Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Trọng tâm và hạt nhân của chương trình toán ở Tiểu học là nội dung Số học Trong đó phép nhân, phép chia các số tự nhiên là nội dung cơ bản, quan trọng trong nội dung số học Bởi vì, nhiệm vụ trọng yếu của môn toán Tiểu học là hình thành cho học sinh kĩ năng tính toán – một kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống, lao động và học tập của học sinh Vì vậy giáo viên cần tìm hiểu, nghiên cứu để dạy tốt cho học sinh bộ môn này
2 Để dạy tốt nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên: trước hết giáo viên cần nắm được bản chất Toán học của những kiến thức Cụ thể, giáo viên Tiểu học phải: Hiểu đúng đắn các khái niệm, định nghĩa Toán học; có khả năng chứng minh các quy tắc, công thức, tính chất Toán học được dạy ở Tiểu học dựa trên toán học hiện đại; có khả năng giải bài tập toán ở Tiểu học tốt
Do vậy giáo viên Tiểu học nắm được bản chất toán học của phép nhân, phép chia các số tự nhiên
3 Sách giáo khoa Toán Tiểu học có rất nhiều đổi mới về cấu trúc nội dung, cách thể hiện nội dung nhằm đổi mới phương pháp dạy học Rất nhiều giáo viên tiểu học vẫn chưa cập nhật vấn đề này, dẫn đến việc dạy học Toán ở Tiểu học nói chung, việc dạy nội dung phép chia các số tự nhiên nói riêng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học Giáo viên cũng nắm được phương pháp dạy học các nội dung này theo hướng đổi mới về phương pháp dạy học Toán Điều này giúp cho việc dạy học phép chia các số tự nhiên đạt chất lượng cao hơn
Vì những lý do trên, đồng thời để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
sư phạm cho bản thân mình, tôi đã chọn đề tài:
“ Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia theo sách giáo khoa Toán lớp 3”.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Tìm hiểu nội dung và đổi mới phương pháp dạy học phép chia các số tự nhiên theo sách giáo khoa Toán lớp 3 nhằm nâng cao chất lượng dạy học toán nói chung toán 3 và phép chia trong toán 3 nói riêng,
B.NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHUYÊN ĐỀ
I/ Cơ sở lý luận.
a/Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học:
1 Tri giác:
- Ở đầu cấp, tri giác của trẻ thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn của trẻ
- Những gì trực quan, rực rỡ, sinh động thường dễ gây được ấn tượng tích cực cho trẻ và được trẻ tri giác tốt hơn
2 Chú ý:
Trang 2Chú ý có chủ định còn yếu, chú ý không chủ định phát triển Những gì mang tính mới mẻ, rực rỡ, bất ngờ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của HS
3 Trí nhớ:
- Ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế
- Những thông tin mà học sinh được tiếp xúc từ nhiều giác quan sẽ giúp các
em ghi nhớ nhanh hơn và nhớ lâu hơn
4 Tư duy:
- Chủ yếu là tư duy cụ thể, học sinh thường dựa vào những đặc điểm bề ngoài của sự vật, hiện tượng để khái quát hoá
- Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, chủ yếu được tiến hành khi tri giác trực tiếp các đối tượng trực quan
* Kết luận
Từ những đặc điểm trên của học sinh Tiểu học về quá trình nhận thức, khi dạy học Tiểu học nói chung và dạy học Toán nói riêng, giáo viên cần:
- Quan tâm đến việc sử dụng đồ dùng trực quan khi dạy hình thành kiến thức cho trẻ Vì hình dạng, kiểu cách, màu sắc… của đồ dùng trực quan dễ gây sự chú ý cho trẻ, giúp trẻ tri giác tốt, dễ nhớ và nhớ lâu
Tuy nhiên những đặc điểm trên của học sinh tiểu học cũng lưu ý giáo viên không nên quá lạm dụng đồ dùng trực quan Vì hình ảnh, màu sắc loè loẹt của nó
dễ lôi cuốn học sinh làm các em quên nhiệm vụ học tập của mình Hơn nữa, sử dụng trực quan quá nhiều sẽ không phát triển được trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng khái quát của học sinh
- Tổ chức cho trẻ hoạt động: vì khi tham gia hoạt động trẻ có điều kiện tri giác bằng nhiều giác quan: mắt – nhìn, tai – nghe, miệng – nói, tay – thao tác… Đây là cơ sở để tư duy và ghi nhớ kiến thức
- Giáo viên phải tạo cho học sinh tâm thế để ghi nhớ, hướng dẫn thủ thuật ghi nhớ, chỉ ra những điểm quan trọng, có ý nghĩa để học sinh ghi nhớ
- Việc trẻ ghi nhớ máy móc tốt là điều kiện để giáo viên dạy học sinh học thuộc các bảng chia Nhưng nếu giáo viên lạm dụng dạy ghi nhớ máy móc cho học sinh thì khi “vướng” ở một phép tính nào đó, học sinh rất khó thoát ra Do đó, hướng ĐMPPDH phải làm cho học sinh hiểu và nắm bản chất phép chia để học sinh dễ dàng tìm được cách “thoát ra”, không cần sự trợ giúp trước một tình huống
có vấn đề
II Một số vấn đề về phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học.
