1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SỬ DỤNG MÔ HÌNH THÁI ĐỘ ĐA THUỘC TÍNH TRONG KINH DOANH BÁN LẺ USING THE MULTIATTRIBUTE ATTITUDE MODEL IN RETAILING ThS. Lê Đức Tiến Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵn

6 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng mô hình thái độ đa thuộc tính trong kinh doanh bán lẻ
Tác giả ThS. Lê Đức Tiến
Trường học Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Bài tham luận
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 182,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình này được thiết kế nhằm dự báo đánh giá của người tiêu dùng về một sản phẩm, một nhà bán lẻ hoặc một kênh bán hàng dựa trên cơ sở của 1 hiệu năng của nó trên những thuộc tính tươn

Trang 1

SỬ DỤNG MÔ HÌNH THÁI ĐỘ ĐA THUỘC TÍNH TRONG KINH DOANH

BÁN LẺ

USING THE MULTIATTRIBUTE ATTITUDE MODEL IN RETAILING

ThS Lê Đức Tiến

Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng

TÓM T Ắ T

Mô hình thái độ đ a thu ộ c tính là m ộ t cách đ ánh giá các thu ộ c tính c ủ a nhà bán l ẻ d ướ i góc nhìn c ủ a ng ườ i tiêu dùng đượ c c ấ u thành b ở i hai ch ỉ s ố ch ủ y ế u: (1) ni ề m tin hi ệ u su ấ t v ề các l ợ i ích mà nhà bán l ẻ cung c ấ p

và (2) h ệ s ố quan tr ọ ng c ủ a t ừ ng y ế u t ố l ợ i ích đố i v ớ i ng ườ i tiêu dùng Mô hình này đượ c s ử d ụ ng trong ho ạ t

độ ng kinh doanh bán l ẻ nh ằ m tìm ra các y ế u t ố tác độ ng đế n các l ự a ch ọ n c ủ a ng ườ i tiêu dùng, trên c ơ s ở đ ó nhà bán l ẻ có nh ữ ng gi ả i pháp marketing bán l ẻ phù h ợ p nh ằ m t ă ng c ơ h ộ i đượ c l ự a ch ọ n b ở i ng ườ i tiêu dùng

T ừ khoá: Mô hình thái độ đ a thu ộ c tính; ni ề m tin hi ệ u su ấ t; h ệ s ố quan tr ọ ng; kinh doanh bán l ẻ ; hành vi

ng ườ i tiêu dùng; mô hình c ủ a Fishbein

ABSTRACT

The multiattribute attitude model is used to evaluate retailers' characteristics or attributes under a consumer's perspective which contains two major factors: (1) the beliefs about performance on relevant attributes and (2) the importance weights of those attributes to the customers This model is often used in retailing to find out the benefits that influence customers’ decisions and in proposing retail mix strategies to win customers’ choice

Keywords: Multiattribute attitude model; performance belief; importance weights; retailing; consumer behaviour; Fishbein's model

1 Đặt vấn đề

Người tiêu dùng vốn là đối tượng của mọi

nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp

marketing phù hợp Việc nghiên cứu người tiêu

dùng đã được triển khai qua nhiều mô hình và

phương thức, cũng như có đã rất nhiều trường

phái lý thuyết đề xuất để lý giải về người tiêu

dùng như lý thuyết nhận thức hoặc lý thuyết

hành vi (Pickton and Broderick 2001, được dẫn

trong Egan 2007) Một số lý thuyết hành vi phổ

biến đã coi người tiêu dùng như là "hộp đen"

