1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa: Xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

117 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Nếp Sống Văn Minh Trong Việc Tang Trên Địa Bàn Thành Phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Lê Thị Nhài
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Văn Tạo
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch
Chuyên ngành Quản Lý Văn Hóa
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của luận án Xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang của cư dân thành phố Thanh Hóa.

Trang 1

UBND TỈNH THANH HÓA – BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

LÊ THỊ NHÀI

XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC TANG

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA,

TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

THANH HÓA, 2021

Trang 2

UBND TỈNH THANH HÓA – BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

LÊ THỊ NHÀI

XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC TANG

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA,

TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa

Mã số: 8319042

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN TẠO

THANH HÓA, 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ “Xây dựng nếp sống văn minh

trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” là công

trình tổng hợp tư liệu và nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn nhiệt

tình của PGS.TS Lê Văn Tạo

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những ý kiến, nhận định, tư liệu khoa học của các tác giả được ghi chú xuất xứ đầy đủ

Thanh Hóa, ngày 06 tháng 8 năm 2021

Tác giả Luận văn

Lê Thị Nhài

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 9

1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nếp sống văn minh 9

1.1.1 Một số khái niệm, quan niệm, thuật ngữ 9

1.1.2 Vai trò của nếp sống văn minh cơ sở trong đời sống xã hội 16

1.1.3 Vai trò của việc tang lễ trong đời sống xã hội 17

1.1.4 Nội dung xây dựng nếp sống văn minh cơ sở 19

1.1.5 Những nhân tố hình thành nên nếp sống văn minh cơ sở trong đời sống xã hội 23

1.1.6 Các văn bản pháp lý liên quan đến việc thực hiện nếp sống văn minh trong tang lễ 26

1.2 Khái quát về thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 29 1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, và điều kiện kinh tế của thành phố Thanh Hóa29

Trang 5

1.2.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội Thành phố Thanh Hóa 31

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC TANG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 35

2.1 Cơ cấu tổ chức, phân cấp bộ máy quản lý xây dựng nếp sống văn minh trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 35

2.1.1 Các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng nếp sống văn minh 35 2.1.2 Cơ chế phối hợp thực hiện 38

2.2 Công tác thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 40

2.2.1 Những nội dung thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang 40

2.2.2 Thực trạng việc tổ chức tang lễ tại Thành phố Thanh Hóa 41

2.3 Thực trạng xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang của cư dân thành phố Thanh Hóa 49

2.3.1 Công tác tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo về xây dựng nếp sống văn minh 49

2.3.2 Hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang lễ 52

2.3.3.Tổ chức thực hiện các phong trào xây dựng nếp sống văn minh 56

2.3.4 Công tác triển khai xây dựng nếp sống văn minh về việc tang lễ trong cộng đồng, chính quyền, khối phố trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 59

2.3.5 Công tác kiểm tra, giám sát 72

2.4 Đánh giá chung 73

2.4.1 Những kết quả đạt được 73

2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 74

Tiểu kết chương 2 77

Trang 6

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC TANG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH

PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 78

3.1 Phương hướng, mục tiêu xây dựng nếp sống văn minh cơ sở ở thành phố Thanh Hóa 78

3.1.1 Phương hướng 78

3.1.2 Nhiệm vụ xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội 79

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 80

3.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách quản lý 80

3.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức các hoạt động 83

3.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở 89

3.3 Kiến nghị 90

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

MỤC LỤC PHỤ LỤC 100

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

VHTTDL Văn hóa thể thảo du lịch

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp thực hiện việc tang văn minh tiến bộ trên địa bàn

thành phố Thanh Hóa (giai đoạn 2016 -2020) 65

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Phân cấp quản lý xây dựng nếp sống văn minh trên địa bàn

thành phố Thanh Hóa 37Biểu đồ 2.1 Đánh giá sự cần thiết của hoạt động tuyên truyền, nâng cao

nhận thức về xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang lễ 54Biểu đồ 2.2 Hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận

thức của nhân dân trong việc xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang lễ 55

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thành phố Thanh Hóa là một trong 3 đô thị lớn của của vùng Bắc Trung Bộ, nằm cách thủ đô Hà Nội 160km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.562km về phía Nam Với vị trí địa lý nằm trên trục chuyển tiếp, giữa hai vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ với Quốc lộ 1A xuyên Việt chạy qua, có cảng Lễ Môn, Sầm Sơn ở phía Ðông, đường sắt Bắc

- Nam chạy ở phía Tây, tạo thành một mạng lưới giao thông đa dạng và thuận tiện Nhờ đó, thành phố Thanh Hóa đã trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh Thanh Hóa, đồng thời ở vào vị thế thuận lợi trong việc giao thương với tất cả các tỉnh trong nước

Đại hội Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa nhiệm kỳ 2020-2025 đã đề ra

27 chỉ tiêu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường, an ninh trật

tự, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Cùng với đó là 3 chương trình trọng tâm và 2 khâu đột phá, trong đó có chương trình xây dựng đô thị văn minh, công dân thân thiện, trọng tâm là là thực hiện tốt cuộc vận động “Người dân thành phố nói lời hay, làm việc tốt, hành động thân thiện”

Để thực hiện các chỉ tiêu, chương trình trọng tâm và khâu đột phá của nhiệm kỳ 2020 - 2025, Thành phố Thanh Hóa đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, phấn đấu xây dựng thành phố đến năm 2025 trong nhóm đô thị loại I trực thuộc tỉnh hàng đầu cả nước, đến năm 2030 cơ bản trở thành đô thị thông minh, văn minh, hiện đại Với mục tiêu đề ra, từ nhiều năm qua, thành phố Thanh Hóa đã thực hiện cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hóa và đã có những việc làm thiết thực, nhất là trong việc tang lễ

Từ bao đời nay việc tổ chức lễ tang vừa kế thừa truyền thống phong tục, tập quán, mang bản sắc riêng của dân tộc, nhưng cũng được người dân cách tân cho phù hợp với sự phát triển của thời đại Tang lễ, tang ma là mặt biểu hiện sinh động, bền vững trong văn hóa truyền thống Tuy nhiên, vẫn

Trang 11

còn hiện tượng từ phong tục tập quán trở thành thói quen trong suy nghĩ của mỗi người, của cộng đồng nên không ít cư dân thành phố Thanh Hóa vẫn còn nhiều thủ tục nặng nề, khi gia đình có việc tang đều tổ chức ăn uống dài ngày, kèm theo hủ tục lạc hậu gây tốn kém, lãng phí thời gian, tiền bạc Một số đám tang có xu hướng phô trương, vụ lợi Những tác động tiêu cực đã làm ảnh hưởng đến nét đẹp văn minh đô thị, không còn phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, đô thị hóa và kinh tế thị trường thì vấn đề tang lễ đang bị tác động và cần phải xây dựng nếp sống văn minh đối với lĩnh vực này

Với tất cả những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Xây dựng nếp sống văn

minh trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa”

làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản lý văn hóa của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nói chung và nếp sống văn hóa nói riêng đã được nhiều nhà khoa học đề cập thông qua các bài báo, tạp chí, sách, công trình khoa học sau:

Thứ nhất, là nhóm những công trình nghiên cứu lý luận chung về văn hóa và luôn chiếm tỷ lệ lớn trong các công trình nghiên cứu liên quan về đời sống văn hóa, cách tiếp cận đời sống văn hóa và môi trường văn hóa ở nước

ta hiện nay Nhóm những công trình nghiên cứu này thể hiện những nội dung

về chức năng cơ sở như nhiệm vụ tổ chức, quản lý, các hoạt động văn hóa - thông tin nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở phù hợp với những biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Những công trình nghiên cứu này đã khái quát hóa tính cấp thiết của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đặc biệt chú trọng văn hóa giáo dục, văn hóa đô thị, văn hóa kiến trúc, văn hóa lối sống gia đình, văn hóa giai cấp và các tầng lớp xã hội, văn hóa

Trang 12

quản lý, văn hóa lãnh đạo, văn hóa nghề nghiệp phải được kể đến như: Đỗ

Đình Hãng (2007), Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của đảng, tập bài giảng, Nxb Chính trị Quốc gia [27]; Phạm Quang Nghị (1996), Một số vấn đề

lý luận văn hóa thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [36]; Nguyễn

Hữu Thức (2007), Một số kinh nghiệm quản lý văn hóa và hoạt động tư tưởng

văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội [47]; Nguyễn Tri Nguyên (2006), Văn hóa - tiếp cận lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [35]

Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những nội dung cơ bản về lý luận chung về văn hóa, thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa qua cách tiếp cận

và việc vận dụng qua thực tiễn công tác xây dựng văn hóa nước ta hiện nay

Năm 2006, tác giả Hoàng Vinh cho ra mắt tập sách “Những vấn đề văn

hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay”, Nxb VHTT và Viện Văn hóa

Hà Nội [52] Tác giả đã bàn về những vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay như: Di sản văn hóa dân tộc, xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng, hoạt động vui chơi giải trí và vai trò của nó trong đời sống xã hội,

cội nguồn của văn hóa và đạo đức…Năm 2015, Đinh Xuân Dũng: “Mấy vấn

đề văn hóa Việt Nam hiện nay - thực tiễn và lý luận”, Nxb Lao động, Hà Nội

Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề căn cốt và nêu bật một số nét về thực trạng và công tác nghiên cứu lý luận văn hóa Việt Nam hiện nay [26]

Thứ hai, là nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hóa

ở các địa phương tiêu biểu là một số công trình sau; Nguyễn Hữu Thức

(2009), Về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở, Nxb Từ điển Bách Khoa [48]; Nguyễn Minh Tiệp (2017), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật,

số 397 [49]; Một số luận văn như:

Hoàng Văn Tầm (2011), Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở Huyện Chi

Lăng, tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Quán lý Văn hoá, trường Đại học Văn

Hoá [40] Luận văn đã đi phân tích làm rõ khái niệm của việc xây dựng đời

Trang 13

sống văn hóa cơ sở và tác động của nó đối với việc phát triển đời sống văn hóa cơ sở huyện Chi Lăng Bước đầu có những tổng kết về thực trạng xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, từ đó đề ra những giải pháp thiết thực nhằm xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của ngư dân tại đây, góp phần vào việc nâng cao chất lượng của công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Hồ Thị Thái (2013), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Huyện Nam

Đàn, tỉnh Nghệ An Luận văn thạc sĩ Quản lý văn hóa, trường Đại học Văn

hóa, Hà Nội [42] Luận văn đã đánh giá được tổng quan về lịch sử phát triển và tình hình kinh tế- văn hóa- chính trị của huyện Nam Đàn Luận văn đã khảo sát, phân tích và đánh giá khá sâu về thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nói chung và công tác xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình, làng, bàn, khối phố, cơ quan, đơn vị có nếp sống văn hóa ở huyện Nam Đàn từ năm 2006 đến 2013 Từ đó đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao công tác xây đựng đới sống văn hóa cơ sở ở huyện Nam Đàn trong giai đoạn hiện nay

Trần Văn Bính (chủ biên) (2000), Lý luận và đường lối văn hóa văn

nghệ của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách khẳng định văn

hóa là lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần của xã hội nhưng vẫn chịu sự quy định của những quy định chung và đều hướng tới những chuẩn mực cụ thể; đi sâu nghiên cứu đường lối chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước và những biện pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm

đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đề ra

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục văn hóa thông tin cơ sở (2008),

Tạp chí xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội

Đã đăng tải các bài viết về hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa ở các địa phương, trong đó đánh giá thực trạng đưa ra nguyên nhân, giải pháp về xây dựng đời sống văn hóa

Trang 14

Phan Trọng Thưởng (chủ biên) (2010), Xây dựng con người và phát

triển văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế - Quan điểm, giải pháp đến năm 2020, Đề tài cấp nhà nước, Viện nghiên cứu Văn

hóa, Hà Nội Đề tài đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá các nhân tố tác động tích cực và tiêu cực đến việc xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc

tế, chỉ ra mức độ, phạm vi, tính chất của từng yếu tố Trên cơ sở đó, đề tài đã đánh giá thực trạng bao gồm cả thành tựu lẫn hạn chế, phân tích rõ nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết để tiếp tục xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đề tài đã bước đầu đưa ra các dự báo về chiều hướng vận động và biến đổi của thực tiễn xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020 Đề xuất hệ quan điểm, giải pháp và các kiến nghị nhằm đẩy mạnh

sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ tiếp theo

Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến nhiều khía cạnh trong xây dựng đời sống văn hóa: Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành quản lý văn hóa, Xây dựng đời sống văn hóa tại xã Vạn Ninh, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh của Phạm Thúy Nga năm 2016; Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành quản

lý văn hóa, Công tác xây dựng văn hóa cơ sở huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình của Nguyên Trọng Vinh năm 2016; Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành quản lý văn hóa, Công tác xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Văn Vinh năm 2016.Các đề tài đi sâu nghiên cứu các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở mỗi huyện thị khác nhau Đua ra những phuong hướng giải pháp phù hợp cho từng địa bàn

Hoạt động xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội thành phố Thanh Hóa nói chung và trong việc tang lễ của cư dân thành phố Thanh Hóa nói riêng là nội dung quan trọng góp phần thực hiện phong

Trang 15

trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa”… Tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về trong việc tang lễ của cư dân thành phố Thanh Hóa, vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá được thực trạng xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang lễ của cư dân Thành phố Thanh Hóa hiện nay, từ đó đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang lễ của cư dân Thành phố Thanh Hóa cần thiết và không có sự trùng lặp với bất cứ đề tài nghiên cứu trước đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang của cư dân thành phố Thanh Hóa

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, luận văn xác định các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung về xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang lễ và khái quát chung về Thành phố Thanh Hóa

- Nghiên cứu, đánh giá được thực trạng xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang lễ của cư dân Thành phố Thanh Hóa hiện nay, từ đó, chỉ ra được những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang lễ của cư dân Thành phố Thanh Hóa

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang của cư dân trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trang 16

- Phạm vi thời gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu công tác xây dựng nếp sống văn minh ở thành phố Thanh Hóa từ năm 2011 đến nay (vì đây là khoảng thời gian thành phố Thanh Hóa đẩy mạnh công tác xây dựng nếp sống văn minh tại khu dân cư)

- Phạm vi nội dung: luận văn chỉ tập trung vào các hoạt động xây dựng sống văn minh trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

5 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ mục đích nghiên cứu được xác định ở trên, Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:

Phương pháp tổng hợp phân tích tư liệu thứ cấp, bao gồm: các công

trình nghiên cứu đi trước có cùng chủ đề nghiên cứu, các văn bản nhà nước về xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang, các báo cáo về thực hiện Chỉ thị của Bộ chính trị về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội

đã được thực hiện ở địa phương

Phương pháp phỏng vấn: Qua các buổi gặp gỡ, trao đổi với các nhà

nghiên cứu, một số cán bộ và của người dân về những đánh giá của các cá nhân trong cộng đồng về công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê: Dựa trên những thông tin đã

thu thập được của công tác điều tra, khảo sát, phỏng vấn trực tiếp, nghiên cứu tài liệu, tác giả sẽ tổng hợp, phân tích những điểm mạnh, những khó khăn, hạn chế, thách thức trong công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang lễ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn làm rõ thực trạng của hoạt động xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng trong hoạt động xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang của dân cư trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trang 17

- Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý xã hội, quản lý văn hoá trong việc chỉ đạo xây dựng nếp sống văn minh của dân

cư trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về xây dựng nếp sống văn minh và tổng quan

về thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Chương 2 Thực trạng công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nếp sống

văn minh trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nếp sống văn minh

1.1.1 Một số khái niệm, quan niệm, thuật ngữ

1.1.1.1 Khái niệm nếp sống

Trên quan điểm của Mác và Ăngghen trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” thì quan niệm lối sống được hiểu như sau: “Phương thức sản xuất phải xem xét không đơn thuần, theo khía cạnh nó là sự tái tạo sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân, mà hơn thế nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ Những cá nhân biểu hiện đời sống của

họ như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái của họ sản xuất

ra cũng như cách họ sản xuất” [11, tr.269]

Trên cơ sở khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin và trên cơ sở khoa học của các nghị quyết Đại hội Đảng cho rằng: “Lối sống là một phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định, biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [37, tr.514]

Từ các luận điểm trên, chúng ta có thể rút ra: lối sống là phương thức,

là dạng hoạt động của con người Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện và các mối quan hệ kinh tế- xã hội của một phương thức sản xuất nhất định

Từ việc tìm hiểu những khái niệm trên, chúng ta cũng có cơ sở để hiểu khái niệm nếp sống Theo GS Vũ Khiêu: “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp sống trong sản xuất, chiến đấu, trong mối quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi người Những thói quen ấy gọi là tập quán” [37, tr.135]

