cùng ở, sinh hoạt với dân cư địa
phương
- Tham quan làng bản bằng phương tiện thô
sơ hoặc đi bộ
Du lịch sinh thái nông nghiệp - Tham quan đồn điền, trang trại, khu nuôi
Du lịch trên sông kênh rạch - Du thuyền tham quan các cảnh đẹp trên
sông, ven biển khu du lịch sinh thái
- Tham gia các hoạt động trên tàu, thuyền
- Nghỉ qua đêm trên thuyền Giao lưu văn hoá tham quan học tập - Tham gia các hoạt động hỗ trợ cộng đồng
Trang 22Loại hình DLCĐ Hình thức thể hiện
- Giao lưu văn hoá nghệ thuật dân gian
- Tìm hiểu chia sẻ kinh nghiệm gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc với cư dân địa phương
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản về phát triển du lịch cộng đồng
Nguyên tắc để phát triển DLCĐ là người dân địa phương phải biết kết hợp với hoạt động du lịch để chia sẻ bình đẳng trong lợi ích kinh tế, xã hội và văn hoá mà họ mang lại cho cộng đồng Đây là phương thức phát triển du lịch không chỉ hướng đến việc đáp ứng nhu cầu của khách mà còn hướng đến lợi ích cho cộng đồng dân
cư địa phương Người dân địa phương đóng vai trò quan trọng, làm vệ tinh còn doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân Thực chất là các phương thức phát triển du lịch bền vững có trách nhiệm với Tài nguyên môi trường cũng như phát triển cộng đồng, chủ thể của các hoạt động du lịch và nguồn lợi từ các hoạt động này là hướng vào cộng đồng Vì vậy, khi phát triển DLCĐ cần thực hiện các nguyên tắc sau: [3]
- Du lịch cộng đồng phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên, cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng
- Đưa các thành viên của cộng đồng tham gia ngay từ đầu trong tất cả các khâu
- Phát huy niềm tự hào của cộng đồng đối với các giá trị văn hoá, tự nhiên địa phương
- Nhận biết, hỗ trợ và phát huy quyền sở hữu cộng đồng đối với du lịch, khai thác tiềm năng của địa phương nhưng phải đảm bảo phát triển bền vững, không làm hại cho lợi ích của các thế hệ kế tiếp
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, cân bằng lợi ích cá nhân
- Bảo tồn các đặc điểm và văn hoá đặc trưng của địa phương, bảo vệ môi trường
- Thúc đẩy sự học hỏi về văn hoá của nhau
- Tôn trọng sự khác biệt về văn hoá và nhân phẩm
Trang 23- Đóng góp một phần lợi ích cố định vào các dự án cộng đồng
- Phân bổ lợi ích công bằng giữa các thành viên trong cộng đồng
1.1.6 Các tiêu chí đánh giá tiềm năng DLCĐ tại vùng đệm KBTTN Núi Ông
- Có tính đại diện cao cho một hoặc vài HST điển hình với tính đa dạng sinh học
Có sự tồn tại của những loài sinh vật đặc hữu có giá trị khoa học và tham quan nghiên cứu Việc tham quan và nghiên cứu có khả năng tổ chức tốt trong những điều kiện tự nhiên ít bị ảnh hưởng nhất
- Gần những Trung tâm du lịch (thị trường khách) lớn, có điều kiện tiếp cận dễ dàng
và thuận lợi
- Có cảnh quan tự nhiên đẹp, hấp dẫn cùng với sự phong phú và độc đáo của các giá trị văn hoá bản địa có tính đại diện cho khu vực
- Gần với những điểm du lịch hấp dẫn khác trong vùng để có thể tổ chức một tour
du lịch trọn gói mà KBTTN sẽ là một điểm DLST quan trọng
- Có những điều kiện về hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng cho hoạt động du lịch
1.1.7 Tác động tích cực từ hoạt động du lịch ở vùng đệm của KBTTN
Vùng đệm của KBTTN có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, đặc biệt là DLST
Do đó, KBTTN và du lịch có mối quan hệ với nhau Những lợi ích mà hoạt động du lịch có thể đem lại từ vùng đệm của KBTTN bao gồm:
- Bảo tồn thiên nhiên: Các nguồn thu từ hoạt động du lịch có khả năng tạo một cơ
chế tự hoạch toán tài chính cho KBTTN Trong đó, có cả việc duy trì bảo tồn HST, diện tích tự nhiên quan trọng, các Khu bảo tồn thiên nhiên, các Vườn quốc gia
- Tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch có thể cung cấp những sáng kiến cho
việc làm sạch môi trường thông qua việc kiểm soát chất lượng nước, không khí, đất,
ô nhiễm tiếng ồn, rác thải và các vấn đề về môi trường khác Du lịch còn cải thiện tiện nghi môi trường thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc
Trang 24- Đề cao môi trường: Việc phát triển bền vững các cơ sở du lịch được thiết kế tốt sẽ
nâng cao giá trị cảnh quan đồng thời khuyến khích mở rộng vùng đất giáp ranh, tạo điều kiện duy trì độ che phủ thực vật tự nhiên, tăng cường bảo vệ môi trường
- Cải thiện hạ tầng cơ sở: Các cơ sở hạ tầng địa phương như đường xá, hệ thống
điện nước, thông tin liên lạc, xử lý chất thải có thể được cải thiện thông qua hoạt động du lịch
- Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương cũng như là du