với nhận định rằng những gì diễn ra trong tâm

trí của họ là vô cùng phức tạp và không thể dự

báo được Tuy nhiên, tìm hiểu một cách cụ thể

và rõ ràng về nhận thức và hành vi của người

tiêu dùng vẫn mang tính quyết định đối với

việc xây dựng và thiết kế bất kỳ phối thức

marketing nào trong kinh doanh bán lẻ Mô

hình thái độ đa thuộc tính dựa trên công thức

được Fishbein phát triển từ năm 1963 cung cấp

một cách thức hữu hiệu để đánh giá việc người

tiêu dùng sử dụng thông tin họ thu thập được

để đánh giá và lựa chọn nhà bán lẻ, kênh mua hàng và sản phẩm như thế nào (Bettman, Capon, & Lutz, 1975; Levy & Weitz, 2012) Nắm bắt thấu đáo và cụ thể các yếu tố của mô hình này giúp cho nhà quản trị bán lẻ sở hữu một mô thức cho việc phát triển chiến lược bán

lẻ một cách khoa học và hiệu quả

2 Giới thiệu về mô hình thái độ đa thuộc tính của người tiêu dùng

Mô hình thái độ đa thuộc dựa trên quan điểm rằng người tiêu dùng nhìn nhận một nhà bán lẻ, một sản phẩm hoặc một kênh bán hàng như tập hợp các thuộc tính hoặc đặc tính Mô hình này được thiết kế nhằm dự báo đánh giá của người tiêu dùng về một sản phẩm, một nhà bán lẻ hoặc một kênh bán hàng dựa trên cơ sở của (1) hiệu năng của nó trên những thuộc tính

tương quan, được gọi là niềm tin hiệu suất và

(2) tầm quan trọng của những thuộc tính này

Trang 2

đối với người tiêu dùng, được gọi là hệ số quan

trọng

2.1 Niềm tin hiệu suất

Để hiểu mô hình này, hãy hình dung quyết

định lựa chọn cửa hàng của một nữ nhân viên

văn phòng còn trẻ chưa có gia đình đang tìm

kiếm việc mua hàng tạp hóa Cô cân nhắc 3 lựa chọn: (1) một siêu thị lớn nằm ở ngoại thành, (2) một cửa hàng tạp hóa nằm ở khu vực cô sinh sống, hoặc (3) một trang web bán hàng trực tuyến Nhận thức của cô về những nhà bán

lẻ này được thể hiện trong bảng 1 dưới đây:

Bảng 1 Niềm tin hiệu suất của khách hàng về các cửa hàng bán lẻ hàng tạp hóa

*10 = Rất tốt; 1 = Rất kém

Người tiêu dùng tự đánh giá những thông

tin khách quan về mỗi nhà bán lẻ trong phần A

của bảng 1 và tạo nên một ấn tượng về các lợi

ích mà mỗi nhà bán lẻ mang lại Phần B của

bảng 1 chỉ ra niềm tin của cô ta về các lợi ích

này và thông số này sẽ được gọi là niềm tin

hiệu suất của cửa hàng Chú ý rằng một số lợi

ích kết hợp với những thuộc tính khách quan

Ví dụ, lợi ích thuận tiện thể hiện qua thời gian

mua sắm ít và việc thanh toán nhanh cũng như

sự dễ dàng trong tìm kiếm sản phẩm Giá cả

các mặt hàng và chi phí giao hàng ảnh hưởng

đến niềm tin của khách hàng nữ này về hiệu

quả kinh tế của việc mua sắm tại nhiều địa

điểm bán lẻ khác nhau

Mức độ đánh giá lợi ích mà mỗi nhà bán lẻ

mang lại được đánh giá trên một thang điểm

10, trong đó điểm 10 nghĩa là nhà bán lẻ thực hiện rất tốt công việc cung cấp các lợi ích và điểm 1 là ngược lại Trong ví dụ này, không có nhà bán lẻ nào chiếm ưu thế về hiệu năng cho tất cả lợi ích Siêu thị nhận điểm cao về yếu tố phổ hàng nhưng thấp về tính tiện lợi Cửa hàng tạp hóa chiếm ưu thế về giá nhưng sự phong phú về hàng hóa là điểm yếu Trang web trực tuyến mang đến sự tiện lợi cao nhất nhưng nó lại bất lợi về tính kinh tế đối với người tiêu dùng