1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở Tiểu học.
“ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
2 Yêu cầu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học là:
Trang 3“ Dạy học dựa trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Thông qua hoạt động học tập này, học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, tự trải nghiệm khám phá, phát hiện vấn đề và tự chiếm lĩnh kiến thức.”
3 Thực hiện định hướng trên trong việc dạy bài mới và dạy thực hành luyện tập, giáo viên cần:
Trong dạy bài mới: Giúp học sinh:
- Tự phát hiện và giải quyết các vấn đề của bài học
- Tự chiếm lĩnh tri thức mới
- Hướng dẫn học sinh cách thức phát hiện, chiếm lĩnh tri thức
- Thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học
- Thực hành, rèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời, bằng ký hiệu
Trong dạy bài thực hành luyện tập: Giáo viên cần tổ chức và động viên mọi học sinh tham gia vào hoạt động thực hành luyện tập
- Giúp học sinh nhận ra kiến thức mới học và quy trình vận dụng các kiến thức đó trong các dạng bài tập khác nhau
- Giúp học sinh thực hành, luyện tập theo khả năng của mình Chấp nhận thực tế: có những học sinh làm ít hơn hay nhiều hơn số lượng bài tập đưa ra
- Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau giữa các đối tượng học sinh
- Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành luyện tập
- Tập cho học sinh thói quen không thoả mãn với bài làm của mình, với các cách giải đã có
Tóm lại, cần thông qua các hoạt động thực hành, luyện tập, các em có thể tự mình hình thành phép chia; làm cho các em thấy học không chỉ để học mà học cốt
là để làm
4 Một số phương pháp dạy học thường được sử dụng trong dạy học Toán ở Tiểu học:
Căn cứ vào đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học, đặc điểm các kiến thức Toán học và phương pháp nhận thức Toán học, các phương pháp dạy học thường được sử dụng trong dạy học Toán ở Tiểu học gồm: phương pháp trực quan, phương pháp thực hành – luyện tập, phương pháp gợi mở – vấn đáp, phương pháp giảng giải – minh hoạ
Bên canh đó, để thực hiện định hướng đổi mới phương pháp dạy học Toán
ở Tiểu học, hiện nay người ta chú trọng sử dụng các phương pháp dạy học theo phương hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của người học (các phương pháp này gọi chung bằng thuật ngữ “phương pháp tích cực”.)
2/ Cơ sở thực tiễn.
1 Khác với chương trình CCGD trước đây, chương trình toán tiểu học mới
đã được đổi mới thực sự: Trước khi học nhân chia ở lớp 3, học sinh đã học nhân chia trong bảng từ nhân - chia với 2 đến nhân - chia với 5; cách hình thành bảng nhân chia ở lớp 2 với hình thành bảng nhân chia ở lớp 3 trong sách giáo khoa cơ bản giống nhau
Trang 42 Trước khi học chia, trẻ em đã thực hành chia: chia phần kẹo, chia bi, chia một nhóm thành các đội chơi, Đây là cơ sở để giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành, tự hình thành phép chia, bảng chia
3 Trẻ em thường bắt chước làm theo những gì mình thích và dễ dàng làm được những gì tương tự Nếu giáo viên lựa chọn cách tác động phù hợp đến học sinh, kích thích được tính tích cực trong học sinh thì học sinh dễ dàng tự lập được bảng chia 6 (7;8; ) từ bảng nhân 6 ( ) tương tự như lập bảng chia 5 từ bảng nhân
5
III Nội dung, yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng dạy học phép chia trong toán 3.
