Các tài liệu chứng minh, kết quả thực hiện các tiêu chí và lấy ý kiến các tổ chức, nhân dân được tổng hợp, phân loại, lưu trữ đầy đủ tại tủ tài liệu nông thôn mới của huyện; các tiêu chí
Trang 1tỉnh Ninh Bình đạt chuẩn nông thôn mới năm 2021
Căn cứ Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí huyện nông thôn mới và quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới;
Căn cứ Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;
Căn cứ Quyết định số 2540/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận
và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới; địa phương hoàn thành nhiệm
vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;
Căn cứ Thông tư số 35/2016/TT-BNNPTNT ngày 26/12/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện tiêu chí huyện nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;
Căn cứ Văn bản số 394/BNN-VPĐP ngày 19/01/2021 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tiếp tục thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới năm 2021;
Trên cơ sở Báo cáo kết quả thẩm tra huyện Nho Quan đạt chuẩn nông thôn mới của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn UBND tỉnh Ninh Bình báo cáo kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị xét, công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới cho huyện Nho Quan năm 2021, như sau:
I KẾT QUẢ THẨM TRA
1 Về hồ sơ
Công tác đánh giá kết quả đạt chuẩn nông thôn mới của huyện Nho Quan đảm bảo công khai, dân chủ, minh bạch, đúng trình tự, đủ thủ tục, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và nhân dân
Các tài liệu chứng minh, kết quả thực hiện các tiêu chí và lấy ý kiến các tổ chức, nhân dân được tổng hợp, phân loại, lưu trữ đầy đủ tại tủ tài liệu nông thôn mới của huyện; các tiêu chí của huyện đã được Tổ công tác của huyện tổ chức tự đánh giá, báo cáo các sở, ngành của tỉnh thẩm tra, xác nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo đúng quy định
Trang 2Hồ sơ đề nghị xét, công nhận của huyện Nho Quan đã được UBND huyện hoàn thành đầy đủ gửi về Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh đúng quy định, gồm:
- Tờ trình số 687/TTr-UBND ngày 16/11/2021 của UBND huyện Nho Quan về việc thẩm tra, đề nghị xét, công nhận huyện Nho Quan đạt chuẩn nông thôn mới năm 2021;
- Tổng hợp danh sách các xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn huyện của UBND huyện Nho Quan;
- Báo cáo số 79/BC-UBND ngày 02/3/2022 của UBND huyện Nho Quan
về kết quả xây dựng nông thôn mới huyện Nho Quan (thay thế Báo cáo số
698/BC-UBND ngày 15/11/2021);
- Báo cáo số 695/BC-UBND ngày 15/11/2021 của UBND huyện Nho Quan về tổng hợp ý kiến tham gia của các cơ quan, tổ chức và nhân dân trên địa bàn huyện về kết quả xây dựng nông thôn mới và thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới;
- Báo cáo số 85/BC-UBND ngày 08/3/2022 của UBND huyện Nho Quan
về tình tình thanh toán nợ xây dựng cơ bản trong xây dựng nông thôn mới huyện
Nho Quan (thay thế Báo cáo số 694/BC-UBND ngày 15/11/2021)
- Biên bản cuộc họp ngày 16/11/2021 của UBND huyện Nho Quan đề nghị xét, công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới;
- Các hình ảnh và Video clip minh họa kết quả xây dựng nông thôn mới của huyện Nho Quan
- Văn bản xác nhận các tiêu chí huyện nông thôn mới, xã nông thôn mới của các sở, ban, ngành
- Báo cáo số 493/BC-MTTQ-BTT ngày 22/02/2022 của Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Ninh Bình về kết quả lấy ý kiến sự hài lòng của người dân về kết
quả xây dựng nông thôn mới tại huyện Nho Quan năm 2021 (thay thế Báo cáo
số 475/BC-MTTQ-BTT) ngày 28/12/2021)
2 Về kết quả thực hiện các điều kiện đạt chuẩn huyện nông thôn mới 2.1 Số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo quy định
- Tổng số xã trên địa bàn huyện: 26 xã
- Số xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới: 26 xã
- Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới: 100%
- Số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu là 01 xã
- Số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao là 02 xã
- Số thôn đạt chuẩn khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu là 37 thôn
Đến nay, 26/26 xã trên địa bàn huyện Nho Quan đã được các xã đánh giá lại, huyện thẩm tra, các sở, ngành chức năng của tỉnh thẩm định xác nhận đạt
Trang 3chuẩn theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 17/2017/QĐ-UBND ngày 16/6/2017 của UBND tỉnh Ninh
Bình quy định Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn NTM giai đoạn 2017 - 2020 trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình
2.2 Một số kết quả chủ yếu xây dựng nông thôn mới của các xã
2.2.1 Công tác lập quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch
Đến hết năm 2012, đã có 100% số xã được UBND huyện phê duyệt quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới Năm 2016, có 100% xã được UBND huyện phê duyệt Quy hoạch sản xuất giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn đến năm
2025 Từ năm 2017-2020, đã triển khai rà soát điều chỉnh quy hoạch phát triển sản xuất cho 08 xã phù hợp với Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015-2020 Căn cứ tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ, các xã
đã tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai Đến năm 2021, các xã đã hoàn thành việc rà roát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch xây
dựng xã nông thôn mới đến năm 2030
Căn cứ quy hoạch đã được UBND huyện phê duyệt, các xã đã tiến hành tổ chức cắm mốc chỉ giới theo quy hoạch, các Đồ án quy hoạch được công bố công khai tại các hội nghị, trên đài truyền thanh của xã Bản đồ quy hoạch được in khổ lớn trưng bày tại trụ sở UBND các xã, nhà văn hóa các thôn, xóm, nơi công cộng để nhân dân biết, thực hiện; các xã đều ban hành quy chế quản lý, tổ chức thực hiện có hiệu quả quy hoạch và quản lý chặt chẽ quy hoạch đã được phê duyệt, các xã không có tình trạng vi phạm quy hoạch bị xử lý
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 1
về Quy hoạch
2.2.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu
Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được ưu tiên đầu tư, nâng cấp tương đối đồng bộ và hiện đại, nhất là các lĩnh vực liên quan đến sản xuất, đời sống của người dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, an sinh xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân
a) Về giao thông
- Từ khi thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, hệ thống đường
bộ trên địa bàn huyện đã được quan tâm đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và kết nối với mạng lưới giao thông của tỉnh và các địa phương, các tuyến đường trục xã, thôn, xóm, ngõ đã được nhựa hóa, bê tông hóa, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu sản xuất, dân sinh của người dân