khách thông qua việc trao đổi và học tập với nhau Từ đó, mọi người có nhận thức tích cực hơn trong việc bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Lợi ích kinh tế: Du lịch tạo nguồn thu nhập, ngân sách, giải quyết công ăn việc
làm, thu hút ngoại tệ,…Góp phần làm thay đổi chất lượng cuộc sống cộng đồng, nhất là những người trực tiếp tham gia Trong đó, bao gồm cải thiện những dịch vụ
xã hội, y tế, nhà cửa, hệ thống cung cấp điện nước,…
- Giao lưu, trao đổi văn hoá: Tạo điều kiện giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa cộng
đồng địa phương với các quốc gia, phá vỡ những ngăn cách về văn hoá, dân tộc giữa du khách và người dân địa phương Góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hoá của cả hai phía cũng như sự hiểu biết và hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác như: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,…
1.1.8 Tác động tiêu cực có thể mang lại do hoạt động du lịch ở KBTTN
- Tác động lên thổ nhưỡng: Do hoạt động đi bộ, cắm trại, khai phá và chuyển đổi mục
đích sử dụng các vùng đất tự nhiên để xây dựng khách sạn, đường xá, khu vui chơi giải trí, gây ảnh hưởng tới cấu trúc địa chất, không gian sống của hệ sinh vật và người dân địa phương Nếu cơ sở hạ tầng được thiết kế và quy hoạch lớn hơn nhu cầu mà mức sử dụng thấp sẽ gây thua lỗ hoặc dẫn đến việc tăng giá cả bất hợp lý
- Tác động vào Tài nguyên nước: Việc tập trung một lượng khách du lịch lớn sẽ gây
sức ép tới Tài nguyên nước của địa phương Thêm vào đó là lượng nước thải gia tăng tỉ
Trang 25lệ thuận với lượng nước cấp Nếu không có hệ thống thu gom nước thải và xử lý chất thải triệt để sẽ làm giảm chất lượng nguồn nước của khu du lịch và vùng lân cận
- Ô nhiễm không khí: Du lịch được coi là ngành “công nghiệp không khói”, tuy
nhiên du lịch có thể gây ô nhiễm không khí qua khí thải của động cơ xe máy, tàu thuyền, ô tô, đặc biệt là các khu vực trọng điểm và trục giao thông chính
- Tác động lên hệ động, thực vật: Hoạt động du lịch, giải trí có thể tạo ra tác động
đến thực vật như bẻ cành, giẫm đạp, khí thải từ phương tiện giao thông khiến động vật thay đổi diễn biến sinh hoạt, địa bàn cư trú, sinh sống của chúng
- Ảnh hưởng tới kinh tế - xã hội địa phương: Sự phát triển du lịch quá mức sẽ gây
ảnh hưởng tới lối sống truyền thống của dân cư địa phương:
- Làm đảo lộn cấu trúc xã hội
- Gây căng thẳng về xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân
- Góp phần làm mai một nền văn hoá vì những thái độ ứng xử bất thường của khách với dân địa phương
- Tăng thêm những vấn đề xã hội như: cờ bạc, nghiện, mại dâm, trộm cắp,…
1.2 Các nghiên cứu về du lịch sinh thái cộng đồng và kinh nghiệm phát triển DLST ở một số các VQG, KBTTN trên thế giới
1.2.1 Các nghiên cứu về du lịch sinh thái trên thế giới
- Nghiên cứu của các tác giả Kreg Lendberg và Donald E Hawkins cùng các cộng
sự về “Du lịch sinh thái: Hướng dẫn cho nhà lập kế hoạch và quản lý” Tác giả đã phân tích những lý luận về khái niệm du lịch sinh thái, thị trường và cơ cấu của ngành DLST, những khía cạnh kinh tế của DLST, những hướng mới trong ngành DLST, chiến lược phát triển DLST, những phương pháp tiếp cận mới về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, nguyên tắc và chiến lược hoạch định quản lý tham quan DLST ở các khu bảo tồn Nghiên cứu cũng giới thiệu một số mô hình DLST ở các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên trên thế giới, bài học kinh nghiệm từ
Trang 26DLST ở một số quốc gia như Ecuado, Úc, Indonexia,…Nghiên cứu của Kreg Lendberg và Donald E Hawkins cùng các cộng sự dường như đã đề cập và làm rõ được tất cả các vấn đề về DLST, là nền tảng cho tất cả những ai muốn nghiên cứu
và phát triển về DLST trên toàn thế giới [4]
- Nghiên cứu của Akama, J S năm 1996 trong cuốn sách “Quản lý du lịch” (Tourism Management), tập 17, chương 8, viết về “Giá trị môi trường ở phương Tây và du lịch dựa vào thiên nhiên ở Kenya” (Western environmental values and nature-based tourism in Kenya) Kenya là một trong những điểm đến du lịch hàng đầu ở Châu phi Hầu hết du lịch của đất nước dựa trên các điểm tham quan thiên nhiên Khoảng 10% của cả nước đã được dành cho việc bảo tồn động vật hoang dã
và phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên Nghiên cứu này đưa ra một đánh giá lịch
sử của giá trị môi trường phương Tây và làm thế nào những giá trị ảnh hưởng đến bảo tồn động vật hoang dã và phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên ở Kenya Ngoài
ra, một phân tích so sánh thực hiện giữa các giá trị môi trường phương Tây và nhận thức môi trường nông dân ở nông thôn [5]