Theo Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học ban hành theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 05/5/2006, nội dung, chuẩn KT,KN dạy phép chia trong Toán 3 như sau:
- Bảng chia 6;7;8;9 Hoàn thiện các
bảng chia 2;3;4 9
Nêu đúng kết quả phép chia trong bảng đã học
- Chia nhẩm trong phạm vi các bảng tính đã học
- Giới thiệu .
9
1
; 8
1
; 7
1
; 6 1
9
1
; 8
1
; 7
1
; 6
1
bằng hình ảnh trực quan, đọc viết
- Biết tìm
9
1
; 8
1
; 3
1
; 2
1
của một đại lượng
- Phépchia số có đến 5 chữ số, chia
hết và chia có dư Biết đặt tính và thực hiện phép chia
- Tính nhẩm
Tính nhẩm trong phạm vi bảng tính Chia nhẩm các số tròn chục, tròn trăm, tròn nghìn cho số có một chữ số
- Biểu thức và giá trị biểu thức có
đến 2 dấu phép tính (có dấu ngoặc
hoặc không có dấu ngoặc)
- Làm quen biểu thức, giá trị biểu thức
- Thuộc quy tắc và tính đúng giá trị biểu thức
- Tìm thành phần chưa biết trong
phép nhân, phép chia
Biết tìm và tìm đúng thành phần chưa biết trong phép nhân, phép chia
- Giải toán có lời văn (có sử dụng
phép chia)
- Áp dụng trực tiếp phép chia vào để giải được bài toán có 1 đến 2 bước tính
- Gấp một số lên nhiều lần; giảm một
Trang 5số đi một số lần.
- So sánh số lớn gấp mấy lần số bé; số
bé bằng một phần mấy số lớn
- Giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị
- Mục tiêu môn toán tiểu học:
+ Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng, chăm học và hứng thú học tập toán; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo
Mục tiêu môn học quy định nội dung và phương pháp dạy học Thực tế phương pháp dạy học đã đưa học sinh đạt được ngưỡng của mục tiêu hay chưa? Hướng giải quyết các tồn tại như thế nào?
Là một giáo viên đang dạy lớp 3, trong phong trào ĐMPPDH của toàn ngành, tôi đã cố gắng đúc rút một số kinh nghiệm, không có ý phổ biến, chỉ mong muốn cùng trao đổi và chia sẻ cùng đồng nghiệp
CHƯƠNG II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
I ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÉP CHIA.
1 Về cấu trúc sách giáo khoa:
- Việc hình thành phép chia, bảng chia trong sách giáo khoa không những từ phép chia-bảng chia 6 mà cả từ lớp 2 – phép chia-bảng chia 2 thường theo một mô hình chung: Từ một ví dụ về một mô hình chung: những tấm “bìa” giống nhau có in
số chấm tròn bằng nhau để hình thành phép chia, từ đó dựa vào bảng nhân tương ứng mà hình thành bảng chia
SGK trình bày bản chất của phép tính, Nhưng nếu trên 1 lớp, 1 giáo viên, tiết học nào về phép chia GV cũng dạy theo mô hình giống nhau thì sẽ không tránh khỏi sự nhàm trong học sinh
- Sách giáo khoa luôn cho sẵn bảng chia trong tất cả các bài học về bảng chia Nếu lớp có học sinh đông (trên 30 HS), giáo viên không kiểm soát hết, không tránh khỏi học sinh dựa vào SGK để trình bày kết quả mà không phải động não