- Từ năm 2012-2021, toàn huyện đã tiếp nhận 67.150 tấn xi măng, đã làm mới được 2.398 tuyến đường, với tổng chiều dài 456 km và cứng hóa 185 km đường trục chính nội đồng Đến nay, 100% số xã đã có đường tới trung tâm xã được nhựa hóa, bê tông hóa đạt chuẩn theo quy định; 100% số thôn, xóm có
Trang 4đường ngõ, xóm bằng bê tông, đường giao thông trục chính nội đồng cơ bản được cứng hóa đảm bảo xe cơ giới đi lại thuận đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất và dân sinh Các xã đã lắp đặt 452 biển báo, chỉ dẫn giao thông; xây dựng 25 km rãnh thoát nước, vỉa hè; 253 km đường điện chiếu sáng; trồng trên 150 km đường hoa, cây xanh trên ven các trục đường
- Kết quả cụ thể:
+ Đường liên xã, trục xã: Tổng chiều dài 248,835 km, tỷ lệ đường xã, đường từ xã đến trung tâm huyện được nhựa hóa, bê tông hóa đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm là 248,835/248,835 km (đạt 100%)
+ Đường trục thôn, liên thôn: Tổng chiều dài 152,104 km, tỷ lệ đường trục thôn, ngõ xóm được bê tông hóa, đạt chuẩn là 152,104/152,104 km (đạt 100%)
+ Đường ngõ xóm, tổ dân phố: Tổng chiều dài là 410,755 km, tỷ lệ đường ngõ xóm, phố được bê tông hóa, đạt chuẩn là 410,755/410,755 km (đạt 100%)
+ Đường trục chính nội đồng: Tổng chiều dài 207,685 km, đã được cứng hóa đạt chuẩn theo quy định 207,685/207,685 km (đạt 100%)
+ Trên địa bàn huyện có 104,1km đường đê kết hợp giao thông, đã được
bê tông hóa, đảm bảo giao thông thuận tiện và an toàn đê điều trong công tác phòng chống thiên tai
Hiện nay, tất cả các tuyến đường giao thông trên địa bàn huyện lòng đường được quản lý theo đúng quy định; lề đường, vỉa hè hầu hết không có điểm bị che khuất tầm nhìn; công tác duy tu, bảo trì được thực hiện thường xuyên, nhiều tuyến đường được áp phan nhựa
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 2
về Giao thông
b) Về thủy lợi
Hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn huyện thường xuyên được đầu
tư xây dựng, cải tạo, duy tu, nâng cấp đáp ứng yêu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và phòng chống thiên tai
- Trên địa bàn huyện có 76 trạm bơm với 187 máy với công xuất từ 320 ÷ 4.000 m3/h/máy; 713,8km kênh mương nội đồng (kênh tưới 602,87km; kênh tiêu, dẫn 110,93km) chủ yếu do các HTX nông nghiệp quản lý; 104,1km đê (tỉnh quản lý 42,6km; UBND các xã quản lý 61,5km); 199 cống dưới đê và cống trạm bơm; 38 hồ chứa nước lớn, nhỏ với tổng dung tích 22 triệu m3 Trước khi thực hiện xây dựng nông thôn mới, hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện còn lạc hậu, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất và công tác phòng chống thiên tai Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện Chương trình, toàn huyện
đã triển khai thực hiện việc lồng ghép các chính sách (công ích thủy lợi) xây dựng, nâng cấp trên 150 công trình thủy lợi các loại (trong đó kiên cố hóa được 360,14km kênh mương, tỷ lệ cứng hóa đạt 80% tăng 35% so năm 2011; xây dựng mới và nâng cấp sửa chữa được 54 trạm bơm, 80 cống các loại ); năm
Trang 52020, đảm bảo tưới, tiêu chủ động cho 35.358 ha đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn toàn huyện (trong đó đất trồng lúa 13.410 ha, đất thủy sản 548ha; đất lâm nghiệp, đất cây hàng năm khác 21.400 ha) đạt tỷ lệ 96,4%; tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới và tiêu nước chủ động tại các xã đều đạt trên 95% Công tác thủy lợi nội đồng, đắp bờ vùng, bờ thửa, tu bổ sửa chữa, nâng cấp thương xuyên; nạo vét kênh mương, giải tỏa, khơi thông dòng chảy các tuyến kênh hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch; khối lượng đào đắp từ năm 2011-2020 đạt trên 1,9 triệu m3
- Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn của các xã, thị trấn được thành lập, thường xuyên được củng cố, kiện toàn và hoạt động có hiệu quả Hàng năm, các đơn vị đã chủ động xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện Kế hoạch phòng chống thiên tai; phương án ứng phó đối với các loại hình thiên tai chủ yếu, thường xuyên xảy ra trên địa bàn, phương án ứng phó với bão mạnh, siêu bão theo phương châm “4 tại chỗ” được phê duyệt theo quy định của Luật Phòng, chống thiên tai Công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của cả cộng đồng về các loại hình thiên tai được quan tâm để chính quyền địa phương và người dân biết, chủ động thực hiện, giảm thiểu thấp nhất thiên tai gây ra
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 3
về Thủy lợi
c) Về điện:
Hệ thống điện nông thôn huyện Nho Quan được đầu tư hoàn chỉnh, phủ khắp địa bàn dân cư nông thôn, bảo đảm cung cấp nguồn điện ổn định, an toàn cho sản xuất và kinh doanh Từ năm 2011 đến nay, toàn huyện đã đầu tư nâng
cấp, mở rộng, lắp đặt thêm 250 trạm biến áp (trạm biến áp cấp cho sinh hoạt: 199 trạm, trạm chuyên dùng cấp cho khách hàng: 51 trạm); làm mới, nâng cấp
201,65km đường điện trung thế; 460,5 km đường điện hạ thế đảm bảo lưới điện vận hành an toàn, cung cấp điện liên tục, chất lượng điện đảm bảo theo yêu cầu
kĩ thuật của hệ thống Kinh phí thực hiện nâng cấp, sửa chữa chủ yếu là vốn của ngành điện, người dân đóng góp tiền, ngày công, hiến đất xây dựng hệ thống điện chiếu sáng đường thôn, ngõ xóm
Đến nay hệ thống điện trên địa bàn huyện bảo đảm theo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân Đảm bảo 100% số xã được sử dụng điện từ điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện thường xuyên, an toàn đạt 100%
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 4
về Điện
d) Về trường học
Từ năm 2011 đến nay, huyện luôn quan tâm chỉ đạo các xã đầu tư xây mới, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học của các trường học: Đã
Trang 6xây mới 519 phòng học, phòng chức năng, nhà hiệu bộ và 131 công trình phụ trợ của 53 trường học các cấp trên địa bàn huyện Khuôn viên các trường học được mở rộng đủ diện tích, có đầy đủ sân chơi, bãi tập, nhà để xe, nhà vệ sinh nam nữ riêng biệt cho giáo viên và học sinh; hệ thống nước sạch, hệ thống điện phục vụ hoạt động của nhà trường được đầu tư đồng bộ Hầu hết các trường học đều có khuôn viên xanh - sạch - đẹp - an toàn; các nhà trường đều có kết nối Internet và xây dựng được Website thông tin hoạt động thường xuyên; phòng học, phòng bộ môn, phòng phục vụ học tập, phòng hành chính quản trị,… được đầu tư đủ số lượng, cơ bản có đủ trang bị để dạy học như máy tính, máy chiếu Các trường Tiểu học và THCS đều xây dựng được tủ sách lớp học, nhiều trường Tiểu học xây dựng được thư viện thân thiện, tủ sách nhằm phát huy văn hóa đọc trong nhà trường
Về cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện tại của các trường học trên địa bàn cơ bản đã đáp ứng cho công tác quản lý giáo dục, tổ chức dạy và học ở các cấp học
Đến nay, toàn huyện có toàn huyện có 1.366/1.420 phòng học kiên cố đạt 96,2%; 81/81 trường học đạt chuẩn quốc gia, đạt 100% (trong đó: 28/28 trường Mầm non đạt chuẩn, đạt 100%; 26/26 trường Tiểu học đạt chuẩn, đạt 100%; 26/26 trường THCS đạt chuẩn, đạt 100%); 22/81 trường đạt chuẩn quốc gia mức