2.2 Hệ số quan trọng

Nữ nhân viên văn phòng trong ví dụ trên

đã đánh giá tổng quan về mỗi lựa chọn trên cơ

sở tầm quan trọng của các lợi ích mà mỗi nhà bán lẻ cung cấp Tầm quan trọng đối với mỗi lợi ích có thể được đánh giá bằng thang điểm

Trang 3

10, với điểm 10 chỉ ra rằng lợi ích này rất quan

trọng đối với cô và điểm 1 chỉ ra lợi ích này rất

kém quan trọng Sử dụng thang đánh giá này,

tầm quan trọng của các lợi ích mà các nhà bán

lẻ mang lại đối với cô gái trẻ và đối với một

cặp vợ chồng có 4 đứa con được chỉ ra trong

bảng 2 (ở dưới), cùng với việc thảo luận về

niềm tin hiệu suất của từng lợi ích Chú ý rằng

cô gái trẻ độc thân sẽ đánh giá sự tiện lợi và sự

sẵn sàng của sản phẩm cao hơn so với tính kinh

tế và phổ hàng phong phú Nhưng đối với cặp

vợ chồng nhiều con thì tính kinh tế rất quan

trọng, trong khi đó sự tiện lợi và thông tin về

sản phẩm không cần thiết mấy

Hệ số quan trọng của các lợi ích mà các

nhà bán lẻ cung cấp là khác nhau đối với từng

đối tượng người tiêu dùng và còn có thể khác

nhau đối với mỗi lần mua sắm Ví dụ như cặp

vợ chồng với 4 đứa con có thể nhấn mạnh tính

kinh tế của những chuyến mua sắm thường

xuyên, định kỳ nhưng họ sẽ lại quan tâm đến

tính tiện lợi khi đi mua hàng bất thường, đột

xuất

Trong bảng 2, cô gái trẻ độc thân và cặp vợ

chồng có cùng các yếu tố niềm tin về hiệu suất

của mỗi nhà bán lẻ, nhưng họ có sự khác nhau

về tầm quan trọng đối với mỗi lợi ích mà nhà bán lẻ mang đến Nhưng nói chung là người tiêu dùng có thể khác nhau về các yếu tố niềm tin của họ về hiệu suất của nhà bán lẻ cũng như

tầm quan trọng của nó

Kết quả của các nghiên cứu về khách hàng

đã chỉ ra rằng sự đánh giá chung của khách hàng về một lựa chọn (trong tình huống này là

về 3 nhà bán lẻ) có liên quan đến tổng điểm niềm tin hiệu suất nhân với hệ số quan trọng của nhân tố lợi ích tương ứng Vì thế, có thể tính toán mức đánh giá tổng quan của nữ nhân viên trẻ độc thân hay là mức điểm cụ thể cho từng điểm bán lẻ (trường hợp này là mức điểm

của siêu thị) như sau:

4 x 8 = 32

10 x 4 = 40

5 x 10 = 50

9 x 4 = 36

158

Bảng 2 Đánh giá chung của khách hàng về các cửa hàng bán lẻ hàng tạp hóa

*10 = Rất quan trọng; 1 = Rất ít quan trọng

Bảng 2 chỉ ra các mức điểm đánh giá

chung đối với 3 nhà bán lẻ (siêu thị, cửa hàng

tạp hóa, trang web trực tuyến) của 2 đối tượng

khách hàng: nữ nhân viên văn phòng và cặp vợ

chồng nhiều con Đối với cô gái trẻ độc thân,

trang web bán lẻ trực tuyến có số điểm cao

nhất là 236, và vì thế đây là sự đánh giá tốt

nhất Cô sẽ lựa chọn nhà bán lẻ này cho hầu hết các hoạt động mua sắm tạp phẩm của mình Trong khi đó thì cửa hàng tạp hóa lại có tổng điểm cao nhất đối với cặp vợ chồng (192) và vì thế họ sẽ mua sắm hàng tạp phẩm cho gia đình