Trang 19

“Nếp sống chính là mặt ổn định của lối sống Nhờ có nếp sống mà xã hội

và con người không cần phải đi đường vòng, không phải bắt đầu lại những quá trình lịch sử đã trải qua Nhờ những nếp sống mà những kinh nghiệm quý báu trong lối sống của xã hội và con người được giữ lại và phát triển” [18, tr 23] Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất của cải vật chất, trong sinh hoạt như: ăn, mặc, ở, đi lại; trong đời sống tổ chức xã hội như: phong tục, lễ nghi, đạo đức, pháp luật…

Như vậy, có thể thấy rõ ràng nếp sống là những hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống đã được lặp đi lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen, phong tục được xã hội công nhận So với lối sống thì nếp sống có tính chất ổn định bền vững hơn nhưng không có nghĩa là không có biến đổi Cùng với sự biến đổi của lối sống nó cũng biến đổi nhưng chậm chạp và khó khăn hơn Nhưng khi nếp sống đã thay đổi đến một chừng mực nhất định thì lối sống mới biến đổi Điều này cho thấy, lối sống và nếp sống không thể tách rời nhau nhưng nó cũng không phải là một

Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng, một nước, một khu vực nhất định Trong cuộc sống chung như thế, người ta buộc phải tuân thủ những qui tắc nhất định, thành văn hoặc bất thành văn Những quy tắc này bao trùm tất cả các lĩnh vực: đạo đức, thẩm mỹ Trong số đó, có những quy tắc dần dần được cá nhân thừa nhận và trở thành thói quen Đó là lối sống cá nhân Có những quy tắc được thừa nhận rộng rãi trong nội bộ một cộng đồng nào đó Chúng được người ta tuân thủ gần như vô điều kiện, gần như một lẽ đương nhiên Đó là lối sống cộng đồng…tính chất ổn định bền vững hơn nhưng không có nghĩa là không có biến đổi

1.1.1.2 Khái niệm văn minh

Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, văn minh W Summer

và A Keller cho rằng “Tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa hay văn minh Những sự thích

Trang 20

nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa”[ 3, tr 16]

Như vậy, với nhận định này, các tác giả đã đồng nhất văn minh với văn hóa Xem xét nguồn gốc từ “văn minh”, người ta nhận thấy văn minh là từ Hán - Việt trong đó “văn” là vẻ đẹp, “minh” là vẻ sáng, nó chỉ một trạng thái phát triển rực rỡ của văn hóa Trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa,

từ “văn minh” không phải là từ mới, vì trong Kinh Dịch, ở Quẻ Kiều, người ta

đã đọc thấy hai chữ “văn minh” ở câu “ Hiện long tại điều thiên hạ hữu văn minh (nghĩa là như con rồng hiện ra trên mặt cánh đồng, tức là lúc thiên hạ văn minh)

Theo đó, văn minh là trạng thái xã hội của một cộng đồng nhân loại đã được khai hóa, đã tiến bộ và trái với trạng thái dã man hay bán khai Như vậy, với phân tích này, chúng ta có thể hiểu văn minh là phù hợp với sự phát triển,

là những nhân tố hiện đại, tiến bộ Cùng quan niệm này, tác giả người Mỹ W.Durant đã nhận định “Văn minh là trật tự xã hội gợi lên sự sáng tạo văn hóa, nó bắt đầu từ khi sự hỗn độn và tình trạng bất an chấm dứt”[ 3, tr 24] Như vậy, theo các phân tích này, văn minh trước hết và cơ bản là khái niệm đặc trưng cho trình độ của con người trong việc chiếm lĩnh thế giới nói

chung “Văn minh là xã hội đã đạt tới một trình độ nhất định về lý tính và

công bằng”[ 3, tr 25]

Trong từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Thanh Hóa thì “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” và “Văn minh là trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài người, có nền văn hoá vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng”[51] Vậy văn hóa và văn minh giống và khác nhau như thế nào? Trước hết văn hóa và văn minh giống nhau là đều do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, nhưng khác nhau ở một số điểm Văn hóa

là độ dày quá khứ, lịch sử, văn minh chỉ là một lát cắt trong lịch sử Nói đến

Trang 21

văn hóa là nói đến năm tháng, nhiều thế kỉ, thiên niên kỉ, nhiều triều đại, trải qua quá trinh tích lũy, sửa đổi bổ sung chứ không phải chốc lát mà có được Nhưng văn minh lại thiên về những phát minh trong tiến trình phát triển của nhân loại, giúp con người sống tốt hơn, sung sướng hơn, tiện lợi hơn Văn hóa mang tính quốc gia, dân tộc riêng biệt còn văn minh lại mang tính chất toàn cầu Văn hóa là đặc trưng cho một dân tộc, một quốc gia còn văn minh lại đặc trưng cho từng thời kì

Văn minh là phương tiện bởi văn minh nói đến trình độ phát triển của xã hội loài người, nói đến những tiến bộ của loài người, nhờ những phát minh, sáng chế mà con người có thể sống tốt hơn Văn hóa là ứng xử, không chỉ là giữa con người với con người mà giữa con người với tự nhiên Văn hóa không

có tiến bộ hay lạc hậu nhưng văn minh có tiến bộ và ngày càng tiến bộ Văn minh là toàn bộ những phát minh của con người dựa trên quá trình tìm tòi và khám phá ra các “quy luật của tự nhiên” Văn minh còn bao gồm toàn bộ “kỹ thuật sinh sống” và “tổ chức xã hội” nhằm thiết lập nên những “thiết chế” xã hội mang tính hiện đại, giúp cho con người thực hiện được quyền sống, quyền

tự do và quyền dân chủ của mỗi cá nhân và cả cộng đồng - xã hội

Như vậy, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, nhưng khái niệm văn minh của nhiều tác giả đều có chung ý tưởng là: văn minh hướng đến sự thay đổi tích cực, văn minh là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến

bộ, sự hợp thời Văn minh thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của con người

1.1.1.3 Văn minh cơ sở

Tác giả Nguyễn Huỳnh Thanh cho rằng “Nếp sống cơ sở là một trong những giá trị tinh thần của thị dân có đặc điểm hình thành không dễ dàng trong tiến trình cơ sở hóa Bởi nếp sống cơ sở là một giá trị tổng hợp, có trình

tự về thời gian ra đời gần như muộn nhất so với các giá trị vật chất và giá trị tinh thần khác, có ý nghĩa thước đo trình độ của tiến trình cơ sở hóa Tuy

Trang 22

không tất yếu phải chờ một sự phát triển chín muồi của hệ thống các giá trị vật chất cũng như sự phát triển thật cao của một số giá trị tinh thần khác, song nếp sống cơ sở cũng chỉ có thể bắt đầu được xây dựng trên những hạ tầng kinh tế - xã hội - kỹ thuật và thượng tầng kiến trúc nhất định trong tiến trình

cơ sở hóa Sau khi hình thành, với vai trò là một giá trị bậc cao, nếp sống cơ

sở sẽ chi phối, tác động trở lại và cùng với các giá trị khác, tạo thành một hệ thống giá trị nội sinh của tiến trình phát triển cơ sở bền vững”[41]

Từ các quan niệm trên có thể hiểu: Văn minh cơ sở là lối sống hướng

đến sự thay đổi tích cực trong sinh hoạt, đời sống ở cơ sở Văn minh cơ sở là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời của cuộc sống cơ sở Văn minh cơ sở thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của người dân cơ sở [42]

1.1.1.4 Khái niệm hành vi văn minh cơ sở

Hành vi văn minh cơ sở là một khái niệm tương đối mới khi xã hội ngày nay được xem là một xã hội văn minh với những sự thay đổi nhanh chóng về các chuẩn giá trị và thói quen sinh hoạt Những ứng xử của cư dân

cơ sở trong một xã hội văn minh được khá nhiều người quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu về nếp sống văn minh cơ sở dưới nhiều góc độ như xã hội học, văn hóa học Hành vi văn minh cơ sở có xuất phát điểm từ các nhu cầu xã hội của con người, trong đó các nhu cầu khẳng định giá trị và nhu cầu được tôn trọng được xem là những thúc đẩy mạnh mẽ để cá nhân thực hiện nó Thông qua quá trình lao động, học tập, rèn luyện, các nhu cầu này sẽ có điều kiện để thỏa mãn và lúc đó các hành vi văn minh cơ sở sẽ được hình thành góp phần làm cho hoạt động của cá nhân ngày càng phù hợp với chuẩn mực xã hội [40]