độ 2 đạt tỉ lệ 27,2% (trong đó 03 trường Mầm non, 01 trường THCS, 01 trường Tiểu học và THCS, 17 trường Tiểu học)
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 5
về Trường học
e) Về cơ sở vật chất văn hóa
Năm 2011, toàn huyện có 14/26 xã có nhà văn hóa, sân thể thao (đạt tỷ lệ 53,8%); 226/274 thôn, xóm, bản có nhà văn hóa, sân thể thao thôn (đạt tỷ lệ 82,5%) Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, cơ sở vật chất văn hóa, thể thao trên địa bàn huyện đã được quan tâm đầu tư với sự tham gia đóng góp tích cực của nhân dân bằng tiền mặt và công lao động Đến nay, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ huyện đến xã, thôn, bản đã được đầu tư, xây dựng đáp ứng cơ bản nhu cầu sinh hoạt văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí trên địa bàn huyện, kết quả cụ thể như sau:
- Về nhà văn hóa xã: Xây mới 21 nhà, cải tạo, nâng cấp 5 nhà văn hóa xã Đến nay, 26/26 xã có nhà văn hóa đạt chuẩn với diện tích từ 300 m2 trở lên với quy
mô 200 chỗ ngồi trở lên, có sân khấu, các phòng chức năng theo quy định, được trang thiết đầy đủ các thiết bị âm thanh, ánh sáng, quạt, bàn ghế, bục, tượng Bác, bục phát biểu, thiết bị phòng cháy chữa cháy, bảng nội quy, quy định đủ điều kiện phục vụ sinh hoạt văn hóa văn nghệ, sinh hoạt chính trị, tổ chức các sự kiện quan trọng của địa phương
- Về công trình thể thao cấp xã: 25 xã có khu thể thao cấp xã cơ bản đảm bảo về diện tích, có các trang thiết bị phục vụ cho việc tập luyện các môn thể thao (bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, ) và các sự kiện thể thao của xã Riêng
Trang 7xã Thượng Hòa đã có quy hoạch đất dành cho Khu thể thao, hiện tại sân Trụ sở UBND xã có sân bóng chuyền, cầu lông phục vụ nhu cầu sinh hoạt thể thao của nhân dân
- Về nhà văn hóa - khu thể thao thôn, xóm, bản: qua hơn mười năm triển khai thực hiện, toàn huyện đã xây mới, nâng cấp 263/274 nhà văn hóa thôn, xóm, bản; đến nay đã có 274/274 (đạt tỷ lệ 100%) thôn, xóm, bản có địa điểm sinh hoạt văn hóa, thể thao Trong đó có 273/274 thôn, xóm, bản có nhà văn hóa gắn liền với khu thể thao thôn, riêng thôn 12 xã Sơn Thành đăng sinh hoạt chung tại nhà văn hóa liên thôn tại thôn 11 (trước đây 2 thôn đều thuộc Làng Ác - xã Sơn Thành) Nhà văn hóa thôn, xóm, bản có từ 80 chỗ ngồi trở lên, có thiết bị âm thanh, ánh sáng, tủ sách, bàn ghế, bục tượng Bác, bục phát biểu, quạt và treo bảng nội quy, khẩu hiệu Khu thể thao gắn liền với sân nhà văn hoá tùy theo nhu cầu của người dân trên địa bàn có các sân cầu lông, bóng chuyền ,có 108 thôn/xóm/bản đã lắp đặt bộ dụng cụ thể dục, thể thao công cộng thu hút sự tham gia tập luyện của người dân trên địa bàn Nhà văn hóa - khu thể thao thôn, xóm, bản trên địa bàn huyện đã đáp ứng được nhu cầu về sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao của người dân
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 6
về Cơ sở vật chất văn hóa
f) Về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn
Từ năm 2011 đến nay, đã đầu tư sửa chữa, xây mới 10 chợ tại các xã Toàn huyện hiện nay có 14 chợ (01 chợ hạng II trung tâm huyện và 13 chợ hạng III trên địa bàn xã các xã); các chợ đều được đầu tư xây dựng đầy đủ các hạng mục công trình; trang bị, lắp đặt biển, tên chợ, nội quy, thiết bị phòng cháy chữa cháy, cân đối chứng, khu vệ sinh…Các chợ đều có Ban quản lý tổ chức điều hành các hoạt động; bố trí bãi gửi xe đảm bảo an toàn, trật tự giao thông Hệ thống chợ nông thôn trên địa bàn huyện đã góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo việc làm cho lao động nông thôn đảm bảo vệ sinh môi trường và văn minh thương mại, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
Đến nay, 26/26 xã đạt chuẩn nông thôn mới của huyện đã lập quy hoạch
hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn ở vị trí phù hợp, đáp ứng tốt nhu cầu buôn bán trao đổi hàng hóa, tiêu thụ nông sản phục vụ sản xuất và dân sinh của nhân dân
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 7
về Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn
g) Về thông tin và truyền thông
- Về xã có điểm phục vụ bưu chính: Tất cả các xã trong huyện đều có ít
nhất 01 điểm phục vụ bưu chính đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ bưu chính của các tổ chức, cá nhân tại địa phương như nhận gửi bưu phẩm, bưu kiện, chuyển phát nhanh, phát hành báo…ngoài ra còn cung cấp các dịch vụ khác như chuyển
Trang 8tiền nhanh, tiết kiệm bưu điện, chi trả lương hưu và, thu BHXH tự nguyện, bán bảo hiểm ô tô, xe máy… các điểm phục vụ bưu chính có biển hiệu, nhân viên phục vụ và thùng thư công cộng hoạt động theo quy định
- Về xã có điểm dịch vụ viễn thông, internet: 100% số xã có hạ tầng mạng
viễn thông, mạng internet băng thông rộng, hầu hết các gia đình đều có sử dụng mạng internet phục vụ nhu cầu thông tin, giải trí, văn hóa, văn nghệ của nhân dân Hạ tầng kỹ thuật viễn thông, internet của các nhà cung cấp dịch vụ internet đạt tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng của khách hàng, đảm bảo hoạt động ổn định Các xã đều có điểm cung cấp dịch vụ truy nhập Internet với đường truyền tốc độ cao
- Về hệ thống đài truyền thanh và hệ thống loa đến các thôn: Trước năm
2011, hệ thống truyền thanh của các xã phần lớn được có công suất thấp, sử dụng dây dẫn lưỡng kim nên chất lượng đường truyền và chất lượng âm thanh kém Đến nay, 26/26 xã đều có Đài truyền thanh được trang bị hệ thống tiếp sóng 4 cấp; 100% số thôn, xóm của các xã có hệ thống loa, cụm loa ngoài trời hoạt động ổn định, thường xuyên đổi mới nội dung tuyên truyền, thông tin kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các thông tin về
tình hình kinh tế xã hội, sản xuất, an ninh quốc phòng của địa phương
- Về xã có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành:
100% số xã trong huyện có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý
và điều hành; ứng dụng phần mềm ioffice, phần mềm igate cổng dịch vụ công trực tuyến trong quản lý văn bản và điều hành công việc hoạt động thông suốt từ huyện đến các xã, thị trấn
Đánh giá chung: huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 8 về Thông tin và truyền thông
h) Về nhà ở dân cư
- Huyện Nho Quan đã thực hiện tốt chính sách nhà ở cho người nghèo theo chính sách của Chính phủ, vận động từ các nguồn giúp xóa nhà tạm dột nát, khuyến khích nhân dân xây dựng nhà đạt chuẩn
- Năm 2011, toàn huyện trên 56,3% tỷ lệ hộ có nhà ở dân cư đạt tiêu chí của Bộ Xây dựng, nhiều địa phương trong huyện còn nhà tạm, nhà dột nát
- Sau 10 năm xây dựng NTM, Những năm vừa qua, kinh tế - xã hội nông