mình ở đó hàng tuần

Trang 4

Khi khách hàng chọn lựa một nhà bán lẻ,

họ thực ra không nhất thiết phải trải qua một

quá trình liệt kê các đặc tính lợi ích của cửa

hàng, đánh giá hiệu suất của nhà bán lẻ dựa

trên các đặc tính này, xác định tầm quan trọng

của từng thuộc tính, tính toán tổng điểm của

từng cửa hàng, và rồi sau đó viếng thăm cửa

hàng có số điểm cao nhất Mô hình thái độ đa

thuộc tính này không phản ảnh quy trình ra

quyết định thực tế của khách hàng nhưng nó

được sử dụng để dự báo sự đánh giá của họ về

các phương án khác nhau và lựa chọn cuối

cùng của chính họ Ngoài ra, mô hình này còn

cung cấp thông tin hữu ích cho việc thiết kế

các cung ứng của nhà bán lẻ Ví dụ, nếu siêu

thị gia tăng mức đánh giá hiệu suất về tính kinh

tế (có thể bằng việc tăng cường các đợt giảm

giá, khuyến mại hoặc hỗ trợ tín dụng khách

hàng, ), thì lúc này tổng điểm của siêu thị sẽ

là 194 hoặc là 204 (tương ứng với mức điểm

của chỉ tiêu hiệu suất kinh tế là 9 hoặc 10) và

chắc chắn các khách hàng như cặp vợ chồng sẽ

chuyển sang mua sắm ở siêu thị nhiều hơn

3 Ý nghĩa ứng dụng của mô hình

Trong phần này, mục đích là làm thế nào

một nhà bán lẻ có thể sử dụng các kết quả của

mô hình thái độ đa thuộc tính để đưa ra các

quyết định khích lệ khách hàng đến mua sắm

tại cửa hàng nhiều hơn Trước hết, mô hình chỉ

ra những thông tin mà khách hàng sử dụng để

quyết định nhà bán lẻ nào được viếng thăm và

kênh mua hàng nào được sử dụng Thứ hai, nó

chỉ ra chiến thuật mà nhà bán lẻ có thể thực thi

để tạo ảnh hưởng đến các lựa chọn của người

tiêu dùng về cửa hàng, kênh mua sắm, và mặt

hàng mua

Để phát triển một chương trình nhằm thu

hút khách hàng dựa trên mô hình đánh giá đa

thuộc tính này, nhà bán lẻ cần nghiên cứu về

thị trường và người tiêu dùng để xác định và

thu thập được những thông tin sau:

a Các nhà bán lẻ mà khách hàng đang cân

nhắc

b Đặc tính hoặc lợi ích mà khách hàng có

thể cân nhắc khi đánh giá và lựa chọn một nhà

bán lẻ

c Đánh giá của khách hàng về hiệu năng của mỗi nhà bán lẻ trên các thuộc tính lợi ích

(niềm tin hiệu suất)

d Mức độ quan trọng mà khách hàng gán

cho các thuộc tính (hệ số quan trọng)

Với những thông tin này, nhà bán lẻ có thể

sử dụng để xây dựng mô hình đánh giá đa thuộc tính như đã trình bày ở trên và từ đó phát triển nhiều cách tiếp cận để ảnh hưởng đến khách hàng mua sắm tại cửa hàng của họ hay trên trang web

3.1 Lọt vào danh sách lựa chọn cuối cùng của người tiêu dùng

Nhà bán lẻ cần phải được lọt vào danh sách lựa chọn cuối cùng của người tiêu dùng, là danh sách các nhà bán lẻ mà người tiêu dùng đánh giá trước khi quyết định lựa chọn để đến viếng thăm, mua sắm Để được lọt vào danh sách này, nhà bán lẻ cần phát triển các chương trình để gia tăng khả năng nhận thức và tạo ấn tượng mạnh mẽ đối với khách hàng để được họ nhớ đến khi họ sắp sửa đi mua sắm Các chương trình này có thể được phát triển thông qua các quyết định về truyền thông và địa điểm Ví dụ, nhà bán lẻ có thể tìm cách để được nằm lên hàng đầu trang web khi người tiêu dùng sử dụng bộ máy tìm kiếm (SEO - Search Engine Optimization) Họ cũng có thể tiến hành triển khai các chương trình quảng cáo