Hành vi văn minh cơ sở có khởi đầu là hành vi của người người sống trong môi trường cơ sở và chịu ảnh hưởng của lối sống của dân cư cơ sở, được hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển cơ sở Văn minh cơ sở được hiểu theo theo nghĩa là “văn minh” ở “cơ sở” Khi “văn minh cơ sở” đã

Trang 23

trở thành thói quen chung của mọi người thì nó trở thành “nếp sống” Như vậy, thực hiện hành vi văn minh cơ sở là xây dựng thói quen, lối ứng xử văn minh ở cơ sở

Trên cơ sở những phân tích về hành vi và văn minh cơ sở, có thể hiểu

rằng: Hành vi văn minh cơ sở là những ứng xử mang tính ý thức cao, tự giác

cao, phù hợp với chuẩn mực xã hội của chủ thể đối với công việc, người khác, với bản thân và đối với môi trường [52]

1.1.1.5 Nếp sống văn minh cơ sở

Cùng với khái niệm ĐSVH, “Nếp sống văn minh cơ sở” là một cụm từ

đã được sử dụng trong ngành văn hóa từ năm 1982 Trong đó, “cơ sở” là một khái niệm mang khá nhiều hàm nghĩa Trước hết, “cơ sở” được quan niệm như những gì căn bản, làm nền, làm gốc, làm căn cứ chính cho một lĩnh vực hoạt động, hay một tri thức nào đó Hay “cơ sở” cũng có thể được quan niệm như một địa điểm, địa chỉ, tụ điểm trung tâm,…diễn ra một hoạt động nào đó

về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội

Như vậy, đơn vị cơ sở là những cộng đồng người có địa bàn sinh sống

ổn định và có tổ chức hành chính, kinh tế- xã hội Xét về phương diện văn hóa, địa chỉ “cơ sở” để xây dựng nếp sống văn minh phải là những cộng đồng dân cư sống quây quần thường xuyên, ổn định lâu dài, không dễ bị ngăn cách nặng nề về mặt hành chính và không bị ngăn cách nặng về mặt địa vực cư trú Như vậy, mỗi cộng đồng dân cư có địa bàn sinh sống ổn định và có tổ chức hành chính thì được coi là một đơn vị văn hoá ở cơ sở Ngoài ra, đơn vị văn hóa cơ sở còn là nơi sản xuất, kinh doanh, học tập, công tác… tức là nơi diễn

ra các hoạt động của cộng đồng dân cư nhằm sản sinh ra những giá trị văn hóa

vật chất và văn hóa tinh thần của cộng đồng Trên cơ sở đó, có thể hiểu: Nếp

sống văn minh ở cơ sở là khái niệm chỉ sự tổng hòa các điều kiện vật chất, tinh thần, hoàn cảnh, các sản phẩm văn hóa, hoạt động văn hóa, các thiết chế văn hóa ở đơn vị cơ sở được con người nhận thức và thực thi một cách tự

Trang 24

giác, có định hướng nhằm xây dựng một nếp sống văn minh lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân trên các địa bàn dân cư [50]

1.1.1.6 Xây dựng nếp sống văn minh cơ sở

Xây dựng nếp sống văn minh ở cơ sở là công tác xây dựng, tổ chức và hoạt động đời sống ở cơ sở phù hợp với yêu cầu của địa phương, trong đó biểu hiện quan trọng nhất, rõ rệt nhất là những hoạt động văn hoá Nếp sống văn minh cơ sở được xây dựng ngay trong chính cuộc sống hàng ngày của cộng đồng cư dân Điều đó có nghĩa là các cơ quan quản lý có trách nhiệm chỉ đạo, định hướng, đề ra chủ trương, đường lối đồng thời tạo ra các điều kiện cần thiết để tổ chức cho các dân cư tại các địa bàn cơ sở ở nông thôn và thành thị có thể chủ động tham gia các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ các sản phẩm văn hóa của Nhà nước và của chính họ sáng tạo nên

Do đó, công tác xây dựng nếp sống văn minh cơ sở là tổng hợp những hoạt động của chủ thể quản lý (bao gồm các cơ quan làm công tác văn hóa và

sự phối hợp của các cấp, các ngành, các đoàn thể và quần chúng nhân dân tại địa bàn) nhằm tuyên truyền, cổ động, giáo dục, nâng cao nhận thức, phát huy quyền làm chủ của người dân, đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của chính cộng đồng Nó là một quá trình lâu dài, mang tính tổng hợp và đòi hỏi sự nỗ lực, sáng tạo của các ngành, các cấp ngành, các cán bộ văn hóa

và chính người dân Việc xây dựng nếp sống văn minh cơ sở không chỉ dừng lại ở bước tạo dựng mà còn là quá trình duy trì, bảo tồn, phát huy, nâng cao các yếu tố của nếp sống văn minh trong cộng đồng dân cư

Mục đích của quá trình này là: đưa những giá trị văn hóa, văn minh tới toàn thể nhân dân, nhằm giáo dục cho con người phát triển toàn diện, hài hòa

cả về thể chất và tinh thần, xây dựng nếp sống văn minh cơ sở là làm cho đơn

vị cơ sở phát triển toàn diện, có đời sống kinh tế vật chất đầy đủ, phong phú,

có đời sống văn hoá - tinh thần lành mạnh, văn minh

Trang 25

Từ sự phân tích trên, tác giả nhận thấy: Xây dựng nếp sống văn minh cơ

sở là tổng hợp các hoạt động của chủ thể quản lý trong việc xây dựng các hoạt động giáo dục xã hội chủ nghĩa đối với quần chúng nhân dân nhằm

hướng đến những cách thức cư xử đẹp đẽ, lịch sự, mang lại sự thuận lợi cho

nhiều người trong môi trường xã hội hiện đại…

Như vậy, mục đích hướng tới của quá trình xây dựng nếp sống văn minh cơ sở là hướng đến những ứng xử hiện đại, hợp lý, tiến bộ, hợp thời đối với cuộc sống của chủ thể đối với môi trường, với người khác và đối với bản thân thể hiện qua những hành động cụ thể phù hợp với các tiêu chuẩn văn minh, phù hợp với giá trị tiến bộ của xã hội hiện đại

1.1.2 Vai trò của nếp sống văn minh cơ sở trong đời sống xã hội

Từ việc tìm hiểu rõ bản chất các khái niệm cơ bản, chúng ta thấy, nếp sống văn minh thể hiện lẽ sống qua những tập quán, theo những quy tắc đã thấm sâu vào ý thức và cả tiềm thức của con người “Nếp sống văn minh vừa phản ánh nhu cầu khách quan của đời sống, vừa thể hiện ý chí chủ quan của con người” [18, tr 25] Chính vì thế nếp sống văn minh giữ một vai trò cực kì quan trọng trong đời sống xã hội và các đời sống cá nhân

Nếp sống văn minh tạo dựng cho đời sống cá nhân nói riêng và cả cộng đồng nói chung một cuộc sống ổn định tiếp diễn theo chiều hướng tích cực Nếp sống văn minh tạo nên nét phong cách riêng cho một cộng đồng thậm chí cho một cá nhân Nếu cá nhân, cộng đồng có nếp sống văn minh đẹp, biết trân trọng những giá trị truyền thống lưu giữ từ nhiều thế hệ thì nếp sống văn minh đó sẽ để lại những ấn tượng sâu sắc

Trong mỗi một thời kì nhất định, việc xác định chuẩn mực nếp sống văn minh có ý nghĩa rất quan trọng, nếp sống văn minh có thể xuất phát từ thói quen một cách vô thức, nhưng nếp sống văn minh cũng được tạo lập một cách có chủ định của một cá nhân hoặc của cả cộng đồng

Trang 26

Nếp sống văn minh hình thành để thỏa mãn các mục đích phản ánh nhu cầu khách quan và thể hiện ý chí chủ quan của con người trước những hành vi ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, chẳng hạn ở mỗi làng Việt Nam thời xưa đều có những quy tắc ứng xử được áp dụng cho

cả làng và được ghi lại trong hương ước… hoặc trong mỗi gia đình Việt Nam cũng xây dựng cho riêng mình những quy tắc ứng xử giữa các thành viên trong gia đình và ứng xử với các mối quan hệ xã hội khác “Những quy tắc trong gia đình, trong mỗi làng xã, trong mỗi quốc gia đều nhằm mục đích củng cố quan hệ tốt đẹp giữa con người với gia đình, với làng xã, với quốc gia Những quy tắc ấy chắt lọc những cái hay, cái tốt, gạt bỏ đi những thói hư tật xấu, nảy sinh trong cuộc sống của cộng đồng cũng như của mỗi cá nhân” [18, tr 28]