2 Thực trạng dạy của giáo viên.
- Thực tế đã có nhiều giáo viên nhiệt tình, với tinh thần đáp ứng yêu cầu KT,KN, hoàn thành mục tiêu dạy học, đã tìm tòi, đổi mới PPDH, đào tạo được một đội ngũ HSG tại các nhà trường
- Song, đa số giáo viên vẫn còn có nhiều hạn chế trong cung cấp phép chia, bảng chia, rèn luyện kỹ năng tính chia:
Trang 6+ Nặng lệ thuộc, tường thuật sách giáo khoa, trình bày bài dạy theo trình tự sách giáo viên, chưa mạnh dạn thoát li sách trong quá trình dạy học; vẫn nặng coi SGK là pháp lệnh, chưa thực hiện quyền lựa chọn nội dung, PP dạy học
+ Ít cho học sinh thực hành các hoạt động nhằm phát hiện vấn đề, tạo ra tình huống học tập để hình thành phép chia, tự hình thành bảng chia
+ Mức độ liên kết kiến thức đã học với kiến thức mới, liên kết các nội dung toán với nhau, sử dụng vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh để hình thành kiến thức mới đang còn hạn chế
+ Trong phong trào sử dụng CNTT vào dạy học, nhiều giáo viên đã sử dụng tốt lợi thế của phương tiện kỹ thuật hiện đại để dạy tốt phép chia Nhưng vẫn còn một số đồng nghiệp coi lợi thế của CNTT như phương tiện thay thế thao tác viết bảng, trình chiếu tất cả những gì có trong SGK lên màn hình, học sinh được
“xem” kiến thức như xem phim, phương pháp chung được sử dụng là giáo viên hướng dẫn và thực hiện trực tiếp trên ví dụ cụ thể, từ đó khái quát thành các bước thực hiện
2 Thực trạng học của học sinh.
- Học bảng chia (cũng như bảng nhân), học sinh thường được giáo viên cho đọc đồng thanh nhiều lần bảng tính vừa được hình thành, nên học sinh thường ghi nhớ bảng tính một cách máy móc Không ít học sinh khi thực hiện phép chia bị
“vướng” thường đọc lại từ đầu bảng chi để nhớ ra phép tính hiện tại
- Dù đã được học phép chia, nhưng khi gặp thuật ngữ: giảm đi lần, HS cũng cần sự giải thích, giảng giải nhiều của giáo viên mới có thể giải quyết được tình huống
- Học sinh đã thực hành được chia số có 2;3 chữ số cho số có một chữ số, nhưng khi gặp chia số có 4;5 chữ số cho số có một chữ số vẫn rất lúng túng
Nhằm khắc phục các hạn chế trên với cả người dạy và người học, trong các năm học gần đây và năm học 2015-2016, với tinh thần chỉ đạo Dạy học theo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng, tôi mạnh dạn tìm tòi, đổi mới cách thức hình thành phép chia, bảng chia, các nội dung toán về phép chia
II THỰC NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÉP CHIA TRONG TOÁN 3
Qua việc tìm hiểu nội dung , phương pháp dạy học các nội dung về phép chia các số tự nhiên ở lớp 3, tôi thấy: Để dạy tốt các nội dung này, giáo viên cần lưu ý những điều sau:
1 Về việc dạy giai đoạn chuẩn bị:
Trước khi học phép tính mới (phép nhân, phép chia) học sinh đều có giai đoạn chuẩn bị Đây là cơ sở cho việc hình thành kiến thức mới, cầu nối giữa kiến thức đã học và kiến thức sẽ học Vì vậy, khi dạy học các bài học trong giai đoạn này, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức cho học sinh để làm cơ sở vững chắc cho các em học những kiến thức mới tiếp theo Cụ thể là:
Trang 7- Học sinh được học bài “Phép nhân” và các bài về Bảng nhân trước khi học bài “Phép chia” và các bài về Bảng chia Giáo viên lưu ý học sinh phải thuộc
bảng nhân để làm cơ sở học các bảng chia, vì các bảng chia đều được xây dựng từ các bảng nhân tương ứng
- Trong phần Ôn tập các bảng nhân, bảng chia đầu năm, đồng thời với việc
hệ thống, ôn tập, củng cố các bảng nhân, bảng chia đã học ở lớp 2, tôi tập trung phát hiện các học sinh còn hổng về kiến thức nhân-chia lớp 2 để bù kiến thức cho học sinh; làm cho học sinh nắm chắc quan hệ giữa phép nhân và phép chia
- Về việc sử dụng đồ dùng trực quan trong từng giai đoạn lập bảng nhân,
bảng chia, tôi không dừng lại chỉ cho học sinh sử dụng các miếng bìa có sẵn trong
bộ thực hành toán mà cho học sinh tự tìm các đồ dùng khác nhằm đưa học sinh gần với thực tế yêu cầu cuộc sống hơn