và sự kiện truyền thông thương hiệu trên diện rộng nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng Nhà bán lẻ cũng có thể tận dụng lợi thế về địa điểm để quảng bá một cách thường xuyên hình ảnh của mình qua các phương tiện quảng cáo ngoài trời (OOH - Out of Home) Họ cũng có thể sử dụng chính cửa hàng của mình để quảng

bá như cách Starbuck đã đặt nhiều điểm bán tại cùng một khu vực để khách hàng bị bao vây một cách triệt để bởi tên của cửa hiệu khi họ

lưu thông qua khu vực này

Sau khi đảm bảo rằng đã lọt vào danh sách cân nhắc lựa chọn của khách hàng, một nhà bán lẻ có thể sử dụng 4 phương pháp sau để gia tăng cơ hội được khách hàng lựa chọn ghé

thăm:

1 Gia tăng niềm tin về hiệu suất cửa hàng

Trang 5

2 Giảm niềm tin hiệu suất của các cửa hàng

đối thủ có cùng trong danh sách lựa chọn

3 Gia tăng hệ số quan trọng của khách hàng

4 Bổ sung thêm thuộc tính lợi ích mới cho

cửa hàng

3.2 Thay đổi niềm tin hiệu suất

Cách tiếp cận đầu tiên liên quan đến việc

thay đổi niềm tin của khách hàng đến hiệu suất

của nhà bán lẻ bằng việc gia tăng mức điểm

đánh giá nhà bán lẻ trên một thuộc tính lợi ích

Ví dụ, siêu thị trong ví dụ nói trên muốn gia

tăng tổng số điểm của họ bằng việc gia tăng

mức điểm đánh giá trên 3 thuộc tính lợi ích còn

lại (riêng thuộc tính về sự phong phú hàng hóa

thì siêu thị đã đạt mức điểm tối đa là 10) Như

vậy, siêu thị có thể gia tăng mức điểm đánh giá

của nó trên thuộc tính lợi ích về hiệu quả kinh

tế cho khách hàng bằng việc hạ thấp giá bán và

tăng cường khuyến mãi; trên thuộc tính tiện lợi

bằng cách sắp xếp, trưng bày hàng hóa một

cách khoa học nhất, tăng cường các bảng hiệu,

thông tin chỉ dẫn bên trong cửa hàng để khách

hàng tìm kiếm hàng hóa dễ dàng hơn, bổ sung

thêm các quầy thanh toán hoặc thiết bị tự thanh

toán cho khách hàng để giảm thời gian chờ đợi

thanh toán; trên thuộc tính về sự sẵn có của

thông tin sản phẩm bằng cách cung cấp các

brochure cho khách hàng, tổ chức các quầy hỗ

trợ thông tin và chăm sóc khách hàng, trang bị

các màn hình led hiển thị thông tin hoặc các

máy quét tự động tra cứu thông tin về sản

phẩm lắp đặt ở những vị trí dễ thấy trong siêu

thị hoặc phân công các nhân viên bán hàng

được huấn luyện và trang bị đầy đủ kiến thức

về hàng hóa theo dõi, phụ trách các quầy hàng

nhằm sẵn sàng và kịp thời hỗ trợ khách hàng

Bởi vì có thể rất tốn kém nếu nhà bán lẻ

muốn gia tăng hiệu suất trên tất cả các thuộc

tính nên nhà bán lẻ nên tập trung đầu tư vào

những thuộc tính nào quan trọng nhất với

khách hàng mục tiêu của họ Đồng thời, có thể

thấy rằng, một sự thay đổi về niềm tin hiệu suất

của một thuộc tính quan trọng sẽ dẫn đến một

sự thay đổi lớn trong tổng điểm đánh giá chung

của khách hàng Trong ví dụ trên, siêu thị nên

cố gắng gia tăng mức độ tiện lợi nếu nó muốn

thu hút nhiều hơn các phụ nữ trẻ và độc thân là

những người hiện đang mua sắm chủ yếu qua Internet

3.3 Giảm lòng tin hiệu suất của khách hàng đối với cửa hàng đối thủ