- Nghiên cứu của Megan Epler Wood - Chủ tịch Hội Du lịch sinh thái (TES) về “Du lịch sinh thái: Các nguyên tắc, thực hành và chính sách phát triển bền vững”, Ấn phẩm này được tổ chức UNEP xuất bản lần đầu tiên vào năm 2002, dự định như là một tài liệu chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về du lịch sinh thái ở Quebec năm 2002 Tác giả đã đánh giá hiện trạng và xu hướng du lịch sinh thái trên toàn cầu, nêu bật những thành tựu, vai trò của DLST như một công cụ để bảo tồn Tài nguyên, DLST dựa vào cộng đồng và góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân địa phương; từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm trong hơn 15 năm phát triển du lịch sinh thái; bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích những thách thức phía trước, để DLST phát triển cần phải có quy hoạch và quản lý DLST một cách hợp lý, cần phải đầu tư ngân sách cho DLST để ngăn chặn tình trạng quá tải, ảnh hưởng môi trường
và đa dạng sinh học Tài liệu này hướng dẫn cho chính phủ và các tổ chức muốn phát triển về du lịch sinh thái Nó bao gồm các dữ liệu nền và các nguồn tài liệu tham khảo cũng như hướng dẫn thực hành và minh họa cách thức áp dụng [6]
Trang 27- Nghiên cứu của Paul F.J Eagles, Stephen F Mc Cool and Christopher D Haynes
trong cuốn sách “Sustainable Tourism in protected Areas – Guidelines for planning and management” do -The world conservation union xuất bản năm 2002 Mục đích chính của Hướng dẫn này là để hỗ trợ các nhà quản lý khu bảo tồn và các bên liên quan khác trong việc lập kế hoạch và quản lý các khu bảo tồn, vui chơi giải trí cho
du khách và các ngành công nghiệp du lịch, vì vậy du lịch mới có thể phát triển một cách bền vững trong điều kiện tôn trọng các điều kiện địa phương và cộng đồng địa phương Hướng dẫn cũng có một số mục tiêu chi tiết hơn: thảo luận về vai trò của quản lý du khách, bao gồm các giải pháp điều tiết và hạn chế tác động của việc sử dụng Tài nguyên trong khi vẫn cho phép khách du lịch hưởng thụ tối đa các điều kiện môi trường và xã hội trong mức quy định; phác thảo các phương pháp quy hoạch và phát triển của cơ sở hạ tầng và các dịch vụ du lịch trong khu vực phải bảo vệ; cung cấp hướng dẫn về việc xác định, đo lường, quản lý và sử dụng dữ liệu của khu vực làm du lịch; vạch ra phương hướng để rút ra các kinh nghiệm trong hoạt động du lịch ở các khu bảo tồn; mô tả các ví dụ, các trường hợp cụ thể thông qua một loạt các nghiên cứu để đưa ra các cách du lịch hiệu quả có thể đóng góp vào việc bảo tồn thiên nhiên, sự đa dạng văn hóa và các cách để du lịch có thể đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng địa phương [7]
- Nghiên cứu của M Ann Edington và John M Edington của Trường Đại học Cambridge, New York, xuất bản năm 1986, viết về “sinh thái, giải trí và du lịch” (Ecology, Recreation and Tourism) Trong một xã hội giải trí ngày càng định hướng, một sự hiểu biết đúng đắn về các yếu tố sinh thái là rất cần thiết để giảm mức độ thiệt hại môi trường do các hoạt động giải trí và du lịch gây ra Tài liệu trình bày một phân tích toàn diện các hiệu ứng của giải trí và du lịch đối với môi trường Sử dụng khuôn khổ các nguyên tắc sinh thái cơ bản, được giới thiệu và giải thích trong chương đầu tiên, việc lập kế hoạch và thiết kế để giải trí và du lịch được coi là từ 3 quan điểm lớn: ảnh hưởng của thiệt hại giải trí; những hạn chế áp đặt bởi các tác nhân sinh học và cuối cùng là thiết kế các khu nghỉ mát và các phương tiện
hỗ trợ liên quan Các tác giả đã tham gia với việc áp dụng các hệ sinh thái với quy
Trang 28hoạch sử dụng đất trong nhiều năm, cả trong nước và ở nước ngoài Với một phạm
vi địa lý và môi trường rộng, nghiên cứu này cho thấy rõ vai trò quan trọng của hệ sinh thái trong việc duy trì sự cân bằng giữa giải trí và môi trường.[8]
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển DLST ở các VQG, KBTTN trên thế giới
1.2.2.1 DLST ở VQG Galapagos
Vườn Quốc gia Galapagos nằm trong quần đảo cùng tên thuộc chủ quyền của nước Ecuador, không chỉ là một Vườn quốc gia mà còn là di sản thế giới, một khu dự trữ sinh quyển, mà giờ đây còn là một khu dự trữ sinh thái biển Về mặt vị trí thì Galapagos nằm tách khỏi lục địa Có môi trường phù hợp cho các loài sinh vật thích nghi như: Rùa, Kỳ Đà, Chim Sẻ, Xương rồng khổng lồ, hướng dương, chim cốc không bay, chim bói cá,…đây chính là những loài đặc hữu và còn rất nhiều giống động vật, thực vật khác
Galapagos có lẽ là một trong những nơi thuận lợi nhất trên thế giới để nghiên cứu