Trong quá trình phát triển, mối quan hệ xã hội của mỗi cá nhân, mỗi làng, mỗi quốc gia đều phải không ngừng tiếp thu nếp sống văn minh mới Sở

dĩ nếp sống văn minh không phải là những gì cố định được hình thành từ ban đầu mà nếp sống văn minh con người không ngừng tiếp thu và học tập những nếp sống văn minh mới Nếp sống văn minh mới giúp cho con người hòa nhập vào hoàn cảnh mới Nếp sống văn minh mới có tác động tích cực đến sự phát triển xã hội thì việc tiếp thu cái mới đó cực kì có ý nghĩa Nhưng ngược lại, nếu du nhập những nếp sống văn minh không phù hợp với văn hóa của dân tộc thì nó sẽ có tác động tiêu cực gây nên nhiều tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến cách sống và nhận thức của người dân

1.1.3 Vai trò của việc tang lễ trong đời sống xã hội

Người Việt Nam coi việc tang là sự chuyển đoạn hệ trọng của đời người; coi lễ hội là nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh, tín ngưỡng để hoà nhập cộng đồng củng cố đức tin Việc tang là 1 bộ phận quan trọng của văn hoá, là nền tảng tinh thần góp phần làm nên bản sắc văn hoá dân tộc

Trang 27

Việc tang là việc riêng của từng người, từng gia đình, từng cộng đồng nhưng lại có ảnh hưởng chung đến toàn xã hội Đây là môi trường dễ thăng hoa, dễ nảy sinh hủ tục, tệ nạn, mê tín dị đoan và cao hơn nữa nó đã phát tác thành một vật cản trở xã hội, lãng phí về thời gian, tốn kém về kinh tế, dằn dựa về tinh thần cho gia đình và xã hội

Việc tang là thể hiện mối quan hệ tình cảm sâu sắc giữa người sống và người chết, giữa những người đang cùng chung sống, vượt qua ngoài tính huyết thống gia tộc, việc tang còn mang tính xã hội sâu sắc Tổ chức việc tang phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về hộ tịch, môi trường, vệ sinh, an toàn thực phẩm Việc tang cần tổ chức chu đáo, trang trọng, gọn nhẹ, tiết kiệm; phải đảm bảo an toàn giao thông, trật tự xã hội, an ninh cộng đồng Khi đưa tang cần hạn chế rắc vàng mã, tiền âm phủ, tiền giấy… trên đường Việc chôn cất, cải táng, xây mộ phải nằm trong quy hoạch nghĩa trang phù hợp với quỹ đất, phong tục, tập quán, hương ước, quy ước của địa phương

Để xây dựng nếp sống văn minh, tiến bộ với tinh thần gạn đục khơi trong, ngăn chặn việc phục hồi các hủ tục đang có chiều hướng lan rộng trong

xã hội; nhiệm vụ bao quát hàng đầu của sự nghiệp văn hoá hiện nay là xây dựng con người Việt Nam thấm nhuần những giá trị và chuẩn mực văn hoá mới phù hợp yêu cầu phát triển bền vững của đất nước

Vai trò của việc xây dựng nếp sống văn minh cơ sở trong việc tang

Tang lễ là những hình thức lễ nghi thể hiện phong tục, tập quán tín ngưỡng hình thành từ lâu đời, thể hiện tâm tư, tình cảm từ mỗi con người tới mỗi gia đình Việt Nam Chính vì vậy, việc tuyên truyền vận động thực hiện nếp sống văn minh trong các hoạt động này là việc làm đòi hỏi những nỗ lực rất lớn của cả xã hội Kết quả sau 10 năm thực hiện Chỉ thị đã chứng tỏ sự tiến bộ, đúng đắn và hợp lòng dân của Chỉ thị 27-CT/T.Ư Kết quả ấy cũng cho thấy sự kiên trì, khoa học của các cấp, các ngành trong việc chỉ đạo và

Trang 28

giám sát thực hiện chỉ thị Tuy nhiên, theo điều tra dư luận xã hội, sự tiến bộ

và chuyển biến theo hướng tiến bộ, tích cực trong việc thực hiện Chỉ thị CT/T.Ư lại tập trung ở nông thôn nhiều hơn thành phố; vẫn còn tình trạng cán

27-bộ, đảng viên chưa gương mẫu hoặc chưa thuyết phục được gia đình và dòng

họ mình thực hiện nghiêm túc theo đúng tinh thần của chỉ thị Ðáng nói hơn là trong thời gian gần đây, hiện tượng tổ chức đám cưới, đám tang, lễ hội phô trương, nhiều nghi thức rườm rà, không phù hợp thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây tốn kém, phiền phức, tình hình mê tín dị đoan lại phát triển phức tạp; hoạt động lợi dụng khả năng đặc biệt của con người để trục lợi, lừa đảo có chiều hướng gia tăng

Xã hội phát triển, kinh tế mỗi gia đình ổn định, việc tổ chức đám tang một cách trang trọng là nhu cầu chính đáng Nhưng trang trọng không có nghĩa là thực hiện những nghi lễ rườm rà, lãng phí, không phải là cơ hội để một số người trục lợi, hay lợi dụng để hoạt động mê tín dị đoan Trong giai đoạn hiện nay, Ðảng, Nhà nước và mọi người dân đang có những cố gắng thiết thực nhằm thực hành tiết kiệm để vượt qua các khó khăn về kinh tế, bảo đảm cuộc sống ấm no, ổn định cho mọi người Việc thực hiện nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm trong tổ chức ma chay cũng là một trong những việc làm góp phần khắc phục các khó khăn đó

1.1.4 Nội dung xây dựng nếp sống văn minh cơ sở

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở giữ vị trí quan trọng, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, nếp sống của mỗi con người và cộng đồng dân cư Đảng và Nhà nước ta coi xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là nhiệm vụ then chốt để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định xã hội, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân Những thành tựu to

Trang 29

lớn mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX khẳng định tư duy văn hóa của Đảng đã đạt được những bước chuyển biến mới và có bước tiến quan trọng trong việc ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) Ở văn kiện lịch sử này, Đảng ta đã có cái nhìn thấu suốt về giá trị văn hóa dân tộc và tiến bộ thời đại, giữa lý tưởng tinh thần và yêu cầu xử lý các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, văn hóa là nền tảng tinh thần vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội

Bên cạnh những tiến bộ và những thành tựu đã đạt được, thực trạng văn hóa nước nhà cũng như công tác quản lý nhà nước về văn hóa còn bộc lộ những yếu kém và việc khắc phục những yếu kém trong công tác văn hóa hiện nay có một tầm vóc chính trị quan trọng Ngày 16/7/1998 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Trong đó có giải pháp: “Phát động phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, huy động mọi nguồn lực nhân dân và cả

hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trong Đảng, cơ quan Nhà nước, các đoàn thể ra ngoài xã hội tích cực tham gia phong trào” [2, tr 49]

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” kế tục kết quả của cuộc vận động và các phong trào thi đua yêu nước trước đây, nổi bật

là cuộc vận động xây dựng “nếp sống văn minh, gia đình văn hóa” và “đời sống mới” được phát động ngay sau cách mạng tháng Tám thành công Trong những năm đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân hăng hái tham gia phong trào xây dựng đời sống mới Những tư tưởng quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới mang tính thời đại sâu sắc và được Đảng ta tiếp thu, nâng cao trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển

sự nghiệp văn hóa đất nước

Trang 30

Cụ thể hóa phong trào xây dựng đời sống văn hóa giúp cho người dân nhận thức đúng đắn và thực hiện triển khai đồng bộ, hiệu quả trong các cơ quan, đơn vị, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành quyết định số 05/2000/QĐ-BVHTT ngày 12/4/2000 về việc ban hành “Kế hoạch triển khai phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” [4] trong đó xác định rõ công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở gồm 5 nội dung như sau:

Thứ nhất: Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xoá đói

giảm nghèo Đây là nội dung khuyến khích tinh thần lao động sản xuất, khơi dậy tinh thần tương thân, tương ái, giúp nhau về vốn, trao đổi kinh nghiệm làm kinh tế Yếu tố văn hóa trong sản xuất kinh doanh chính là sự thể hiện trong việc ứng xử con người với con người trong việc áp dụng tiến bộ khoa học vào lao động sản xuất, đạt hiệu quả kinh tế cao