2 Dạy học nhân chia trong bảng.
- Điều tôi làm trước tiên khi dạy học nhân chia trong bảng (và cả các tiết
dạy học bài mới khác), tuyệt đối tôi không cho học sinh mở sách giáo khoa Chỉ đến khi cần sử dụng tư liệu trong sách để củng cố, luyện tập tôi mới cho học sinh
mở sách
- Bắt đầu dạy học bảng chia 6-bảng chia đầu tiên của lớp 3, tôi vẫn sử dụng
kĩ thuật chung của nhân, chia trong bảng là cho học sinh thao tác trên các tấm bìa
có các chấm tròn, nhưng tuỳ đối tượng mà tôi có những yêu cầu khác nhau: học sinh yếu, trung bình, tôi hướng dẫn các em sử dụng các tấm bìa để hình thành phép chia (như SGK); học sinh khá, giỏi tôi yêu cầu nêu: VD:
5 x 6 = ? (30); 30 : 5 = ? (6); vậy 30 : 6 = ?; 6 x 5 = ?
Tương tự, em có thể lập bảng chia 6 như đã lập bảng chia 5 ở lớp 2 được không?
Để thuận tiện cho việc học sinh tự hình thành các bảng chia tiếp theo, sau khi có bảng chia hoàn chỉnh, tôi cho học sinh đối chiếu bảng nhân với bảng chia tương ứng để khắc sâu quan hệ giữa nhân và chia, giữa bảng nhân và bảng chia
- Khi học tiếp các bảng nhân, bảng chia 7, 8, 9, lúc này các em đã có kinh nghiệm sử dụng đồ dùng học tập; đối với học sinh khá-giỏi, bằng một câu lệnh gọn
và gợi ý nhỏ là học sinh có thể tự hình thành bảng chia thông qua bảng nhân tương ứng, làm vậy để tăng dần mức độ khái quát để kích thích trí tưởng tượng, phát triển
tư duy cho học sinh
Với học sinh nhận thức chậm hơn, thay vì các tấm bìa, tôi cho học sinh sử dụng que tính (14 que tính chia thành 7 phần bằng nhau, mỗi phần mấy que?), bài khác có thể cho chuẩn bị các nắp chai bia, các hòn sạn, các viên bi, chia kẹo, để thực hành chia, hình thành bảng chia
Các giáo viên cũng cần lưu ý rằng: việc sử dụng các tấm bìa có chấm tròn như SGK, khi chia là “chia theo nhóm”, nó khó giải thích vì với học sinh ít gặp chia theo nhóm trong thực tế sinh hoạt của các em Việc HS tự tìm các vật dụng để thực hành “chia thành phần bằng nhau” nó “thuận” cho GV và HS hơn, đặc biệt với học yếu, trung bình
Trang 8
- Để đạt yêu cầu chia nhẩm trong bảng, không nên cho học sinh đọc đồng thanh vì đọc đồng thanh GV không thể kiểm soát được mức độ nắm KT của học sinh Chỉ nên cho HSY đọc cá nhân, thay đổi thứ tự phép tính trong bảng, tăng cường thực hành chia trên bảng con, vở bài tập, GV tăng cường chấm và cho học sinh đánh giá kết quả của nhau