về tiến hoá của hệ sinh thái Được thưởng thức những quang cảnh đại dương, ven biển và đất liền Nơi động vật hoang dã đã tiến hoá và dường như không có sợ hãi nào đối với con người
Khác với các VQG khác ở Ecuador và các nước Châu Mỹ Latinh khác, nơi có thể có người sống hợp pháp hoặc không hợp pháp trong phạm vi được bảo vệ, người dân ở Galapagos không được phép sống trong VQG Họ tập trung ở khoảng 4% diện tích của quần đảo trên đất thuộc sở hữu tư nhân Hầu hết khách tham quan từ đất liền đi bằng máy bay đến các đảo, sau đó đi thăm thú bằng các tour du lịch được thiết kế sẵn
Sau mười năm đầu kể từ khi đón khách, chiến lược quản lý và hỗ trợ quản lý đầu tiên của VQG được thực hiện tương đối suôn sẻ với một số lượng nhỏ du khách và phát triển liên tục trong những năm 1970 Từ ban đầu có 7.000 khách tham quan đến năm 1973 là 12.000 khách, năm 1981 là 25.000 khách và năm 1989 đã thu hút gần 42.000 khách Sau đó, sự sa sút của nền kinh tế khu vực đã dẫn đến việc giảm ngân sách của dịch vụ DLST ở VQG Galapagos Nhưng với những biện pháp hữu
Trang 29hiệu cộng với sự hỗ trợ nỗ lực của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Quỹ môi trường toàn cầu…đã làm vực lại DLST ở đây
Những khó khăn, thách thức đối với Tài nguyên, môi trường và du lịch ở Vườn Quốc gia Galapagos
- Du nhập những loài sinh vật ngoại lai, dẫn đến sự tuyệt chủng của một số loài động vật đặc hữu trên đảo; cùng với đó là sự khai thác nguồn lợi biển quá mức làm
đe dọa các loài hải sâm, tôm hùm và cá mập
- Sự gia tăng dân số quá nhanh, gây sức ép lên Tài nguyên và môi trường trên đảo
- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật do du khách tăng nhanh dẫn đến diện tích đất rừng bị thu hẹp, nhiều loài thực vật phải bị triệt hạ Tác động của cư dân địa phương đã làm giảm tính đa dạng sinh học của Vườn quốc gia và từ đó ảnh hưởng đến Tài nguyên du lịch Bên cạnh đó, sự phát triển du lịch thiếu quản lý, hướng dẫn nghiêm ngặt cũng đã ảnh hưởng đáng kể đến thế giới hoang dã trên đảo
Một số kinh nghiệm của việc phát triển DLST ở VQG Galapagos
Các hoạt động dịch vụ VQG đã được tổ chức tập huấn cẩn thận và được cấp chứng nhận cho các hướng dẫn viên, các hướng dẫn viên này sẽ đi cùng với tất cả các đoàn tham quan, vừa đóng vai trò hướng dẫn vừa kiểm soát các hoạt động không tốt cho môi trường của khách du lịch
Phương tiện tham quan là đa phần bằng thuyền, các dịch vụ ăn nghỉ đều ở trên thuyền, phần nào đã giảm tác động vào các khu vực tham quan của khách Khu tham quan thường ngắn và có ranh giới rõ ràng Các hành trình của chuyến tham quan đều được
cố định và không được vào các khu vực chưa bị xâm nhập của các loài nhập nội [9]
Trang 301.2.2.2 DLST ở KBTTN Annapurna
KBT Annapurna, Nê Pan được bao bọc bởi các ngọn núi thuộc loại cao nhất thế giới Do các điều kiện khí hậu khác nhau, từ cận nhiệt đới tới ôn đới, sa mạc và khô, nhiều loài động, thực vật quý hiếm phát triển: Động vật hoang dã: 102 động vật có
vú bao gồm cả con cừu màu xanh và nguy cơ tuyệt chủng; 39 loài bò sát và 22 loài lưỡng cư, 474 loài chim trong đó có chim trĩ nhiều màu Thảm thực vật phong phú với các loài khác nhau của hoa lan và các khu rừng Đỗ quyên lớn nhất thế giới Phần lớn dân cư sống ở đây là tá điền, sống dựa vào nguồn Tài nguyên thiên nhiên
có sẵn trong khu vực và phát triển các hệ thống quản lý truyền thống của riêng họ Trong hai thập kỷ qua, các hoạt động du lịch được triển khai ở vùng này và phát triển một cách chóng mặt đã làm nguồn Tài nguyên thiên nhiên ở đây bị khai thác tới mức giới hạn và KBT đã rơi vào bờ vực của sự khủng hoảng
Hàng năm có hơn 36.000 khách ưa thích mạo hiểm đã tới Annapurna để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của phong cảnh và thưởng thức sự độc đáo của các bản sắc văn hoá bản địa, tạo nguồn thu nhập lớn cho nhiều người ở cộng đồng địa phương, nhưng nó cũng đã tạo nên một số vấn đề môi trường nghiêm trọng Rừng bị chặt hạ để làm nhiên liệu nấu ăn, sưởi ấm và làm nhà nghỉ, sự ô nhiễm nguồn nước, hệ thống xử lý rác yếu đã làm rác lan tràn trên các tuyến đường và các khu có hoạt động du lịch, cộng thêm sự gia tăng dân số nhanh
Trước những nhu cầu đó mà năm 1986 đã xuất hiện dự án xây dựng khu bảo tồn Annapurna Dự án đề cập đồng thời 3 khía cạnh chính là: Bảo tồn thiên nhiên, phát triển nhân lực và quản lý du lịch Mục tiêu của dự án là bảo vệ môi trường tự nhiên
và văn hoá vùng Annapurna vì lợi ích của 40.000 dân cư trong vùng cũng như du khách quốc tế, song song với hoạt động nâng cao nhận thức của họ về sự nhạy cảm
về môi trường