thôn có sự phát triển vượt bậc, đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được nâng lên, người dân quan tâm đầu tư xây mới, nâng cấp nhà ở, các công trình phụ trợ ngày càng khang trang, sạch đẹp Bên cạnh đó, huyện đã thực hiện tốt chính sách nhà ở cho người nghèo, hộ gia đình chính sách theo chính sách của Chính phủ, tăng cường vận động các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, con em thành đạt xa quê chung tay, góp sức xây dựng nhà ở cho các hộ nghèo, đối tượng chính sách; tuyên truyền, vận động nhân dân xây mới, cải tạo, nâng cấp
nhà ở, công trình ao, vườn, chuồng trại chăn nuôi theo tiêu chí “3 sạch” Từ năm
Trang 92016 đến nay, tổng kinh phí hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ chính sách và hộ nghèo trên địa bàn huyện Nho Quan là 11.660 triệu đồng/488 hộ Từ năm 2011 đến nay, toàn huyện đã xóa bỏ được 563 nhà tạm, nhà dột nát, đến nay trên địa bàn huyện không còn nhà tạm, nhà dột nát; tỷ lệ nhà ở dân cư đạt chuẩn tiêu chí Bộ Xây dựng của các xã năm 2020 đạt 95,4%, đến hết năm 2021 đạt 97,3%
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 9 về Nhà ở dân cư
2.2.3 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân
a) Về nông, lâm nghiệp, thủy sản
Tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nho Quan đã có những chuyển biến tích cực, thay đổi rõ rệt, chuyển dịch theo hướng hàng hóa, sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa phát triển mạnh, tốc độ tăng giá trị sản xuất đến năm 2020 đạt 5,07%, tăng 4,07% so với chỉ tiêu đại hội nhiệm kỳ 2015-2020, ước tính khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm 24,42% trong cơ cấu
kinh tế (giảm 6,34% so với năm 2015) Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác năm
2020 đạt 101,3 triệu đồng (tăng 55,3 triệu đồng so với năm 2010)
Huyện luôn quan tâm tạo cơ chế thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình tổ chức sản xuất, nhất là việc áp dụng cơ giới hoá, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, đặc biệt là công nghệ cao, sản xuất theo hướng hữu cơ, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung Chú trọng các hình thức liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm, sản xuất theo chuỗi giá trị; đồng thời xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, chỉ dẫn địa lý, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, kết quả thực hiện các lĩnh vực cụ thể như sau:
- Sản xuất trồng trọt có bước phát triển mạnh, theo hướng nâng cao giá trị, gắn với việc phát triển các nhóm cây trồng chủ lực theo lợi thế của từng địa phương, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung Đến hết năm 2021, diện tích trồng cây hàng năm là 17.508,5ha (giảm 7.754,5ha so với năm 2010), trong đó: cây lương thực có hạt là 13.035,7ha (giảm 3.688,3ha so với năm 2010); sản lượng lương thực có hạt 74.367 tấn, vượt 4.367 tấn so với kế hoạch (cây lúa 10.921,6ha; cây ngô 2.114,1ha); cây màu 4.472,8ha Với việc áp dụng bộ giống mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật đầu tư thâm canh, quản lý tốt dịch hại để tăng năng suất, chất lượng nông sản, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bật lợi của thời tiết, khí hậu, bên cạnh đó tăng cường áp dụng công nghệ cao như: nhà màng, nhà kính, tưới tiết kiệm tự động, bán tự động đối với các mô hình cây ăn quả, rau-củ-quả…ứng dụng cơ giới hóa khâu sản xuất như: làm đất, cấy lúa, thu hoạch sản phẩm (đến nay, 100% diện tích đất được làm bằng máy; diện tích lúa thu hoạch bằng máy gặt đập liên hoàn đạt 95%), góp phần giảm chi phí sản xuất tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác, giảm áp lực lao động, tăng năng suất, giá trị sản phẩm
Trang 10- Toàn huyện có 17.687,12 ha đất rừng, trong đó (đất rừng đặc dụng 11.248 ha; đất rừng phòng hộ 3.500,9 ha; đất rừng sản xuất 2.938,22 ha); tỷ lệ che phủ rừng đạt 37% Huyện luôn tập trung quản lý tốt diện tích rừng hiện có, thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng, không để xảy ra các vụ việc vi phạm nghiêm trọng xâm hại đến tài nguyên rừng Bình quân, hàng năm toàn huyện khai thác và trồng mới được khoảng 350
ha rừng sản xuất tiêu thụ được 40.000-50.000 m3 gỗ rừng trồng sản xuất và cây phân tán Huyện đã đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao như: cây Dổi xanh, cây Quế, cây Lát hoa, cây Sưa đỏ ; mô hình trồng rừng kết hợp với trồng xen canh cây dược liệu dưới tán hoặc phát triển con nuôi đặc sản như: ong mật, gà thả đồi đã đem lại hiệu quả kinh tế cao; nhân rộng các mô hình kinh tế trang trại đồi rừng, nhất là các mô hình nông lâm kết hợp (VAC), đặc biệt đã hình thành vùng sản xuất cây Bùi Kỳ Lão tại xã Kỳ Phú
- Chăn nuôi tiếp tục chuyển dịch theo hướng trang trại, gia trại, an toàn sinh học Các con nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao gắn với thế mạnh của từng địa phương được huyện chỉ đạo phát triển nhân rộng theo mô hình kinh tế trang trại, gia trại, với các con nuôi đặc sản như: Hươu, Nai, Ong mật, Nhím, Lợn bản địa,… được nhân rộng, đem lại hiệu quả kinh tế cao Năm 2021, toàn huyện có 1.454.591 con gia súc, gia cầm, trong đó có 6.181 con trâu, 16.776 con bò, 73.475 con lợn, 10.049 con dê, 1.348.110 con gia cầm
- Trong những năm qua sản xuất thủy sản phát triển mạnh, nhất là ở các xã vùng chiêm trũng, chuyển từ sản xuất tận dụng sang thâm canh, ứng dụng công nghệ cao nên năng suất, sản lượng, giá trị sản xuất thủy sản tăng cao, tập trung vào giống thủy sản nước ngọt truyền thống như: cá trắm, chép, trôi chủ yếu tại các xã Sơn Thành, Quỳnh Lưu, Văn Phong, Thanh Lạc Toàn huyện có 3.700
ha nuôi trồng thủy sản (tăng 737 ha so với năm 2010), có 03 hợp tác xã, 15 tổ hợp tác nuôi trồng thuỷ sản
Đến nay, 100% các xã trên địa bàn huyện có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm chủ lực đảm bảo bền vững như: mô hình lúa đặc sản chất lượng cao (Nếp Hạt cau) chủ yếu tại các xã Kỳ Phú, Thanh Lạc, Văn Phú, Sơn Lai, ; mô hình rau an toàn tại các xã Đồng Phong, Lạng Phong, Văn Phong, ;
mô hình sản xuất cây dược liệu tại các xã Cúc Phương, Gia Lâm, Kỳ Phú, Thạch Bình, Quảng Lạc, Xích Thổ, ; mô hình sản xuất Na rải vụ tại xã Phú Long, Kỳ Phú; mô hình sản xuất cây Bùi Kỳ Lão tại xã Kỳ Phú; mô hình sản xuất Khoai sọ tại các xã Yên Quang, Văn Phương, Quảng Lạc, ; mô hình chăn nuôi gà lai Đông tảo thương phẩm tại xã Gia Sơn, Xích Thổ, Đồng Phong; mô hình nuôi trồng thủy sản tại các xã Sơn Thành, Quỳnh Lưu, Văn Phong,
Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) được huyện Nho Quan đẩy mạnh triển khai thực hiện, đạt được những kết quả tích cực quan trọng, có sức lan tỏa mạnh mẽ, nhận được sự ủng hộ tích cực của xã hội Đến nay, huyện có 7 sản
Trang 11phẩm OCOP trong đó có 5 sản phẩm đạt hạng 4 sao (Sản phẩm Trà hoa vàng 50gram; Trà hòa vàng Mạn Hảo 30gram; Cao Đinh lăng (bột 50gram); Cơm cháy chà bông-vừng Xích Thổ; Na Phú Long), 2 sản phẩm đạt 3 hạng sao (Trà hoa thảo mộc Cita herb Cúc Phương; Bình gốm cắm hoa Gia Thủy) Các sản phẩm đã được đầu tư, đảm bảo điều kiện, quy định về tem, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc, các tổ chức kinh tế tham gia Chương trình OCOP từng bước được củng cố, phát triển, có nhiều hoạt động tích cực, đóng góp chung cho sự thành công của chương trình