3 Giới thiệu .
9
1
; 8
1
; 7
1
; 6 1
Khác với việc dạy ;
4
1
; 3
1
; 2
1
ở lớp 2, lớp 3 cung cấp
9
1
; 8
1
; 7
1
; 6
1
không được
dạy thành một bài học mà dưới hình thức giới thiệu thông qua một số bài toán cụ thể (bằng hình ảnh) sau khi đã học các bảng chia
- Khi gặp các bài toán giới thiệu “một phần ”, tôi sử dụng triệt để kiến thức về “một phần hai”, “một phần ba”, “một phần tư” học sinh đã được học ở lớp
2 Số học sinh nhớ và nắm kiến thức lớp 2 dễ dàng nhận biết
9
1
; 8
1
; 7
1
; 6
1
, và từ đó
học sinh hoàn toàn tính được )
9
1
; 8
1
; 7
1 ( 6
1
của một số
- Với các học sinh chậm hiểu, tôi không ngần ngại “nhắc lại” “một phần ” bằng cách hướng dẫn cắt các băng giấy thành các phần bằng nhau để giúp học sinh nhớ lại “một phần ” là thế nào VD: với bài tập 4b (trang 60 Toán 3), học sinh có thể biết chia 24 ô vuông của hình thành 8 phần bằng nhau và tính được một phần có
3 ô vuông, nhưng học sinh lại khó diến đạt
8
1 số ô vuông của hình b là 3 ô vuông Tôi sử dụng băng giấy có 24 ô vuông đơn giản hơn để học sinh dễ cắt chia và dễ nhớ lại khái niệm hơn:
Với cách làm này, tôi đã giúp tất cả các đối tượng học đều đạt được yêu cầu cần đạt
- Học sinh nắm được “một phần mấy” và tính được “một phần mấy” của một
số, tôi cho học sinh tìm ra quan hệ giữa “một phần mấy” và “ số lớn gấp mấy lần số bé”, VD: 3 ô vuông bằng
8
1 của 24 ô vuông, vậy 24 ô vuông gấp mấy lần 3 ô vuông, và đã tạo thuận lợi hơn, học sinh hiểu sâu hơn khi dạy “giảm một số đi lần”
4 Dạy học phép chia hết và phép chia có dư.
a Phép chia hết.
Từ lớp 2 cho đến bài học này của toán 3, học sinh đã hoàn toàn làm quen với phép chia hết (khái niệm chưa được cung cấp) Tôi cung cấp khái niệm “phép chia
Trang 9hết” từ chữa bài tập tiết luyện tập liền trước, VD: 54 : 6 = 9; 9 x 6 = 54 Khi lấy
“thương” x “số chia” = “số bị chia”, ta nói: Phép chia đó là phép chia hết
b Phép chia có dư.
Tôi cho 2 HS cùng bàn dùng 9 nắp chai bia để hoạt động học tập
- Đặt 9 nắp chai bia (hoặc vật dụng khác tuỳ học sinh sưu tầm được)
Hai bạn cùng chia 9 nắp chai bia thành 2 phần, mỗi bạn một phần, sao cho số nắp chai bia của 2 bạn là bằng nhau (HS thực hành chia)
? Mỗi bạn được mấy nắp chai bia? (4)
? Còn dư nắp chai bia nào không? (còn dư 1)
? Nếu cô cho mỗi bàn 9 cái kẹo, chia đều cho 2 bạn, chưa có kẹo để chia, em làm thế nào để biết mình có được mấy cái kẹo? (9 : 2)
? Các em lấy bảng con đặt tính và chia
? Mỗi em được mấy cái kẹo? (4) ? Số kẹo cô cho đã chia hết chưa? (dư 1)
Ta nói: 9 : 2 = 4 (dư 1); và phép chia không chia hết được là phép chia có dư
- Cho học sinh chia tiếp: 14 : 3 =4 (dư 2)
Các em so sánh số dư mỗi phép chia với số chia của phép chia đó
H: Số dư bé hơn số chia
5 Dạy chia ngoài bảng: chia số có 2;3;4;5 chữ số cho số có một chữ số.
a Chia số có 2 chữ số cho số có một chữ số.
Học sinh đã quen chia số có 2 chữ số cho số có một chữ số nhưng đang hoàn toàn chia trong bảng VD đầu tiên trong SGK là một phép chia có nhớ (73 : 2), rất khó để GV không phải làm thay học sinh
- Tôi thay cho học sinh làm một phép tính khác đơn giản hơn: 48 : 2
+ Hướng dẫn học sinh chia nhẩm:
? 48 gồm mấy chục và mấy đơn vị? (4 chục và 8 đơn vị)
? 4 chục chia cho 2 được mấy?(2 chục), 8 đơn vị chia cho 2 được mấy?(2 đv)
? 4 chục, 8 đơn vị chia 2 được mấy? (2 chục, 4 đơn vị) ? 48 : 2 = ? (24) + Hướng dẫn đặt tính và tính:
? Các em đặt tính vào bảng con và chia Trước hết lấy hàng cao nhất (hàng chục) chia cho số chia
Các em kiểm tra hàng chục đã chia hết cho số chia chưa bằng cách lấy thương nhân số chia, lấy hàng chục trừ đi kết quả; hạ hàng đơn vị xuống, chia và kiểm tra lại như vậy
? Đây là phép chia hết hay chia có dư? (chia hết)
- Bây giờ các em đặt tính và chia: 73 : 2
Mấu chốt của phép chia này là cho học sinh nắm: Khi ghép số dư lần chia trước với chữ số vừa hạ xuống tạo thành một số để chia tiếp cho số chia
Nếu HS lúng túng, tôi hỏi: 7 chục chia 2 được 3 chục, dư 1 là “1 chục” hay
“1 đơn vị”? (1 chục) ? 1 chục với 2 đơn vị là mấy? (12) 12 : 3 = ? (4)
? Phép chia hết không? (chia hết)
Đến phép chia có dư: 65 : 2 thì học sinh hoàn toàn có thể tự làm mà giáo viên không mất công nhiều
Trang 10b/ Chia số có 3;4;5 chữ số cho số có một chữ số.
- Khi đã dạy cẩn thận phép chia số có 2 chữ số cho số có một chữ số, chia hết
và chia có dư, việc dạy chia các số có nhiều chữ số cho số có một chữ số thuận lợi hơn rất nhiều
- Những tình huống tôi quan tâm giúp học sinh giải quyết khi dạy học phép chia với số bị chia có nhiều chữ số:
+ Học sinh thường ước lượng thương sai trong phép chia có dư nên dẫn đến tìm được số dư lớn hơn số chia và lại thực hiện chia số dư đó cho số chia Cuối cùng, tìm được thương lớn hơn số chia
VD: 289 2
08 1431
09
6
3
2
1
Để khắc phục sai lầm này GV cho HS nhân thương với số chia để kiểm tra kết quả, phát hiện chỗ sai, nguyên nhân sai Từ đó giúp HS hiểu được: “số dư bao giờ cũng bé hơn số chia” không chỉ là số dư cuối cùng, mà số dư ở bất kỳ lần chia nào cũng phải luôn bé hơn số chia Trong quá trình thực hiện tính chia, nếu thấy một lần chia nào đó số dư còn lớn hơn số chia là em dã chọn thương sai, phải chọn lại + Một sai lầm nữa thường thấy ở học sinh khi học chia viết là: Các em thường quên chữ số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương Do học sinh không nắm được quy tắc thực hiện chia viết “có bao nhiêu lần chia thì có bấy nhiêu chữ số được viết ở thương” Giáo viên cũng cần lưu ý học sinh: Chỉ duy nhất trong lần chia đầu tiên là được lấy nhiều hơn một chữ số ở số bị chia để chia, còn các lần chia tiếp theo lấy từng hàng để chia và khi lấy một hàng để chia thì phải viết được một chữ số ở thương + Bên cạnh đó, giáo viên cũng lưu ý học sinh nên viết đủ phép trừ ở các lượt chia như sau VD: 816 4
01 204
16
16
0 Nhìn chung, khi học nội dung về phép chia các số 3;4;5 chữ số cho số có một chữ số ở lớp 3, hầu hết học sinh đều nắm được kiến thức có kỹ năng chia Những sai lầm trên đây chỉ xảy ra với số ít học sinh ở giai đoạn đầu học về nội dung này Giáo viên cần lưu ý để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời
6 Tính giá trị biểu thức.