Trang 31Các hoạt động đã chia ra làm 8 nhóm bao gồm: Bảo tồn rừng, các nguồn năng lượng thay thế, giáo dục bảo tồn, quản lý du lịch, phát triển cộng đồng, sức khoẻ và
vệ sinh cộng đồng, các uỷ ban quản lý cộng đồng, nghiên cứu
Kết quả dự án sau 5 năm thực hiện, khắp nơi trên vùng Annapurna đã chứng kiến sự thay đổi theo chiều hướng tốt trong việc bảo vệ môi trường, văn hoá bản địa, mức sống của người dân được nâng lên, khách du lịch có được cảm giác tốt hơn khi các dịch vụ được nâng lên, mặt khác họ hiểu được rằng du lịch sinh thái không chỉ là những trải nghiệm mà còn giúp cho đời sống người dân ở đây, giúp ích cho hoạt
động bảo tồn, bảo vệ môi trường [10]
1.2.2.3 Các bài học kinh nghiệm được rút ra từ những mô hình Du lịch sinh thái ở các VQG, khu BTTN trên thế giới
- Cần thay đổi quan niệm của mọi người về bảo tồn và phát triển Giáo dục tuyên truyền để nâng cao nhận thức của các đối tượng trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụng Tài nguyên đến các tầng lớp nhân dân
- Cần có cơ chế quản lý phù hợp trong đó có sự tham gia của người dân địa phương
để có thể quản lý Tài nguyên và hoạt động du lịch hiệu quả Đảm bảo tính thống nhất giữa các cơ quan quản lý Quản lý chặc chẽ việc cấp phép xây dựng và hoạt động của các cơ sở dịch vụ DLST, tránh tình trạng xây dựng ồ ạt, lấn chiếm đất, phá
vỡ cảnh quan tự nhiên và làm mất cân đối cung cầu trong vùng dự án
- Cần có chính sách phù hợp nhằm phân phối rộng rãi hơn thu nhập du lịch Thu nhập du lịch phải được sử dụng để duy trì hoạt động du lịch và phát triển cộng đồng địa phương, tránh tình trạng thu nhập chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ, còn đa số người dân địa phương không được hưởng lợi gì từ việc phát triển DLST
- Cần có phương án sử dụng các nguồn năng lượng sạch thay thế như: điện mặt trời, điện sản xuất bằng nguyên liệu khí bio-gas, sử dụng khí bio-gas sản xuất từ chất thải chăn nuôi để đun nấu thay thế cho nhiên liệu gỗ, củi vừa giúp bảo vệ môi trường
Trang 32- Tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong các trường học, trong cộng đồng địa phương và khách du lịch Xây dựng mối quan hệ tương hỗ giữa khách du lịch và cộng đồng địa phương và cơ quan quản lý các đơn vị rừng đặc dụng nhằm bảo vệ Tài nguyên và phát triển du lịch bền vững
- Khôi phục và phát triển các nghề truyền thống của địa phương phục vụ nhu cầu của khách du lịch như: Sản xuất đồ lưu niệm, chăn nuôi, trồng trọt,…Tạo ra và duy trì thu nhập cho người dân địa phương
1.3 Các nghiên cứu về DLSTCĐ và kinh nghiệm phát triển DLSTCĐ ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu về Du lịch sinh thái ở Việt Nam
- Nghiên cứu của Lê Huy Bá cùng các cộng sự, nhà xuất bản Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014 về “Bảo vệ môi trường du lịch” phần 1 Giới thiệu về cơ sở lý thuyết, các khái niệm cơ bản về du lịch cũng như ảnh hưởng của
du lịch đến môi trường xung quanh Giới thiệu về du lịch sinh thái – du lịch bảo vệ môi trường, trong đó thể hiện tổng quan và tình hình phát triển du lịch sinh thái cũng như các nguyên tắc xây dựng mô hình sinh thái và các bước cơ bản quy hoạch
và thiết kế du lịch sinh thái, cách thức nâng cao hiệu quả du lịch sinh thái Châu Thành, Bến Tre Giới thiệu một số đề tài, kết quả nghiên cứu du lịch sinh thái sân Chim Lập Điền, Bạc Liêu; du lịch sinh thái Hồ Đạ Tẻh, Lâm Đồng; đánh giá tiềm
năng phát triển sinh thái của các tỉnh thành như Đồng Nai, ĐắcLăk, Bạc Liêu [11]
- Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Duy Viễn, năm 2001 về “Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ phát triển du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn ở Việt Nam” được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 2, tháng 7/2012 Bài báo nêu trong vấn đề phát triển du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn, công tác bảo vệ Tài nguyên đa dạng sinh học có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bảo vệ nguồn Tài nguyên này chính là bảo vệ một trong những tiền đề
để hình thành các sản phẩm du lịch phục vụ du khách Dù đã có nhiều giải pháp được đề ra, tuy nhiên, công tác bảo vệ nguồn Tài nguyên này tại các khu bảo tồn ở
Trang 33Việt Nam đến nay vẫn chưa đạt được hiệu quả mong đợi Trên cơ sở phân tích hiện trạng công tác bảo vệ Tài nguyên đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn, xác định các nguyên nhân chính dẫn đến sự kém hiệu quả, bài viết đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ Tài nguyên đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn tại Việt Nam. [12].