b) Về hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp
- Đến hết năm 2015, các HTX đã hoàn thành Đại hội chuyển đổi, tổ chức lại theo Luật HTX năm 2012 Sau khi chuyển đổi, năng lực hoạt động của các HTX từng bước được củng cố và nâng lên Đến nay, toàn huyện có 63 HTX, trong đó có 30 HTX nông nghiệp, 33 HTX ngành hàng với 31.982 thành viên, cán
bộ quản lý là 267 người Trung bình mỗi HTX Nông nghiệp đảm nhiệm từ 4 -5 khâu dịch vụ (dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp, tưới tiêu, bảo vệ thực vật, nạo vét kênh mương, ), ngoài ra còn mở rộng một số khâu dịch vụ mới như: dịch vụ thu hoạch, dịch vụ liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm với các doanh nghiệp… Các HTX ngành hàng đã tổ chức tốt quá trình sản xuất và bao tiêu các sản phẩm: rau, củ, quả, dược liệu, thủy đặc sản cho các thành viên Doanh thu của các HTX từ 50 triệu - 1 tỷ đồng/HTX/năm, tạo việc làm cho hơn 7.000 lao động địa phương, thu nhập bình quân của các thành viên HTX từ 3-5 triệu đồng/người/tháng
- Hàng năm, các Hợp tác xã Nông nghiệp KD&DV xây dựng kế hoạch, phương án sản xuất kinh doanh trên cơ sở nghị quyết của Đại hội thành viên; chủ động liên kết với các doanh nghiệp trong việc cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật…, đảm nhận tốt khâu dịch vụ làm đất, thủy nông bảo vệ sản xuất, tín dụng nội bộ, thu hoạch bằng máy Các Hợp tác xã Nông nghiệp chủ động ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp để tổ chức sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 13
về Tổ chức sản xuất
c) Về lao động có việc làm
Công tác dạy nghề, tạo việc làm và xuất khẩu lao động trên địa bàn thường xuyên được quan tâm, triển khai thực hiện có hiệu quả Từ năm 2011 đến hết năm 2020, toàn huyện đã tổ chức 110 lớp dạy nghề cho 5.000 lao động với kinh phí trên 6,8 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước; tạo việc làm mới cho trên 40.000 lao động, bình quân mỗi năm tạo việc làm mới cho trên 4.000 lao động; tạo điều kiện cho 1.500 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài (bình quân mỗi năm có 150 lao động) Hiện nay có trên 80% lao động sau học nghề có việc làm ổn định với thu nhập bình quân đạt từ 4 - 8 triệu đồng/người/tháng Các ngành nghề đào tạo chủ yếu như: da giầy, may công nghiệp, đan lát, thủ công
mỹ nghệ, thêu ren, nông nghiệp công nghệ cao Chất lượng đào tạo nghề nông
Trang 12thôn từng bước được nâng lên, kiến thức và tay nghề người lao động được cải thiện, từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Những lao động sau học nghề nông nghiệp đều tổ chức sản xuất hiệu quả hơn, thu nhập cao hơn, nhất là những chủ trang trại, gia trại Năm 2020, giải quyết việc làm tăng thêm cho 2.568 lao động; xuất khẩu lao động 170 người Kết quả thực hiện:
- Tỷ lệ người có việc làm trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động năm 2011 đạt 58,21% Đến năm 2020 tỷ lệ người có việc làm trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động đạt 92,08%; ước năm 2021, số lao động
có việc làm thường xuyên trên địa bàn huyện đạt 94,12%
- Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo: Năm 2011 là 25,38%, đến hết năm 2020 đạt 51,22%; ước năm 2021 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 52,3%
Các chương trình phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và đào tạo nghề đã góp phần quan trọng tạo thêm nhiều việc làm ổn định và tăng thu nhập cho người lao động nông thôn, đồng thời góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và tạo thêm nhiều nguồn lực để xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 12
về Lao động có việc làm
d) Về thu nhập
Nho Quan là huyện miền núi có xuất phát điểm thấp, cơ cấu lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên thu nhập của người dân thấp, năm 2011 thu nhập bình quân đầu người toàn huyện mới đạt 12 triệu đồng/người/năm Từ năm 2011 đến nay, huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo ban hành các chính sách và thực hiện đồng bộ các giải pháp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa các loại giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất đại trà, huy động tối đa các nguồn lực để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm, khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương; đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất khẩu lao động, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm ở các doanh nghiệp trong và ngoài huyện để nâng cao thu nhập nhân dân Bên cạnh hỗ trợ của nhà nước, các hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách, người có công còn được các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm, con em quê hương, dòng họ quan tâm giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần để vươn lên thoát nghèo, nâng cao thu nhập
Đến hết năm 2020, thu nhập bình quân đầu người tại khu vực nông thôn đạt 50,89 triệu đồng/người/năm, các xã đều đạt trên 50 triệu đồng/người/năm đều trên mức đạt chuẩn Dự kiến hết năm 2021, thu nhập bình quân tại khu vực nông thôn đạt 51,84 triệu đồng/người/năm, các xã đều đạt trên 51 triệu đồng/người/năm
Trang 13Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số
10 về Thu nhập
e) Về hộ nghèo
Huyện luôn thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, huy động tối đa các nguồn lực, nhất là nguồn xã hội hóa để giúp đỡ, hỗ trợ các hộ nghèo, cận nghèo xây dựng nhà ở, phát triển sinh kế, giải quyết việc làm; thực hiện tốt chính sách
ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội Công tác an sinh xã hội của huyện luôn được đảm bảo, các chính sách và giải pháp giảm nghèo được các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở quan tâm, triển khai đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực như: hỗ trợ về nhà ở; hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách vay vốn lãi suất ưu đãi, đào tạo nghề, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, phát triển kinh tế vùng khó khăn, xuất khẩu lao động, phát triển ngành nghề góp phần quan trọng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Hàng năm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện luôn giảm, năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện chiếm tới 11,69% (theo tiêu chí cũ); đến cuối năm 2020 tỷ lệ
hộ nghèo là 526/45.384 hộ, chiếm 1,16% (theo tiêu chí đa chiều); ước hết năm
2021 giảm xuống còn 0,62%
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 11
về Hộ nghèo
2.2.4 Về phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường
a) Về giáo dục và đào tạo