Thứ hai: Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh Nâng cao tình cảm

yêu nước, lòng tự hào dân tộc gắn với phong trào thi đua yêu nước; nhất trí với đường lối chính trị của Đảng; nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống các quan điểm sai trái; có ý thức tự cường, tự tôn dân tộc, giữ gìn bí mật quốc gia

Thứ ba: Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm

việc theo pháp luật; xây dựng tác phong công nghiệp, làm việc có kỹ thuật, thực hiện tốt nội quy đơn vị, hương ước, quy ước của làng xã, khu phố và quy định nơi công cộng; thực hiện giao tiếp văn minh, lịch sự, thái độ vui vẻ, trách nhiệm với công việc; xây dựng công sở văn minh, giảm thủ tục phiền hà, quan liêu, lãng phí Thực hiện nếp sống văn minh, tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, giỗ tết, lễ hội và các sinh hoạt xã hội khác; giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục và đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Thứ tư: Xây dựng môi trường văn hóa sạch đẹp, an toàn, giữ gìn vệ

sinh nơi công cộng; không gây rối và làm mất trật tự; không lấn chiếm vỉa hè lòng đường; lề đường, đất công; treo dán, viết, vẽ quảng cáo, rao vặt tuỳ tiện

Trang 31

ở nơi công cộng; ăn mặc lịch sự sạch sẽ khi ra đường; nhà ở, nơi làm việc vệ sinh, ngăn nắp, sạch sẽ; tham gia bảo vệ môi trường, cây xanh, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, di tích cách mạng và khu bảo tồn thiên nhiên; không sử dụng văn hóa phẩm cấm lưu hành, không tham gia vào các hoạt động dịch vụ văn hóa trái với quy định của pháp luật; tích cực phòng chống tệ nạn xã hội như

mê tín dị đoan, mại dâm, cờ bạc, nghiện hút, rượu chè, tham nhũng, trộm cắp

Thứ năm: Xây dựng các thiết chế văn hóa - thể thao và nâng cao chất

lượng hoạt động văn hóa - thể thao cơ sở Các thiết chế văn hóa - thể thao cần xây dựng gồm: Nhà văn hóa, trung tâm thể dục thể thao, các loại hình câu lạc

bộ văn hóa nghệ thuật, các đội văn nghệ, đội thông tin lưu động, công viên khu vui chơi giải trí, phòng đọc sách, phòng luyện tập thể dục thể hình, điểm bưu điện văn hóa trên tinh thần xã hội hóa, kết hợp giữa Nhà nước và nhân dân Như vậy, nội dung xây dựng nếp sống văn minh cơ sở là một trong những nội dung xây dựng đời sống văn hóa Căn cứ vào các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa, từ góc độ tiếp cận nghiên cứu của đề tài là quản lý văn hóa và căn cứ vào thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa, nếp sống văn minh cơ sở, nội dung xây dựng nếp sống văn minh được hình thành dựa trên cơ sở các nội dung xây dựng đời sống văn hóa, bao gồm:

1 Tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo về xây dựng nếp sống văn minh;

2 Hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân về xây dựng nếp sống văn minh;

3 Tổ chức các phong trào xây dựng nếp sống văn minh;

4 Xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa;

5 Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động xây dựng nếp sống văn minh Đây chính là những nội dung nghiên cứu mà tác giả sẽ phân tích thực trạng xây dựng nếp sông văn minh trong việc tang lễ thành phố Thanh Hóa trong nội dung chương 2 của luận văn

Trang 32

1.1.5 Những nhân tố hình thành nên nếp sống văn minh cơ sở trong đời sống xã hội

Có nhiều nhân tố khác nhau dẫn đến sự ra đời của nếp sống văn minh Nếp sống văn minh là sản phẩm của các nhân tố chủ quan hoặc khách quan tùy thuộc vào mỗi hoàn cảnh nhất định Nhưng xét cho cùng thì nếp sống văn minh hình thành là do hai nhân tố cơ bản: điều kiện tự nhiên (môi trường tự nhiên) và điều kiện xã hội (môi trường xã hội)

Thứ nhất, về điều kiện tự nhiên

Đây là nhân tố có tác động trực tiếp đến đời sống sinh tồn của con người Con người ở môi trường tự nhiên nào thì sẽ có những cách thức ứng

xử hợp lý vừa để tận dụng vừa để kháng cự lại môi trường tự nhiên ấy Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố: địa hình, khí hậu, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng môi trường sinh thái Nếp sống văn minh của con người và thường chịu tác động và thường mang dấu ấn của môi trường tự nhiên Chẳng hạn như cư dân sống ở vùng sông nước, trong đời sống vật chất của họ thường mang đậm dấu ấn vùng sông nước Trong văn hóa ẩm thực của

họ, có các món ăn chế biến thủy sản, chiếm vị trí chủ yếu; trong cách thức đi lại thì việc sử dụng thuyền, bè có vai trò quan trọng; trong đời sống văn hóa văn nghệ có những điệu hò mềm mại, êm ả như dòng nước thanh bình hoặc vang vọng ngoài biển khơi…Ngược lại, nếu con người sống ở vùng đồi núi cao, khí hậu mát mẻ, địa hình khó khăn… thì nếp sống văn minh của họ cũng mang dấu ấn của tự nhiên như: các món ăn chế biến từ các loại rau rừng, thịt thú rừng… trang phục nhiều màu sắc tính tình ôn hòa Hay vùng có tính chất khí hậu khô hạn, nóng bức, nếp sống văn minh trong ăn, mặc, ở, đi lại của con người cũng có cách thức sống để ứng phó với điều kiện tự nhiên…

Tiếp đó điều kiện tự nhiên, cũng là nhân tố hình thành nếp sống văn minh trong đời sống tinh thần của con người Khi môi trường sống xung quanh gặp nhiều thuận lợi hoặc nhiều khó khăn, đời sống tinh thần của con

Trang 33

người sẽ có phong cách phù hợp, tạo nên nếp sống văn minh riêng Chẳng hạn, cư dân sống ở vùng đất hay có thiên tai xảy ra thì đời sống của họ luôn ý thức việc phải đề phòng bằng mọi cách Như vậy có thể thấy rằng, điều kiện

về môi trường tự nhiên sẽ tạo nên bản sắc riêng về nếp sống văn minh cho mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng dân cư

Trước hết là hoạt động lao động và sản xuất, khi con người nhận thức quy luật của tự nhiên thì họ sẽ hình thành cách thức ứng xử phù hợp với điều kiện tự nhiên Việc lặp đi lặp lại cách thức sản xuất này sẽ trở thành nếp sống văn minh của con người sinh sống tại phạm vi mỗi vùng miền đó

Thứ hai, về điều kiện môi trường xã hội

Điều kiện môi trường xã hội bao gồm các vấn đề dân số, chỉ số phát triển con người, tính chất của quan hệ sản xuất, các mối quan hệ giữa con người với con người, nền tảng tư tưởng xã hội, thể chế chính trị xã hội, sự tăng trưởng kinh tế xã hội, nền tảng văn hóa và sự giao lưu hợp tác văn hóa Cũng giống như môi trường tự nhiên, mỗi một khía cạnh của môi trường xã hội cũng là nhân tố góp phần tạo nên nếp sống văn minh của con người Số lượng dân cư, tốc độ gia tăng dân số, trình độ cơ cấu nhận thức giới tính, độ tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình, sự di dân, di cư nguồn lao động, địa bàn

cư trú… cũng là nhân tố hình thành nên nếp sống văn minh của con người Tất cả những yếu tố này có thể làm cho nếp sống văn minh ra đời và phát triển nhanh hay chậm, tích cực hay tiêu cực Đặc biệt đối với vùng đô thị thì các vấn đề về dân số ảnh hưởng rất lớn đến nếp sống văn minh của người dân Chẳng hạn như, hiện tượng nguồn lao động tự do từ các nơi khác kéo vào đô thị kiếm việc làm đông sẽ làm cho nếp sống văn minh người đô thị thay đổi như xuất hiện dịch vụ thuê nhà, thuê người làm theo giờ hoặc khoán gọn, buôn bán ve chai, hàng rong… tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những tệ nạn

xã hội tiêu cực nảy sinh như mại dâm, trộm cắp, nghiện hút…

Trang 34

Tính chất của quan hệ sản xuất, hệ thống tổ chức quản lý và cơ chế hiện hành nền kinh tế- xã hội luôn chi phối nếp sống văn minh của con người Chẳng hạn nền kinh tế Việt Nam thời kì trước đổi mới có hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể với cơ chế quan liêu bao cấp kéo dài đã làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của con người như làm cho con người mất khả năng chủ động sáng tạo, làm việc một cách đối phó, hình thành mẫu người kém năng động, ỷ lại người khác