- Nghiên cứu của Nguyễn Đình Toàn về “ Phát triển du lịch bền vững từ đặc trưng văn hóa đồng bằng sông Cửu Long” được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 9, tháng 7/2013 Bài báo phát triển du lịch bền vững theo hướng khai thác những giá trị văn hóa của vùng là chiến lược lâu dài của du lịch Việt Nam Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất đa dân tộc, văn hóa đồng bằng sông Cửu Long mang trong mình đặc trưng đồng bằng sông nước và sự tiếp biến các yếu tố văn hóa riêng biệt của các tộc người Chăm, Khmer và Hoa vào văn hóa người Việt Các đặc trưng văn hóa này hòa quyện vào nhau và tạo nên một vùng đất quyến rũ
và lôi cuốn khách du lịch Để xây dựng chiến lược phát triển lâu dài cho vùng đồng bằng sông Cửu Long cần phải có sự phối hợp giữa ba bên: các nhà kinh doanh du lịch, cộng đồng cư dân và chính quyền địa phương. [13].
- Nghiên cứu của Đinh Xuân Lập, Tô Văn Phương, Lê Thị Phương Dung về Bảo tồn và phát huy văn hóa làng chài trong phát triển du lịch sinh thái cộng đồng trên vịnh Hạ Long, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 11, tháng 7/2013 Bài viết trình bày những giá trị văn hóa làng chài cũng như vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái cộng đồng trên vịnh Hạ Long Nơi đây lưu giữ những giá trị về địa chất-địa mạo và đa dạng sinh học cao Phát triển du lịch ở khu vực này đã được Quảng Ninh quan tâm, đầu tư từ nhiều năm nay, chỉ tính riêng trong năm 2012 lượng khách tham quan khu vực này đã vượt qua con số 7 triệu lượt khách Đến nay, về cơ bản vẫn là du lịch đại chúng (mass tourism) - loại hình du lịch không đề cao bảo tồn và có thể xâm hại nhanh chóng các Tài nguyên, môi
trường nhạy cảm Trên con đường thực hiện chiến lược “Kinh tế xanh” của tỉnh Quảng Ninh, phát triển du lịch theo hướng bền vừng “du lịch sinh thái cộng đồng”
giúp nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên, cộng đồng địa
Trang 34phương và có thể được thực hiện lâu dài mà không ảnh hưởng xấu đến Tài nguyên, môi trường Bài viết đưa ra các phân tích, so sánh dựa trên góc độ bảo tồn giá trị văn hóa làng chài và bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên,… Từ đó, đề xuất giải pháp lồng ghép những tinh hoa văn hóa làng chài trong phát triển du lịch sinh thái cộng đồng trên vịnh Hạ Long, cũng như các khu bảo tồn biển khác tại Việt Nam. [14].
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái ở các KBTTN, VQG ở Việt Nam
1.3.2.1 Mô hình cộng đồng gắn với nông thôn mới – Hà Giang
Từ Hà Nội, theo Quốc lộ 2 khoảng hơn 300km về phía đông bắc, du khách sẽ đến với
Hà Giang – mảnh đất địa đầu nơi biên cương của Tổ quốc Hà Giang có diện tích gần 8.000km², là nơi cư trú của cộng đồng 22 dân tộc, trong đó mỗi dân tộc đều bảo tồn và lưu giữ những giá trị, sắc thái văn hóa riêng, tạo nên bản sắc đặc trưng mà không phải vùng đất nào cũng có được Với những lợi thế đó, Hà Giang đã đẩy mạnh phát triển loại hình du lịch cộng đồng gắn với nông thôn mới, như bước đột phá trong phát triển
du lịch của địa phương Đến nay, Hà Giang đã xây dựng được 25 làng văn hóa du lịch cộng đồng tại hầu hết các huyện trong tỉnh, tiêu biểu là các làng Tiến Thắng, Hạ Thành (Tp Hà Giang); Nậm Hồng và Phìn Hồ (huyện Hoàng Su Phì),…
Cách thành phố Hà Giang 6km về phía tây, làng văn hóa du lịch Hạ Thành có 117
hộ dân với 558 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày, trong đó có 5 hộ tham gia hoạt động du lịch cộng đồng Bản đã thành lập đội ngũ hướng dẫn viên gồm 3 người (1 nam, 2 nữ) có trình độ học vấn trên 12 để dẫn khách tham quan bản Đến
Hạ Thành, du khách sẽ được tận hưởng bầu không khí trong lành, mát mẻ, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp với những đồi cọ xanh biếc Đến đây, du khách còn có dịp tham gia chương trình du lịch “30 phút làm công dân thôn Hạ Thành” với nhiều hoạt động thú vị như: nghỉ đêm tại nhà dân, câu cá, làm nương, thưởng thức các món ăn dân dã hay tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian như: múa sen, hát cọi, hát then, hát giao duyên… Bà con thôn bản đã bắt đầu
có ý thức về du lịch cộng đồng và mong muốn chính quyền địa phương tạo điều
Trang 35kiện hỗ trợ về cơ sở vật chất và đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực phục vụ
du lịch để phát triển hơn nữa loại hình du lịch này trong thời gian tới
1.3.2.2 Mô hình du lịch cộng đồng gắn với du lịch sinh thái và văn hóa - Lào Cai
Nằm ở vùng núi Tây Bắc của Tổ quốc, mang trong mình nhiều giá trị đặc sắc về cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ cũng như bản sắc văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc, Lào Cai là một trong những địa phương tiên phong trong việc phát triển loại hình du lịch cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống cho người dân bản địa Thực tế cho thấy, du khách, đặc biệt là khách nước ngoài đến Lào Cai thường thích
đi thăm những bản làng dân tộc để cùng sống và sinh hoạt với dân bản, cùng dân bản nấu ăn, thực hiện các công việc nhà nông, thưởng thức các tiết mục văn nghệ dân gian và mua những sản phẩm thổ cẩm, mỹ nghệ, mây tre đan làm quà lưu niệm Hiện nay, Lào Cai đã xây dựng được 13 điểm du lịch cộng đồng, tập trung chủ yếu
ở các huyện Sa Pa và Bắc Hà, tiêu biểu là: xã Tả Van, Tả Phìn, Nậm Sài (huyện Sa Pa); Bảo Nhai, Na Hối, Tà Chải (huyện Bắc Hà)… Và một trong những điểm du lịch cộng đồng mang đặc trưng, sắc thái văn hóa riêng, nổi bật ở Lào Cai là bản Tả Van Giáy, xã Tả Van, huyện Sa Pa, nằm cách trung tâm thị trấn Sa Pa 8 km về phía nam Bản có khoảng 20 hộ dân là đồng bào dân tộc Giáy, trong đó hầu hết các hộ đều làm du lịch cộng đồng
Bất kỳ ai đã một lần đến với Tả Van Giáy, đặc biệt vào mùa hè, hẳn sẽ không thể quên được hình ảnh những nương ngô xanh mướt đang trổ bắp, những thửa ruộng bậc thang xanh ngút ngàn trải dài lưng chừng núi, những bữa cơm dân dã ấm áp tình người hay những khuôn mặt hồn hậu, chân chất của mỗi con người nơi đây Được
sự định hướng của chính quyền địa phương, các hộ dân trong bản đã tự mua sắm một số vật dụng cần thiết như: chăn, màn, gối, đệm phục vụ nhu cầu lưu trú của du khách Nhờ phát triển du lịch cộng đồng, đời sống của nhân dân thôn Tả Van Giáy
đã được cải thiện đáng kể
Trang 361.3.2.3 Mô hình du lịch cộng đồng gắn với lịch sử - Điện Biên
Là nơi tập trung sinh sống của 21 cộng đồng dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc Thái, đồng thời có nhiều di tích lịch sử mang đậm dấu ấn của chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954, tỉnh Điện Biên là địa phương chứa đựng tiềm năng phong phú để phát triển loại hình du lịch cộng đồng gắn với lịch sử Năm
2004, tỉnh đã bắt đầu xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại 8 bản văn hoá thuộc huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ theo hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, trong đó nổi bật là các bản Phiêng Lơi, Him Lam (Tp Điện Biên Phủ) và bản Mển (huyện Điện Biên)
Nằm cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 6km về phía bắc, bản Mển có hơn 110
hộ dân với khoảng 500 nhân khẩu đều là người dân tộc Thái đen, trong đó có 6 hộ làm du lịch cộng đồng Nhìn từ xa, bản Mển đẹp như một bức tranh với lưng tựa núi, mặt hướng ra cánh đồng rộng mênh mông Nổi bật trên nền xanh của cây cối và bầu trời là những nếp nhà sàn nhỏ xinh còn giữ nguyên nét truyền thống Đến với bản Mển, ngoài dịp chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên đặc trưng vùng Tây Bắc,
du khách còn có cơ hội trải nghiệm các hoạt động hàng ngày cùng dân bản như: chế biến các món ăn truyền thống; chăm sóc gia súc, gia cầm; lên rừng lấy củi; xuống suối bắt cá; dệt, thêu thổ cẩm hay tham gia các hoạt động văn nghệ cộng đồng Bản Mển đã thành lập một tổ ẩm thực gồm 10 người có kinh nghiệm trong việc chế biến các món ăn địa phương và một đội văn nghệ gồm 15 người chuyên biểu diễn các bài hát, điệu múa truyền thống phục vụ du khách Đặc biệt, đến đây, du khách sẽ được chính trưởng bản dẫn đi tham quan và tìm hiểu một số phong tục, tập quán độc đáo của đồng bào dân tộc Thái bản địa
Trang 37CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1 Phân tích, đánh giá hiện trạng Tài nguyên thiên thiên tại vùng đệm khu
bảo tồn thiên nhiên Núi Ông Cụ thể:
- Khảo sát, phân tích, đánh giá hiện trạng bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông
- Khảo sát, phân tích, đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch hiện có tại khu bảo tồn;
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển đến du lịch sinh thái như: Nhận thức xã hội, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, Tài nguyên du lịch, dân cư và lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái, môi trường luật pháp và cơ chế chính sách, hoạt động xúc tiến quãng bá, cơ sở hạ tầng du lịch,…
Nội dung 2 Phân tích các thế mạnh về điều kiện tự nhiên và thế mạnh về Tài
nguyên nhân văn, thế mạnh về chính sách phát triển du lịch
Nội dung 3 Điều tra văn hóa cộng đồng bao gồm: phong tục tập quán, tôn giáo, tín
ngưỡng của cộng đồng và điều tra sinh kế của cộng đồng dân cư tại vùng đệm bao gồm: vốn con người; vốn xã hội; vốn tài chính; vốn vật chất; vốn tự nhiên
Nội dung 4 Đề xuất các giải pháp để phát triển du lịch sinh thái bền vững dựa vào văn hóa cộng đồng tại vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông Cụ thể: Giải
pháp về tổ chức quản lý; về quy hoạch-đầu tư hợp tác; về xây dựng, hoàn thiện và nâng cao cơ sở vật chất kĩ thuật, hạ tầng du lịch; mở rộng thị trường; về tiếp thị, quảng bá sản phẩm; về đào tạo nhân lực; về tăng cường giáo dục, giải pháp bảo vệ môi trường gắn với phát triển du lịch sinh thái bền vững
Trang 382.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.2.1 Thu thập số liệu, thông tin
Các tài liệu, số liệu, các thông tin tổng quan về đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế – xã hội của vùng nghiên cứu, các số liệu, tài liệu liên quan đến vùng đệm của khu BTTN Núi Ông đã công bố, các chính sách, các quy hoạch về bảo tồn và phát triển bền vững khu BTTN Núi Ông; các thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu được thu thập tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện Tánh Linh, BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông và UBND các xã trong vùng đệm của khu bảo tồn
Ngoài ra số liệu thứ cấp còn được thu thập từ những giáo trình, sách giáo khoa, tạp chí, báo chí, thư viện và hệ thống Internet
2.2.2.2 Khảo sát thực địa
Bằng các phương tiện sẵn có, tiến hành đến nơi nghiên cứu quan sát hiện trạng thực
tế đang diễn ra ở đây và ghi nhận lại những gì quan sát được Đồng thời, ghi lại những hình ảnh minh họa cho bài nghiên cứu; đặc biệt lưu ý khảo sát kỹ các địa điểm sau:
- Khảo sát các điểm du lịch hiện có tại vùng đệm của KBTTN Núi Ông Cụ thể khảo sát các điểm:
Trang 39+ Thác Bà nằm dưới chân Núi Ông về phía Nam, trên địa bàn xã Đức Thuận, huyện Tánh Linh, cách Thị Trấn Lạc Tánh khoảng 7,0 km
+ Dinh Cậu: Nơi thờ cúng linh thiêng của người Chăm
+ Thánh tượng Đức Mẹ Tà Pao: Nằm trên địa bàn xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh
+ Đập tràn Tà Pao: Trên địa bàn xã La Ngâu, huyện Tánh Linh
- Khảo sát các điểm du lịch sinh thái cộng đồng dự kiến Cụ thể như:
+ Các tuyến tham quan các kiểu rừng;
+ Các tuyến đi xe đạp ngắn, tuyến đường quanh khu bảo tồn;
+ Các tuyến leo núi ở khu vực Núi Ông;
+ Các tuyến du lịch tham quan Thác Bà;
+ Dịch vụ nhà nghỉ sinh thái và các sản phẩm sinh thái;
+ Dịch vụ hội thảo nhỏ kết hợp tham quan, nghỉ dưỡng tại khu bảo tồn;
+ Dịch vụ hướng dẫn; dịch vụ ăn uống; dịch vụ cho thuê dụng cụ chuyên dụng trong du lịch; dịch vụ vận chuyển trong khu vực; dịch vụ cung cấp các sản phẩm địa phương,…
Các tuyến khảo sát chính để dự kiến xây dựng các điểm, tuyến DLST là:
Tuyến 1: Từ trụ sở Trung tâm du lịch (tại khu vực Thác Bà) Ngã ba Suối Đá
theo đường Bà Trần Lệ Xuân Bàu Chim trở về trụ sở Trung tâm du lịch
+ Tổng chiều dài 12 km
+ Thời gian đi đường và tham quan là 6 giờ
+ Đặc điểm: Đây là tuyến có thể tham quan thác Bà, quan sát các loài chim, tham quan vườn sưu tập các loài thực vật và các sinh cảnh đặc trưng của Khu BTTN Núi Ông Ngoài ra, có thể tham quan các mô hình canh tác nông nghiệp đặc trưng của vùng giáp ranh khu bảo tồn,
Trang 40Tuyến 2: Từ trụ sở Trung tâm du lịch (tại khu vực Thác Bà) Theo tuyến đường
Bà Trần Lệ Xuân Đá Bàn về trụ sở Trung tâm du lịch
- Tổng chiều dài của tuyến này là 35 km
- Thời gian đi đường và tham quan là 16 giờ
- Đặc điểm: Theo tuyến này, du khách được tham quan thác Bà, khám phá thiên
nhiên về các kiểu rừng tại vùng đệm của khu BTTN Núi Ông hội tụ khá đầy đủ trên
tuyến này, xem các loài động vật hoang dã quý hiếm, nằm trong sách đỏ Việt Nam
và thế giới; tìm hiểu và trải nghiệm về sự tích khai thác trầm trước đây,
Tuyến 3: Từ trụ sở Trung tâm du lịch (tại khu vực Thác Bà) Trạm BVR Đức
Bình Theo tuyến đường lên Dinh Cậu Theo tuyến đường mòn đến Mỹ Thạnh Trạm BVR Ka Pét về trụ sở Trung tâm du lịch
- Tổng chiều dài của tuyến 40 km
- Thời gian đi và tham quan là 18 giờ
- Đặc điểm: Khám phá thiên nhiên
2.2.2.3 Điều tra xã hội học
Công thức xác định kích thước của mẫu
Hiện nay công thức xác định kích thước của mẫu rất đa dạng, với hiện có nghiên
cứu sử dụng công thức Yamane làm cơ sở tính toán
Theo Israel Glem D (1992), công thức Yamane được áp dụng để xác định kích
thước mẫu:
Trong đó:
n: là số lượng hộ cần nghiên cứu điều tra;