Huyện đã có nhiều giải pháp nhằm phát triển giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học, bậc học Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên; thực hiện luân chuyển cán bộ quản lý, điều chuyển giáo viên đảm bảo cân đối cơ cấu của các trường để thực hiện tốt nhiệm vụ Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học, tích cực đổi mới nội dung, phương pháp dạy học; chú trọng công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo
Đến nay, toàn huyện có 100% số xã đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục, xóa mù chữ; duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ em 5 tuổi; đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục THCS mức độ 3 và xóa mù chữ mức độ 2 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục theo học các loại hình THPT, bổ túc THPT, trung cấp, học nghề năm 2020 đạt 94,1% (ước năm 2021 đạt tỷ lệ 95%); đến hết năm 2020, số người trong độ tuổi lao động có việc làm qua đào tạo đạt đạt tỷ lệ 51,22% (ước năm 2021 đạt tỷ lệ 52,3%)
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 14
về Giáo dục và Đào tạo
Trang 14b) Về y tế
- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế:
Huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, củng cố mạng lưới y tế cơ sở đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Toàn huyện có 27 trạm y tế, từ năm
2011 đến nay đã xây dựng mới 07 trạm y tế xã; xây dựng thêm phòng và nâng cấp 20 trạm y tế (gồm 19 trạm y tế xã và 01 trạm y tế thị trấn) Cơ sở vật chất được kiên cố hóa đạt chuẩn, đủ các giường, phòng chức năng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn 100% các trạm y tế xã có đầy đủ trang thiết bị cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhân dân
- Về cán bộ y tế:
Cán bộ các trạm y tế thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, y đức; hiện tại trên địa bàn huyện có 23/27 trạm y tế có bác sĩ làm công tác khám chữa bệnh thường xuyên tại trạm và 04 trạm y tế xã, thị trấn có bác sĩ làm việc luân phiên 02 buổi/tuần; có các y sỹ, nữ hộ sinh trình
độ cao đẳng, trung cấp; điều dưỡng, dược sỹ cao đẳng, trung cấp đảm bảo quy định của Bộ Y tế Các xã đều tích cực triển khai Bộ tiêu chí quốc gia về Y tế giai đoạn 2011-2020, đến nay có 27/27 xã, thị trấn được UBND tỉnh công nhận đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020
- Các chỉ số cơ bản đánh giá xã đạt chuẩn quốc gia về y tế trong tiêu chí Nông thôn mới:
Các xã đã tích cực tổ chức triển khai thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về Y
tế xã giai đoạn đến năm 2020 Đến nay, đã có 26/26 xã (100%) đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến 2020
+ Năm 2011 tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế toàn huyện mới đạt 48,4% Công tác tuyên tuyền, vận động người dân tham gia Bảo hiểm y tế ngày càng được chú trọng, quan tâm đẩy mạnh Đến hết năm 2020 tỉ lệ đạt 90,4%;
năm 2021 là 89,4% (do một số xã không còn được hỗ chợ chính sách cho xã ĐBKK nên giảm tỷ lệ)
+ Từ năm 2011 đến nay, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi giảm dần theo các năm Năm 2011 là 16,3%, đến năm 2020 là 13,4%; ước năm 2021 đạt 13,2% Chương trình quốc gia về dinh dưỡng đã được các ban, ngành, đoàn thể của huyện phối hợp chặt chẽ với ngành y tế tuyên truyền sâu rộng tới các cơ sở, phụ nữ mang thai và cho con bú để thay đổi nhận thức, hành vi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 15
về Y tế
c) Về Văn hóa
Trang 15Trong những năm qua Huyện ủy, UBND huyện đã tập trung chỉ đạo xây dựng môi trường văn hóa nông thôn mới an toàn, lành mạnh, con người Nho Quan văn hóa - văn minh, thân thiện, mến khách thông qua việc tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, nhân cách và nếp sống văn hóa mới cho các tầng lớp nhân dân và đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và người lao động; kiên quyết đấu tranh chống các hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, thiếu trách nhiệm, chống suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể Toàn huyện hiện có 317 di tích trong danh mục kiểm kê, trong đó có 61 di tích đã được xếp hạng (11 di tích cấp quốc gia và 50 di tích cấp tỉnh); 03 di tích đang hoàn thiện hồ sơ trình UBND tỉnh xếp hạng di tích cấp tỉnh; trung bình mỗi năm có từ 2-3 di tích được xếp hạng
Huyện đã thành lập được 07 CLB văn hóa, văn nghệ dân tộc Mường; 274
tổ, đội, nhóm văn hóa, văn nghệ tại các thôn, xóm, bản duy trì hoạt động thường xuyên, hiệu quả Huyện thường xuyên phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình Ninh Bình làm các phóng sự, chuyên đề về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường Các lễ hội truyền thống được duy trì tổ chức hằng năm, thu hút đông đảo đồng bào tham gia
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng trên địa bàn huyện diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo người dân tham gia; đến hết năm 2020, toàn huyện số người tập thể dục thường xuyên chiếm 30,5%, số gia đình thể thao chiếm 25%,
số Câu lạc bộ thể thao toàn huyện là 223 CLB hoạt động thường xuyên đáp ứng nhu cầu về tập luyện thể thao của người dân
Phong trào thi đua xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa, thôn (xóm, bản) văn hóa, khu dân cư nông thôn mới kiểm mẫu, gia đình văn hóa được các cấp, các ngành và Nhân dân quan tâm hưởng ứng, chất lượng phong trào ngày càng được nâng lên Năm 2011, toàn huyện có 171/274 thôn, xóm, bản được công nhận danh hiệu văn hóa, đạt tỷ lệ 62,4%; 33.733 hộ gia đình đạt gia đình văn hóa; 124
cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa Đến năm 2020, có 251/274 thôn, xóm, bản được công nhận danh hiệu văn hóa, đạt 91,6%; 38.552 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa, đạt 84,9%; 129 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; 26/26 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới theo quy định
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 16
về Văn hóa
d) Về môi trường và an toàn thực phẩm
- Về chỉ tiêu tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định: huyện Nho Quan có 15 công trình cấp nước tập trung đang hoạt động, cung cấp nước sạch cho 26 xã Tính đến hết năm 2021, tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh tại các xã đạt 98,55%; tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch
là 69,62% (trong đó: có 16.270 hộ dân sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung đạt 37,77%; có 13.718 hộ dân sử dụng nguồn nước nhỏ lẻ quy mô
hộ gia đình đạt quy chuẩn đạt 31,85%)