Cách tiếp cận khác để thay đổi cách đánh giá là cố gắng tác động nhằm làm giảm lòng tin hiệu suất của khách hàng đối với cửa hàng đối thủ Cách tiếp cận này có thể là vi phạm pháp luật về cạnh tranh và thường là ít hiệu quả bởi việc nói xấu hay xuyên tạc đối thủ thường sẽ mang lại hiệu quả ngược lại và dù sao thì khách hàng cũng thường không tin nhiều vào những bình luận tiêu cực của cửa hàng này đối với cửa hàng khác Một số nhà bán lẻ có thể sử dụng cách thức này bằng việc quảng cáo so sánh hoặc nhấn mạnh vào điểm yếu của đối thủ

về giá, chất lượng sản phẩm hay dịch vụ khách hàng, nhưng thường là bị phản đối Các diễn đàn mạng cũng có thể giúp người tiêu dùng có cái nhìn đầy đủ hơn về các nhà bán lẻ nhưng rõ ràng việc quá tập trung vào điểm yếu của người khác có thể khiến nhà bán lẻ mất tập trung vào việc hoàn thiện chính mình

3.4 Thay đổi hệ số quan trọng

Thay đổi tầm quan trọng của một thuộc tính lợi ích nào đó của nhà bán lẻ đối với khách hàng là một cách tiếp cận khác nhằm ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cửa hàng của khách hàng Một nhà bán lẻ sẽ muốn gia tăng tầm quan trọng của khách hàng đối với một thuộc tính lợi ích mà họ có ưu thế vượt trội cũng như là sẽ muốn giảm tầm quan trọng của khách hàng trên một thuộc tính lợi ích khác mà

họ ít có ưu thế

Ví dụ, nếu trang web trực tuyến trong bảng

2 muốn thu hút cặp vợ chồng nhiều con mua sắm thì nó cần gia tăng mức quan trọng về tính tiện lợi đối với họ Tuy nhiên, để thay đổi hệ số quan trọng sẽ khó hơn rất nhiều so với thay đổi niềm tin hiệu suất, bởi vì hệ số quan trọng phản ảnh giá trị cá nhân của khách hàng Cặp vợ chồng nọ với sự bận bịu về con cái sẽ ít có điều kiện truy cập vào Internet cũng như một khi họ phải chịu áp lực kinh tế lớn lao trong việc duy trì một gia đình đông con thì điều này cũng sẽ khiến cho họ có thể bỏ qua yếu tố tiện lợi để

Trang 6

theo đuổi yếu tố tiết kiệm và hiệu quả trong chi

tiêu, mua sắm

3.5 Bổ sung một thuộc tính lợi ích mới

Cuối cùng, nhà bán lẻ có thể nghiên cứu để

tìm cách bổ sung một thuộc tính lợi ích mới

vào tập hợp những lợi ích mà khách hàng có

thể xem xét khi lựa chọn nhà bán lẻ Ví dụ, một

siêu thị có thể bố trí những khu vực sân chơi

miễn phí dành cho cho trẻ em trong khi bố mẹ

đang đi mua sắm, hoặc bán những mặt hàng

thủ công được sản xuất bởi những người tàn

tật, những mặt hàng có chứng nhận sản xuất

thân thiện với môi trường hoặc theo quy tắc

thương mại công bằng để chiếm lấy thiện cảm

từ những khách hàng quan tâm đến từ thiện,

môi trường hoặc an sinh xã hội Việc bổ sung

lợi ích mới thường tỏ ra có hiệu quả bởi nó sẽ

dễ dàng trong việc thay đổi mức đánh giá của

khách hàng đối với lợi ích mới so với lợi ích

4 Kết luận

Mô hình thái độ đa thuộc tính không phải

là một công cụ đươc sử dụng bởi người tiêu

dùng mà được sử dụng bởi chính nhà bán lẻ

Mô hình này cho phép nhà bán lẻ hiểu biết tốt hơn về người tiêu dùng, đề xuất các chiến lược

và phối thức marketing tương ứng để thỏa mãn người tiêu dùng và dành phần thắng trong việc thu hút họ đến với cửa hàng của mình Mô hình này có thể được phát triển tích hợp trong hệ thống quản trị quan hệ khách hàng để nhà bán

lẻ phát hiện ra các yếu tố quan trọng tác động đến lựa chọn của người tiêu dùng, đồng thời có thể điều chỉnh các tiêu thức hoặc thuộc tính cần thiết của cửa hàng cũng như tác động đến các khía cạnh khác của khách hàng nhằm biến khách hàng trở nên phù hợp với cửa hàng, hoặc biến cửa hàng trở thành lựa chọn tốt nhất đối với khách hàng Ngoài ra, mô hình này cũng có thể sử dụng một cách linh hoạt hơn để mô tả việc khách hàng đánh giá và lựa chọn kênh mua hàng như thế nào (cửa hàng, Internet hoặc

là catalog) hoặc đánh giá những mặt hàng có thể mua từ nhà bán lẻ./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bettman J., Capon N., & Lutz R (1975), Multiattribute Measurement Models and Multiattribute Attitute Theory: A Test of Construct Validity, Journal of Consumer Research, Vol.1

[2] Egan J (2007), Marketing Communications, Thomson Learning

[3] Levy M & Weitz, B (2012), Retailing Management, McGraw-Hill/Irwin

[4] Neger M (2011), Measuring Consumer's Attitute towards Internet Services: A Study on Selected Firms in Bangladesh, ASA University Review, Vol 5 No 1

[5] Tabassum A & Rahman T (2012), Differences in Consumer Attitude towards Selective Fast Food Restaurants in Bangladesh: An Implication of Multiattribute Attitude Model, World Review of Business Research, Vol 2 No 3

Ngày đăng: 01/12/2022, 17:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Để hiểu mơ hình này, hãy hình dung quyết định lựa chọn cửa hàng của một nữ nhân viên  văn  phòng  còn  trẻ  chưa  có  gia đình đang  tìm  - SỬ DỤNG MÔ HÌNH THÁI ĐỘ ĐA THUỘC TÍNH TRONG KINH DOANH BÁN LẺ USING THE MULTIATTRIBUTE ATTITUDE MODEL IN RETAILING ThS. Lê Đức Tiến Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵn
hi ểu mơ hình này, hãy hình dung quyết định lựa chọn cửa hàng của một nữ nhân viên văn phòng còn trẻ chưa có gia đình đang tìm (Trang 2)
Bảng 1. Niềm tin hiệu suất của khách hàng về các cửa hàng bán lẻ hàng tạp hóa - SỬ DỤNG MÔ HÌNH THÁI ĐỘ ĐA THUỘC TÍNH TRONG KINH DOANH BÁN LẺ USING THE MULTIATTRIBUTE ATTITUDE MODEL IN RETAILING ThS. Lê Đức Tiến Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵn
Bảng 1. Niềm tin hiệu suất của khách hàng về các cửa hàng bán lẻ hàng tạp hóa (Trang 2)
Trong bảng 2, cô gái trẻ độc thân và cặp vợ chồng có cùng các yếu tố niềm tin về hiệu suất  của mỗi nhà bán lẻ, nhưng họ có sự khác nhau  - SỬ DỤNG MÔ HÌNH THÁI ĐỘ ĐA THUỘC TÍNH TRONG KINH DOANH BÁN LẺ USING THE MULTIATTRIBUTE ATTITUDE MODEL IN RETAILING ThS. Lê Đức Tiến Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵn
rong bảng 2, cô gái trẻ độc thân và cặp vợ chồng có cùng các yếu tố niềm tin về hiệu suất của mỗi nhà bán lẻ, nhưng họ có sự khác nhau (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w