Hiện nay, việc áp dụng hình thái kinh tế nhiều thành phần đã tác động rất nhiều đến đời sống con người Con người có cơ hội vận động và bộc lộ năng lực tiềm tàng và tiếp cận nhanh nhạy với thời đại mới Mỗi cá nhân đều

có trách nhiệm với cuộc sống của mình Nền thể chế chính trị- xã hội và nền tảng tư tưởng cũng quy định đạo đức, nếp sống văn minh chung trong toàn xã hội, nhất là tính nhân văn trong quan hệ giữa người với người Đây là một trong những yếu tố chi phối mạnh mẽ về sự ra đời và phát triển của nếp sống văn minh Chẳng hạn như các chính sách về nếp sống văn minh mới, nếp sống văn minh văn minh đô thị… Những chính sách này đã ảnh hưởng tích cực tới

sự thay đổi nếp sống văn minh của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng

Thứ ba, điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội cũng là yếu tố chi phối cách lựa chọn mức sống và nếp sống văn minh phù hợp với hoàn cảnh cá nhân và gia đình Nếu như mức độ tăng trưởng kinh tế- xã hội cao sẽ làm cho mức sống của người dân được nâng lên, điều này sẽ là cơ sở cho việc lựa chọn lối sống của một cá nhân hoặc một cộng đồng

Ngược lại, nếu sự tăng trưởng kinh tế- xã hội thấp, mức sống của người dân sẽ thiếu thốn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, khi đó lối sống của con người cũng bị chi phối ít nhiều bởi mức sống Có thể thấy rõ ràng, sự tăng trưởng kinh tế- xã hội đã là chất xúc tác làm cho việc hình thành lối sống, nếp sống của con người diễn ra theo chiều hướng phù hợp với điều kiện khách quan và chủ quan

Trang 35

Thứ tư, về nền tảng văn hóa xã hội và quá trình giao lưu văn hóa

Nền tảng văn hóa chính là cội nguồn văn hóa truyền thống của mỗi cộng đồng Cội nguồn văn hóa thể hiện tính chất, bản sắc riêng của con người chủ thể Nền tảng văn hóa có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành lối sống, nếp sống văn minh của mỗi cá nhân, mỗi tập thể sinh ra và trưởng thành trong phạm vi của cội nguồn văn hóa đó Hoạt động giao lưu văn hóa góp phần quan trọng cho việc hình thành lối sống, nếp sống văn minh của mỗi cộng đồng, mỗi nhóm người khác nhau Giao lưu văn hóa giúp cho con người hiểu biết và học hỏi thêm những cái hay, cái đẹp của các nền văn hóa, văn minh khác Tuy nhiên, giao lưu văn hóa cũng tồn tại những mặt tiêu cực nếu như chủ thể văn hóa không biết lựa chọn học hỏi đúng đắn Biểu hiện của nó là những hiện tượng như: mai một bản sắc dân tộc, lai căng văn hóa không phù hợp với văn hóa truyền thống

1.1.6 Các văn bản pháp lý liên quan đến việc thực hiện nếp sống văn minh trong tang lễ

1.1.6.1 Văn bản pháp lý của Trung ương

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 với định hướng

“Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế,… phát huy những giá trị tốt đẹp của các dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, coi trọng văn hóa trong lãnh đạo quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống… Nâng cao chất lượng Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng xã, phường, khu

phố, thôn, bản đoàn kết dân chủ kỷ cương, văn minh, lành mạnh.”

Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, do chuyển sang nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế nhưng có phần buông lỏng chỉ đạo, quản lý trên một số lĩnh vực văn hoá xã hôi, nhiều nơi đã phát sinh lối sống

Trang 36

thực dụng , trục lợi, sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hoá và đạo lý của dân tộc, tình nghĩa cộng đồng mà biểu hiện rất rõ trong việc cưới, việc tang, lễ hội Một bộ phận cán bộ công chức có chức quyền tổ chức đám cưới, đám tang linh đình Nhiều lễ hội bị biến dạng có động cơ thương mại hoá Nhiều hủ tục đã phục hồi và hình thành cả những hủ tục mới, cái lạ thiếu

sự phê phán chọn lọc Những hiện tượng đó đã phá hoại thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, là thách thức mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá

- Chỉ Thị 27- CT/TW ngày 12 tháng 1 năm 1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội để định hướng xây dựng nếp sống văn minh trong phong tục tập quán, xoá bỏ hủ tục lạc hậu, giữ gìn bản sắc dân tộc

- Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII ) Ngày 16 tháng 7 năm 1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó có đề cập đến nhiệm vụ xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội

- Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của Chính phủ Ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và

- Thông tư 04/2011/TT-BVHTTDL Quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội

- Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2018 của Thủ tướng

Chính phủ về đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang

Trang 37

- Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

- Căn cứ Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng;

- Căn cứ Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa;

- Căn cứ Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

- Căn cứ Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

- Nghị định số 23/2016/ NĐ-CP, nghị định 35/2008/NĐ-CP Về xây dựng, Quản lý, sử dụng đất nghĩa trang và cơ sở hỏa táng

- Nghị định số 62/2001/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2001 về việc ban hành quy chế tổ chức lễ tang đối với cán bộ, công chức, viên chức của nhà nước khi từ trần

- Thông tư số 02/2009/TT-BYT, Hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng của bộ y tế

Các văn bản pháp lý trên đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; đồng thời làm nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương

1.1.6.2.Văn bản pháp lý của địa phương

Để tiếp tục thực hiện hiệu quả Chỉ thị của Bộ Chính trị, tỉnh Thanh Hóa

đã ban hành một số văn bản sau:

Trang 38

- Chỉ thị số 06 - CT/TU ngày 21 tháng 11 năm 2016 của Ban thường vụ

Tỉnh ủy Thanh Hóa về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với

công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

- Chỉ thị số 09/CT – UBND ngày 06/7/2010 của Chủ tịch UBND Tỉnh

về việc thực hiện kết luận số 51-KL/TƯ ngày 22/7/2009 của Bộ chính trị về

thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội

- Nghị quyết HĐND tỉnh Thanh Hóa khóa 13 kỳ họp thứ 9 ngày 11

tháng 01 năm 1998 về việc cưới, việc tang, lễ hội;

- Tờ trình số 09/VHTT ngày 09 tháng 03 năm 1998 về việc cưới, việc

tang, lễ hội

- Quyết định số 1323/1998/QĐ-UBND ngày 29 tháng 6 năm 1998 của

Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa v/v Ban hành quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội

Để tiếp tục thực hiện hiệu quả Chỉ thị của Bộ Chính trị, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các ngành, các cấp, các đoàn thể chính trị, xã hội và đơn vị, cơ sở thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả

1.2 Khái quát về thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, và điều kiện kinh tế của thành phố Thanh Hóa

* Vị trí địa lý:

Thành phố Thanh Hóa là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học

kỹ thuật của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Hoằng Hóa, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Quảng Xương, phía Tây giáp huyện Đông Sơn, phía Tây Bắc giáp với huyện Thiệu Hóa Năm 2014, thành phố Thanh Hóa đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thanh Hóa

* Điều kiện kinh tế:

Nắm bắt thời cơ, tận dụng mọi nguồn lực chính là một trong những yếu

tố giúp nền kinh tế thành phố ngày càng phát triển Thành phố luôn tạo điều

Trang 39

kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, kinh doanh Các ngành dịch vụ ghi nhận bước phát triển về quy mô và chất lượng

Kinh tế phát triển mạnh, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn

2015 - 2020 ước đạt 16,5%, cao hơn giai đoạn 2010 - 2015 và cao hơn mức tăng bình quân chung toàn tỉnh Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 73,4 triệu đồng, gấp gần 2 lần năm 2015 Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả khá, ước đạt 22.500 tỷ đồng, chiếm 18,4% tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh; tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 9,5%

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng cao; tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hằng năm ước đạt 16,8% Dịch vụ - thương mại phát triển đồng bộ cả về quy mô, ngành nghề và chất lượng; giá trị sản xuất các ngành dịch vụ bình quân tăng 17,8% Riêng năm

2020, thành phố Thanh Hóa có tốc độ tăng giá trị sản xuất ước đạt tới 17,9%, vượt 0,2% so với kế hoạch, trong đó: nông, lâm, thủy sản ước đạt 3.652 tỷ đồng, tăng 1,3%; công nghiệp-xây dựng tăng 18,5%; dich vụ tăng 18,7% Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 95,2 triệu đồng, vượt 0,2% so với kế hoạch, tăng 17,5% so với cùng kỳ Tổng giá trị xuất khẩn ước đạt 1.667 triệu USD, tăng 21% so với cùng kỳ, chiếm 44,2% giá trị xuất khẩu toàn tỉnh; tổng huy động vốn đầu tư phát triển ước đạt 33.854 tỷ đồng tăng 18,6% so với cùng kỳ, chiếm 29,7% tổng huy đông vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh [53] Giai đoạn 2015 - 2020 thành phố đã thành lập mới 4.675 doanh nghiệp, chiếm khoảng 1/3 tổng số doanh nghiệp thành lập mới của tỉnh Huy động vốn cho đầu tư phát triển đạt kết quả khá, ước đạt 143.010 tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra, gấp 2,13 lần giai đoạn 2011 - 2015 và chiếm 23,3% tổng huy động vốn đầu tư toàn tỉnh [53]

Sản xuất nông nghiệp từng bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, tập trung quy mô lớn Giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất trồng trọt năm 2020 ước đạt 150 triệu đồng, tăng 36,4% so với đầu nhiệm kỳ Công tác

Trang 40

xây dựng nông thôn mới được quan tâm chỉ đạo sâu sát, quyết liệt và đạt kết quả tích cực Đến hết năm 2019, đã có 17/17 xã đạt chuẩn nông thôn mới, thành phố được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, sớm hơn một năm so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra

1.2.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội Thành phố Thanh Hóa

Thành phố Thanh Hóa có diện tích tự nhiên 146,77 km2 với 20 phường

và 17 xã, dân số 406.550 người Dân số toàn thành phố Thanh Hóa chiếm 14% dân số toàn tỉnh Thanh Hóa Thành phố là một trong những đô thị có quy mô dân số và diện tích lớn nhất của khu vực phía bắc, với 50 di tích cấp quốc gia

và cấp tỉnh đang được quy hoạch tôn tạo và phát huy giá trị Bưu chính viễn thông, giao thông, điện, cấp nước tương đối đồng bộ đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ và công nghiệp

Thành phố Thanh Hóa có số lượng nguồn nhân lực dồi dào với kiến thức văn hóa và trình độ chuyên môn cao, có thể phát triển một nền kinh tế phong phú đa dạng trong điều kiện hội nhập quốc tế Năm 2014, Thành phố Thanh Hoá được công nhận đô thị loại I và là năm mà thành phố kỷ niệm 210 năm đô thị tỉnh lỵ, 20 năm thành lập thành phố, 10 năm đô thị loại II

Với tầm nhìn chiến lược, năm 1804, từ “Lỵ sở” ở làng Dương Xá, vua Gia Long đã cho thành lập trấn thành Thanh Hoa và dời về làng Thọ Hạc, lấy tên là Hạc Thành Trong lịch sử 216 năm hình thành và phát triển của một Đô thị tỉnh lỵ, từ Hạc Thành đến thành phố Thanh Hóa - Đô thị loại I ngày nay, các thế hệ người dân thành phố Thanh Hóa luôn đoàn kết, chung sức, đồng lòng, vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, từng bước đưa thành phố phát triển, xứng đáng là đô thị tỉnh lỵ của một tỉnh có diện tích, quy mô dân số, quy mô nền kinh tế và số lượng đảng viên trong số các tỉnh lớn nhất cả nước Đến nay, cùng với Vinh và Huế, thành phố Thanh Hóa đã trở thành 1 trong 3 đô thị lớn nhất khu vực Bắc Trung bộ và là một trong những thành phố trực thuộc tỉnh có diện tích và quy mô dân số lớn nhất cả nước

Ngày đăng: 01/12/2022, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, quyết định số 05/2000/QĐ-BVHTT ngày 12/4/2000 về việc ban hành “Kế hoạch triển khai phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch triển khai phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
4. Bộ Văn Hóa, Thông tin và Thể thao (1992), Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Nxb văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thập kỷ thế giới phát triển văn hó
Tác giả: Bộ Văn Hóa, Thông tin và Thể thao
Nhà XB: Nxb văn hóa
Năm: 1992
5. Bộ Văn Hóa, Thông tin và Thể thao (1998), Hỏi và đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa, tổ chức quản lý lễ hội truyền thống, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa, tổ chức quản lý lễ hội truyền thống
Tác giả: Bộ Văn Hóa, Thông tin và Thể thao
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
6. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (2000), Nghị quyết số 05/2000/QĐBVHTT về việc ban hành kế hoạch triển khai “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05/2000/QĐBVHTT về việc ban hành kế hoạch triển khai “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Tác giả: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
Năm: 2000
7. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (2011), Thông tư số 12/2011/TTBVHTTDL ngày 10/10/2011, về tiêu chuẩn Gia đình văn hóa, Tổ dân phố văn hóa, Phường văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (2011)
Tác giả: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
Năm: 2011
10. C. Mác - F. Ăngghen (1986), Tuyển tập, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 1
Tác giả: C. Mác - F. Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1986
17. Nguyễn Viết Chức (2003), Nếp sống của người Hà Nội, Viện Văn hóa, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.. tr.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp sống của người Hà Nội, Viện Văn hóa, NXB Văn hóa Thông ti
Tác giả: Nguyễn Viết Chức
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông ti"n
Năm: 2003
18. Nguyễn Viết Chức (2001), Xây dựng tư tưởng đạo đức lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Xây dựng tư tưởng đạo đức lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Viết Chức
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1981), Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ 5, Nxb Chính trị Quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia"
Năm: 1981
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia"
Năm: 2006
22. Đảng cộng sản Việt Nam (2010)., Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội 80 năm xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội 80 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
24. Đinh Xuân Dũng (2015), “Mấy vấn đề văn hóa Việt Nam hiện nay - thực tiễn và lý luận”, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hóa Việt Nam hiện nay - thực tiễn và lý luận”
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2015
25. Đỗ Đình Hãng (2007), Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của đảng, tập bài giảng, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của đảng
Tác giả: Đỗ Đình Hãng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
26. Đặng Xuân Kỳ (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người, Nxb Chính trị Quốc gia
Tác giả: Đặng Xuân Kỳ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia"
Năm: 2005
33. Nguyễn Tri Nguyên (2006), Văn hóa – tiếp cận lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa – tiếp cận lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Tri Nguyên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
34. Phạm Quang Nghị (1996), Một số vấn đề lý luận văn hóa thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận văn hóa thời kỳ đổi mới
Tác giả: Phạm Quang Nghị
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
35. Vũ Khiêu (1990), Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, tr.514 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người
Tác giả: Vũ Khiêu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1990
36. Phòng VTTT thành phố Thanh Hóa (2020), Báo cáo tình hình thực hiện đời sống văn hóa trên địa bàn thành phố Thanh Hóa giai đoạn 2016 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng VTTT thành phố Thanh Hóa (2020)
Tác giả: Phòng VTTT thành phố Thanh Hóa
Năm: 2020
9. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Quy định nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang gắn với nếp sống văn minh đô thị, Thông tư 04/2011/TTBVHTTDL, http://www.moj.gov.vn/pages/vbpq.as px, truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017. 129 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng trên ta thấy vùng 1 là vùng có số vốn vay lớn nhất (chiếm 41,7% tổng số vốn), vùng này là vùng các xã ven đô với phơng hớng sản xuất là rau màu, thực phẩm, chăn nuôi lơn, gia cầm nên số vốn tơng đối lớn - Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa: Xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
ua bảng trên ta thấy vùng 1 là vùng có số vốn vay lớn nhất (chiếm 41,7% tổng số vốn), vùng này là vùng các xã ven đô với phơng hớng sản xuất là rau màu, thực phẩm, chăn nuôi lơn, gia cầm nên số vốn tơng đối lớn (Trang 38)
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp thực hiện việc tang văn minh tiến bộ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa (giai đoạn 2016 -2020) - Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa: Xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp thực hiện việc tang văn minh tiến bộ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa (giai đoạn 2016 -2020) (Trang 74)
Phụ lục 3. Một số hình ảnh về việc tang lễ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa - Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa: Xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
h ụ lục 3. Một số hình ảnh về việc tang lễ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w