Trang 16- Về bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề: trên địa bàn huyện có 2.553 cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ; 527 cơ sở nuôi trồng thủy sản của các hộ gia đình; 03 làng nghề được UBND tỉnh công nhận (trong đó 02 làng nghề đang hoạt động, 01 làng nghề nhiều năm không hoạt động) Đến nay, các cơ sở thuộc đối tượng lập hồ sơ, thủ tục về môi trường đã có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường được cấp có thẩm quyền phê duyệt/xác nhận, các cơ sở không thuộc đối tượng đã thực hiện thu gom, xử lý, phân loại chất thải theo quy định, thực hiện các giải pháp bảo vệ bảo vệ môi trường, không gây ô nhiễm môi trường, không có đơn thư, khiếu nại về môi trường 100% cơ sở sản xuất - kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo các quy định về bảo vệ môi trường, do đó không có cơ sở nào bị xử phạt trong lĩnh vực môi trường
- Về xây dựng cảnh quan, môi trường xanh-sach-đẹp, an toàn: Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, ngày 20/7/2020 UBND huyện có Văn bản số 1085/UBND-VPĐP phát động đợt cao điểm ra quân trồng cây xanh, hoa ven đường giao thông Đến nay, toàn huyện đã trồng được 250 km đường cây xanh, hoa trên 231 tuyến đường giao thông nông thôn; phong trào tổng vệ sinh môi trường khu dân cư, đường làng, ngõ xóm, khu công cộng được phát động thường xuyên và được nhân dân hưởng ứng tích cực; 100% số xã đạt tiêu chí đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh - sạch - đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường, diện mạo nông thôn ngày thêm sạch sẽ, văn minh
- Về mai táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch: 26/26 xã có khu nghĩa trang nhân dân tập trung được quản lý chặt chẽ và sử dụng an toàn 100% các nghĩa trang xây mới được thực hiện theo quy hoạch đảm bảo các yêu cầu tiêu chí về bảo vệ môi trường Việc mai táng được thực hiện theo quy chế quản lý nghĩa trang của UBND xã, phù hợp với phong tục tập quán của địa phương
- Về thu gom và xử lý chất thải rắn, nước thải sinh hoạt: 100% các xã đều
có đề án thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt được phê duyệt Các thôn, bản đều đã thành lập tổ thu gom rác với 109 người hoạt động thường xuyên
để thu gom rác từ hộ gia đình ra các vị trí tập kết để chở đi xử lý theo quy định Rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn các xã, thị trấn được thu gom với tần suất
2 - 4 lần/tuần; riêng đối với các thôn, bản ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn được thu gom với tần suất 01 lần/tuần Đến nay, toàn bộ rác thải sinh hoạt của 27/27 xã, thị trấn được Trung tâm Vệ sinh môi trường đô thị huyện (tổ chức vận chuyển rác thải cho 17 xã, thị trấn) và Công ty TNHH môi trường xanh Hưng Hoàng (tổ chức vận chuyển rác thải cho 10 xã) vận chuyển đến khu xử lý chất thải rắn của tỉnh tại xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp để xử lý Các tổ thu gom rác thải được trang bị 302 phương tiện thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt và
04 xe chuyên dụng để vận chuyển rác thải (02 xe của Trung tâm Vệ sinh môi trường đô thị huyện, 02 xe của Công ty TNHH môi trường xanh Hưng Hoàng) để vận chuyển rác thải sinh hoạt và thực hiện thu gom rác thải
Trang 17Hệ thống tiêu, thoát nước trong các khu dân cư được nhân dân đầu tư dọc theo các tuyến đường Nước thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh được thu gom
xử lý theo quy định đảm bảo an toàn cho môi trường trước khi thoát ra hệ thống tiêu thoát nước chung
- Về tỷ lệ hộ dân có nhà tiêu, nhà tắm, bể nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch: Toàn huyện có 43.115 hộ (đạt 95%) hộ gia đình có nhà tiêu,
nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo có đủ 3 công trình hợp
vệ sinh môi trường, trong đó: có 44.022 hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh (đạt 97%);
có 44.476 hộ có nhà tắm hợp vệ sinh (đạt 98%), có 44.930 hộ bể chứa nước hợp
vệ sinh (đạt 99%) Hầu hết các hộ dân trong huyện cơ bản thực hiện tốt cuộc vận
động “5 không, 3 sạch” do Hội phụ nữ tỉnh Ninh Bình phát động
- Về hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường :
Trên địa bàn huyện có 22 cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm và 6.186 hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ trong đó: Có 07 trang trại chăn nuôi tập trung có báo cáo đánh giá tác động môi trường được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Các cơ
sở đã có nhân viên kỹ thuật chuyên ngành về thú y và xây dựng các công trình
xử lý chất thải để xử lý chất thải rắn, chất thải lỏng phát sinh trong quá trình chăn nuôi theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Nghị định số 66/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ Có 15 trang trại đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường và được UBND huyện Nho Quan xác nhận và 253 cơ sở chăn nuôi quy
mô hộ gia đình đã đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường và được UBND các xã xác nhận Các cơ sở, trang trại, hộ gia đình chăn nuôi đã thực hiện các biện pháp
xử lý chất thải như xử lý bằng bể biogas, đệm lót sinh học đảm bảo vệ sinh, môi trường và đảm bảo các điều kiện vệ sinh thú y trong chăn nuôi Đến nay, có
5.969/6.186 hộ (đạt 96,5%) hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ
sinh môi trường
- Về hộ gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm tuân thủ quy định
về đảm bảo an toàn thực phẩm: Trên địa bàn huyện có 584/584 hộ gia đình và cơ
sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thực hiện đúng quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm đạt tỷ lệ 100% Các đơn vị chức năng đã phối hợp tổ chức các lớp tập huấn, cấp giấy chứng nhận kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh thú y cho các đối tượng kinh doanh, buôn bán, chế biến nông, thủy sản và giết mổ gia súc, gia cầm, đồng thời rà soát, đánh giá, hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh thú y, an toàn vệ sinh thực phẩm
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 17
về Môi trường và An toàn thực phẩm
2.2.5 Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị-xã hội vững mạnh và giữ gìn an ninh, trật tự xã hội
a) Về xây dựng hệ thống chính trị-xã hội vững mạnh
- Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ ở cơ sở được tổ chức tốt và đạt chuẩn theo quy định Đội ngũ cán bộ cơ sở cơ bản có đủ năng lực, trách nhiệm và nhiệt
Trang 18tình trong chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và các nhiệm
vụ phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương
- Đến nay, 100% cán bộ, công chức xã đạt chuẩn theo quy định; 26/26 xã
có đủ các tổ chức theo quy định; 100% Đảng bộ xã đạt danh hiệu từ “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, “hoàn thành tốt nhiệm vụ” và “Hoàn thành nhiệm vụ” trở lên;
có 10/27 chính quyền xã, thị trấn đạt danh hiệu “Chính quyền cơ sở vững mạnh” đạt 37,1%, 17/27 chính quyền đạt danh hiệu Chính quyền khá đạt 62,9%; 100% tổ chức đoàn thể chính trị của xã đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
- Về tiếp cận pháp luật: 100% số xã được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ; công tác bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình được quan tâm, chỉ đạo tích cực
- Công tác bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình tại các xã trên địa bàn huyện Nho Quan được quan tâm thực hiện hiệu quả, 26/26 xã có tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt trên 30%, trong đó có 03 Bí thư Đảng ủy và 01 Chủ tịch UBND xã là nữ; 26/26 xã có phụ nữ thuộc hộ nghèo, phụ nữ khuyết tật được tạo điều kiện vay vốn ưu đãi từ các chương trình; trong nhiều năm liền huyện không
có trường hợp tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, bạo lực gia đình
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 19 về
kế hoạch về công tác dân quân tự vệ, giáo dục chính trị - pháp luật, tổ chức huấn luyện cho lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) Huyện Nho Quan đã tập trung xây dựng lực lượng Dân quân vững mạnh, rộng khắp với phương châm “Vững mạnh rộng khắp” đủ về số lượng, có cơ cấu thành phần hợp lý, lực lượng dân quân tự
vệ luôn đảm bảo chất lượng huấn luyện, hoạt động theo đúng Luật Dân quân tự
vệ và Thông tư số 77/2020/TT-BQP của Bộ Quốc phòng
+ Ban Chỉ huy quân sự và Dân quân các xã được xây dựng trong sạch, vững mạnh, đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng, hoàn thành tốt công tác tuyển quân, gọi công dân nhập ngũ, hoàn thành 100% chỉ tiêu, bảo đảm chất lượng, công khai, công bằng, đúng luật, không để xảy ra khiếu kiện; vũ khí trang
bị được quản lý sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng đúng quy định, đảm bảo tuyệt đối
an toàn Các xã đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu về quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc Hàng năm, các xã đều tổ chức thực hiện diễn tập phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, chiến đấu phòng thủ cấp xã theo đúng quy định
Trang 19- Về An ninh trật tự xã hội nông thôn
+ Tình hình an ninh trật tự tại các xã trên địa bàn huyện luôn được giữ vững ổn định Công tác quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn luôn được cấp ủy đảng, chính quyền các xã quan tâm chỉ đạo tích cực, hiệu quả, tạo môi trường an toàn để phát triển kinh tế - xã hội Triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 14/10/2006 của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới, gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới ở địa phương, cơ sở
- Hàng năm có 100% số xã đạt loại Khá trở lên trong phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ Tình hình vi phạm pháp luật hàng năm đều được kiềm chế và giảm, xây dựng xã đạt tiêu chuẩn an toàn về ANTT, không còn xã thuộc xã trọng điểm, phức tạp về ANTT Lực lượng Công an xã được củng cố, kiện toàn, đầu năm 2020 huyện Nho Quan đã hoàn thành việc bố trí Công an chính quy tại các xã, thị trấn Sau khi được triển khai, lực lượng Công an chính quy đã kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ban hành và triển khai nhiều kế hoạch, biện pháp nghiệp vụ nhằm đảm bảo tình hình ANTT tại địa bàn Do đó tình hình ANTT
có những chuyển biến tích cực, rõ nét; tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật giảm
rõ rệt, được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao.
Đánh giá chung: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí số 19
về Quốc phòng và an ninh
2.6 Ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân
Quá trình xét công nhận các xã đạt chuẩn NTM, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện đã tổ chức lấy ý kiến hài lòng của người dân ở các xã kết quả đều đạt trên 90% trở lên
3 Về kết quả thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới
3.1 Tiêu chí số 1 về Quy hoạch
a) Yêu cầu của tiêu chí:
Có quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện được phê duyệt (Đạt)
b) Kết quả thực hiện tiêu chí:
Quy hoạch xây dựng vùng huyện Nho Quan được UBND tỉnh Ninh Bình đồng ý chủ trương giao UBND huyện Nho Quan tổ chức lập tại Văn bản số 646/UBND-VP4 ngày 17/9/2020 về việc lập quy hoạch vùng huyện Nho Quan Đến ngày 10/5/2021, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 482/QĐ-UBND về việc phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch vùng huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 Ngày 29/11/2021, UBND huyện Nho Quan
có Tờ trình số 359/TTr-UBND về việc thẩm định đồ án Quy hoạch xây dựng vùng huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 gửi Sở Xây dựng thẩm định Nội dung đồ án quy hoạch thực lập đảm bảo các yêu cầu theo quy định của Luật Xây dựng và Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày
Trang 2006/5/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng Thành phần hồ sơ đồ án quy hoạch xây dựng vùng huyện Nho Quan đảm bảo theo quy định tại Thông tư số 12/2016/TT-BXD ngày 29/6/2016 của Bộ Xây dựng Quy định về hồ sơ của nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị và quy hoạch khu chức năng đặc thù Các quy hoạch tổng thể
và quy hoạch chi tiết theo ngành của huyện phù hợp với qui hoạch chung của tỉnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện, gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường bền vững
Ngày 05/01/2022, Sở Xây dựng đã có Văn bản số 23/SXD-QHKT đề nghị UBND huyện Nho Quan hoàn chỉnh hồ sơ đồ án quy hoạch Đến thời điểm hiện tại, UBND huyện Nho Quan đã hoàn chỉnh hồ sơ quy hoạch, gửi Sở Xây dựng thẩm định Căn cứ vào tiến độ và trình tự lập quy hoạch xây dựng vùng huyện,
dự kiến trong quý I/2022, Sở Xây dựng sẽ thẩm định và đề nghị UBND tỉnh phê duyệt theo quy định hiện hành
c) Đánh giá tiêu chí số 1 về Quy hoạch: Đạt
3.2 Tiêu chí số 2 về Giao thông
a) Yêu cầu của tiêu chí:
- Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đảm bảo kết nối tới các xã (Đạt)
- Tỷ lệ km đường huyện đạt chuẩn theo quy hoạch (100%)
b) Kết quả thực hiện tiêu chí:
* Đường bộ:
Trên địa bàn huyện Nho Quan có 11 tuyến đường giao thông do huyện quản lý với tổng chiều dài 62,368 km, đến nay 100% các tuyến đường huyện được bê tông hóa, nhựa hóa đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm và kết nối với trung tâm hành chính các xã, thị trấn trên địa bàn; kết nối với mạng lưới giao thông của tỉnh Trong đó: có 01 tuyến với chiều dài 5,13 km đạt tiêu chuẩn cấp IV đồng bằng; 01 tuyến dài 26,43 km đạt tiêu chuẩn đường cấp V đồng bằng; 05 tuyến dài 24,83 km đạt tiêu chuẩn đường cấp VI đồng bằng; 01 tuyến dài 5,978
km đạt tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi đáp ứng theo tiêu chuẩn TCVN 4054:2005 và phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Nho Quan đến năm 2020, định hướng đến năm 2025
- Hệ thống cầu, cống trên các tuyến đường huyện được xây dựng đảm bảo tiêu chuẩn thiết kế và phù hợp cùng với cấp kỹ thuật của đường khai thác
- 100% các tuyến đường huyện thường xuyên được quản lý, duy tu, bảo trì hàng năm bằng nguồn phân bổ từ ngân sách huyện và có đầy đủ biển báo giao thông theo quy định
* Đường thủy: