Vai trò của công nghiệp văn hóa Công nghiệp văn hóa cultural industries hay còn gọi là công nghiệp sáng tạo, công nghiệp bản quyền, công nghiệp nội dung văn hóa, công nghiệp giải trí [1]
Trang 1PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀN HÓA
THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
NGUYỀN HUY PHÒNG'
Công nghiệp văn hóa (CNVH) là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Những năm qua, các ngành CNVH có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển nền kinh tế cũng như góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, so với tiềm năng, lợi thế sẵn có, việc phát triển CNVH ở nước ta còn nhiều hất cập, hạn chế Bài viết khẳng định vai trò của ngành CNVH, chỉ ra những điều kiện thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức đang đặt ra,
từ đó đề xuất một số giải pháp để CNVH không ngừng phát triển, đạt được những mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đã đề ra.
Từ khóa: công nghiệp văn hóa, Đại hội XIII của Đảng
Cultural industry is an important component of the national economy In recent years, cultural industries have made a great contribution to the economic development as well as to the improvement of people's spiritual life However, compared with the potential and available advantages, the development of cultural industries in our country still has many shortcomings and limitations This paper affirms the role of the cultural industry, points out the favorable conditions
as well as the difficulties and challenges ahead; thereby proposing some solutions for the cultural industry to constantly develop and achieve the goals that our Party and State set out.
Keywords: cultural industry, 13th Party Congress
Ngày nhận: 15/2/2022 Ngày đánh giá, phản biện: 28/2/2022 Ngày duyệt đăng: 16/3/2022
1 Vai trò của công nghiệp văn hóa
Công nghiệp văn hóa (cultural industries)
hay còn gọi là công nghiệp sáng tạo, công
nghiệp bản quyền, công nghiệp nội dung
văn hóa, công nghiệp giải trí [1] là một trong
những ngành kinh tế mới, hướng đến khai
thác nguồn tài nguyên văn hóa, sức sáng tạo
của con người dựa trên nền tảng khoa học kỹ
thuật, công nghệ để tạo ra những sản phẩm
văn hóa có giá trị kinh tế, mang lại nguồn thu
lớn cho ngân sách quốc gia Đồng thời, góp
phần giải quyết việc làm, cải thiện chất lượng
cuộc sống cũng như quảng bá hình ảnh đất
nước, con người ra quốc tế
Tùy vào tiềm năng, lợi thế, quan niệm mà cơ
cấu ngành CNVH ở các quốc gia có sự khác biệt
Ở Anh, Chính phủ xác định có 13 ngành thuộc
CNVH gồm: quảng cáo; kiến trúc; thị trường
nghệ thuật và đồ cổ; nghề thủ công; thiết kế;
* TS Nguyễn Huy Phòng, Viện Văn hóa và Phát triển,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
thiết kế thời trang; phim, video và nhiếp ảnh;
âm nhạc; nghệ thuật thị giác và nghệ thuật biểu diễn; xuất bản; phần mềm, các trò chơi máy tính và xuất bản điện tử; truyền hình và phát thanh Một số các quốc gia châu Ầu xác định 11 lĩnh vực thuộc CNVH gồm: quảng cáo, kiến trúc, giải trí kỹ thuật số, mỹ thuật đồ cổ và thủ công mỹ nghệ, thiết kế mỹ thuật, phim ảnh
và video, in ấn xuất bản, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, phát thanh truyền hình và phần mềm vi tính Một số nước chầu Á lại chỉ đề cập đến 6 hoặc 7 lĩnh vực thuộc công nghiệp văn hóa như: điện ảnh, phát thanh truyền hình, báo chí, xuất bản, in và sản xuất băng đĩa, quảng cáo và dịch vụ giải trí [2],
Ở nước ta, trong Chiến lược phát triển các ngành CNVH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chính phủ xác định 12 ngành thuộc CNVH gồm: quảng cáo; kiến trúc; phần mềm
và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật
24 I TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ I số 43 (3-2022)
Trang 2biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm;
truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa
Kinh nghiệm và những thành tựu trong
phát triển CNVH của nhiều guốc gia cho thấy
CNVH đã và đang trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn, mang lại doanh thu, lợi nhuận lớn
từ những sản phẩm chứa đựng nhiều giá trị,
tri thức, chất xám và những thông điệp mang
tính nhân văn
Trong bối cảnh trữ luợng nguồn tài nguyên
thiên đang ngày càng cạn kiệt, cùng những
vấn nạn về ô nhiễm môi truờng, biến đổi khí
hậu thì việc hướng đến khai thác, phát huy
giá trị, tiềm năng văn hóa và sức sáng tạo của
con người - "nguồn nguyên liệu" đầu vào đặc
biệt của CNVH sẽ là xu hướng lựa chọn và là
con đường tất yếu trong quá trình phát triển
của mỗi quốc gia vì mục tiêu phát triển bền
vững, phát triển xanh, hài hòa, toàn diện
CNVH là ngành kinh tế đặc thù hướng đến
khai thác, phát huy nguồn vốn văn hóa dân
tộc Đây là ngành có sức hấp dẫn lớn, thu hút
nguồn nhân lực chất lượng cao từ các nhà khoa
học, trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân đến các
nhà quản lý, doanh nhân, các tập đoàn và sự
tham gia của cộng đồng cư dân bản địa Điều
này góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu
nhập, cải thiện cuộc sống của người dân
So với các ngành công nghiệp khác, sản
phẩm của ngành CNVH được "sản xuất" ở
nhiều quốc gia, mang đậm truyền thống lịch
sử - văn hóa, tri thức dân gian, bản địa và bản
sắc văn hóa độc đáo của các cộng đồng, tộc
người sẽ làm phong phú đời sống tư tưởng,
tình cảm, tinh thần, nâng cao dân trí
Với khả năng tương tác cao, lan tỏa rộng,
nhất là qua các phương tiện truyền thông,
mạng xã hội, nhiều sản phẩm của ngành
CNVH được người tiêu dùng đón nhận vì đáp
ứng nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ đa dạng của
công chúng, góp phần thu hẹp khoảng cách về
mức thụ hưởng văn hóa giữa các vùng miền,
giai tầng, lứa tuổi
Điểm nhấn của CNVH là những sản phẩm văn hóa được sản xuất qua dây chuyền công nghệ với những kỹ năng, kỹ xảo tinh vi, thu hút sự quan tâm của công chúng bởi mẫu mã sản phẩm đẹp, bắt mắt, nội dung đa dạng, phong phú, thiên về đáp ứng nhu cầu "tiêu dùng" tinh thần của con người, với những giá trị nhân văn, nhân bản, hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ, thông qua quá trình xuất, nhập khẩu các sản phẩm CNVH sẽ góp phần đẩy mạnh quá trình giao lưu, hợp tác, thiết lập tình hữu nghị giữa các quốc gia Việc gia tăng các sản phẩm CNVH với sự đa dạng về chủng loại, chất lượng vói những giá trị tích cực, tiến bộ sẽ tạo sức đề kháng giúp công chúng sáng suốt trong việc lựa chọn, tiếp nhận những sản phẩm văn hóa hữu ích, đồng thời lên án, đẩy lùi những xuất bản phẩm có
tư tưởng độc hại, từ đó xây dựng môi trường lành mạnh, nhân văn, khoa học
Nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của ngành CNVH, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998), Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đến việc thực thi chính sách
kinh tế trong văn hóa và văn hóa trong kinh
tế nhằm khai thác, phát huy hiệu quả giá
trị kinh tế trong những sản phẩm văn hóa Tuy nhiên, phải đến Hội nghị Trung ương
9 khóa XI (năm 2014), việc xây dựng, phát triển ngành CNVH mới chính thức được đề cập như một nhiệm vụ quan trọng để phát triển nền văn hóa dân tộc Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán là cần đẩy mạnh sự phát triển ngành CNVH: "Phát triển có trọng tầm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa
và thành tựu mới của văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ của thế giới Gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch, đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn" [3],
Trang 3ĐƯA NGHỊ QUYẾT CỦA ĐÃNG VÀO cuộc SỐNG
2 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển công
nghiệp văn hóa
Nhận thức về CNVH ngày càng đầy đủ,
toàn diện Thời gian qua, các chủ trương và
chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển
CNVH đã được khẳng định, từ đó truyền đi
những thông điệp tích cực, kịp thời giúp người
dân hiểu toàn diện hơn về CNVH
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII
(năm 1998) về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
đã đề ra chính sách kinh tế trong văn hóa và
văn hóa trong kinh tế Nghị quyết số 23-NQ/
TW của Bộ Chính trị khóa X (năm 2008) về tiếp
tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật
trong thời kỳ mới khẳng định ở trong nước "đã
hình thành một thị trường hàng hóa và dịch vụ
các sản phẩm văn học, nghệ thuật" [4], Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây
dựng và phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước, lần đầu đề cập đến phát triển CNVH đi
đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa
và xác định đây là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm, cơ bản để đẩy nhanh quá trình xây
dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam
Văn kiện Đại hội lần thứ XII và XIII đều nhấn
mạnh chủ trương nhất quán của Đảng về phát
triển CNVH: "Phát triển công nghiệp vãn hóa
đi đôi vói xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch
vụ và sản phẩm văn hóa Đổi mới, hoàn thiện
thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để xây
dựng, phát triển thị trường dịch vụ, sản phẩm
văn hóa lành mạnh; đẩy mạnh phát triển công
nghiệp văn hóa" [5],
Nhiều luật, bộ luật cũng như chiến lược,
chương trình hành động đã được thông qua
và đi vào thực hiện như Luật Sở hữu trí tuệ,
Luật Điện ảnh, Luật Xuất bản, Luật Di sản
văn hóa, Luật Quảng cáo, Luật Du lịch, Luật
Thư viện ; Chiến lược phát triển văn hóa đến
năm 2030, Chiến lược phát triển các ngành
CNVH Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030 tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển CNVH
Thông qua công tác tuyên truyền với những hình thức sinh động, phong phú, đa dạng đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và người dân về vai trò, tầm quan trọng của CNVH Văn hóa không chỉ
là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực của sự phát triển mà văn hóa còn là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm quan trọng của quốc gia - nhân tố bảo đảm cho quá trình phát triển nhanh và bền vững
Tiềm năng văn hóa, con người Việt Nam
có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển CNVH, thể hiện ở truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời với những nét đặc sắc kết tinh ở
hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú; ở phong tục tập quán, nghi lễ, tín ngưỡng, lễ hội
Ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam sở hữu nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng trải dài từ Bắc tới Nam Bên cạnh đó là những nét độc đáo trong đời sống văn hóa của
54 dân tộc anh em Đây là nguồn vốn văn hóa
để khai thác, phát huy, tạo điều kiện thuận lợi
để CNVH phát triển
Hiện nay, dân số Việt Nam gần 100 triệu người, số dân trong độ tuổi lao động chiếm đa
số Người Việt được đánh giá là thông minh, sáng tạo, cần cù, chịu khó, có khả năng thích ứng linh hoạt với cái mới Đâv là nguồn lực đặc biệt quan trọng với những ý tưởng sáng tạo, phát minh, sáng chế để tạo ra những sản phẩm văn hóa chứa đựng hàm lượng chất xám, trí tuệ cao, mang lại những giá trị mới cho CNVH Với lợi thế cơ cấu dân số vàng, đây vừa là nguồn cung ứng lao động dồi dào cho ngành CNVH, đồng thời cũng là thị trường tiềm năng, tạo sức cạnh tranh, tiêu dùng các sản phẩm văn hóa
Sự tăng tốc của một số ngành CNVH có thế mạnh Thời gian qua, một số ngành CNVH
đã có sự phát triển mạnh mẽ, đem lại nguồn
26 I TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ I số 43 (3-2022)
Trang 4thu lớn cho ngân sách Theo thống kê của
Viện Văn hóa nghệ thuật guốc gia thuộc Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đóng góp GDP
của các ngành CNVH những năm qua có sự
tăng trưởng đáng kể Năm 2010, đóng góp
của ngành CNVH chiếm 2,44% GDP, năm
2015: 3,5% GDP, năm 2018: 3,61% GDP
Tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực văn
hóa, năm 2009: 1,72%, năm 2015: 3,45%,
năm 2018: 3,51% Xuất khẩu sản phẩm văn
hóa, năm 2013: 493.342.938,00 (USD), năm
2016: 912.981.417,00 (USD), năm 2019:
2.494.075.077,00 (USD) [6],
Mức doanh thu cụ thể của từng ngành
thuộc CNVH, cho thấy: Đối với ngành điện ảnh,
năm 2016 doanh thu đạt 1.073 tỷ đồng; năm
2017 đạt 3.228 tỷ đồng (tương đương khoảng
140 triệu USD); năm 2018 đạt 3.353 tỷ đồng
(tương đương khoảng 145 triệu USD) Trong 6
tháng đầu năm 2019, doanh thu đạt khoảng
200 tỷ đồng [6], Đối với ngành nghệ thuật
biểu diễn, năm 2018, doanh thu đạt khoảng
104.165.240.400 đồng (doanh thu bán vé), với
2.118 buổi biểu diễn; năm 2018, doanh thu
gấp 1,5 lần so với cùng kỳ năm trước; 6 tháng
đầu năm 2019, số kinh phí từ các buổi biểu
diễn có bán vé đạt 42.697.665.000 đồng Đối
với ngành quảng cáo, năm 2017 và 6 tháng
đầu năm 2018, doanh thu quảng cáo trên các
phương tiện truyền hình là 64.104.908.921
đồng; trên báo in: 1.067.129.234 đồng;
trên tạp chí: 762.907.174 đồng; trên radio:
1.462.066.374 đồng [?] Đối với ngành du
lịch, khách quốc tế đến thăm Việt Nam có xu
hướng ngày càng tăng không chỉ về quy mô
du khách (đạt trên 1,8 triệu lượt khách năm
2019) mà còn cả về tốc độ tăng trưởng du
khách (đạt mức bình quân 23%/năm trong
giai đoạn 2016-2019) Năm 2019, tổng thu từ
ngành du lịch đạt 700.000 tỷ đồng [8],
Như vậy, so với mục tiêu mà Chính phủ
đề ra trong Chiến lược phát triển các ngành
CNVH đến năm 2020, doanh thu của các
ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng
3% GDP và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, đến nay qua thống kê cho thấy, doanh thu của ngành CNVH đã vượt chỉ tiêu đề ra, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh
tế - xã hội đất nước, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cũng như mang lại đời sống văn hóa tinh thần phong phú cho nhân dân
ứng dụng thành tựu của khoa học kỹ thuật
So với các quốc gia có ngành CNVH phát triển thì ngành CNVH ở Việt Nam còn non trẻ Tuy nhiên, phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, những bài học thành công của các nước có CNVH phát triển
sẽ là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tận dụng
cơ hội đi trước đón đầu trong tiếp thu, chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ để tạo ra những sản phẩm văn hóa có chất lượng Trong CNVH, yếu tố khoa học kỹ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng vật chất góp phần tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa trên dây chuyền sản xuất chuyên nghiệp, hiện đại, đồng bộ, đáp ứng tốt nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ của công chúng Với hơn 70% người dân Việt Nam sử dụng internet và các phương tiện truyền thông, đây là cơ hội lớn để quảng
bá, giới thiệu những sản phẩm vàn hóa có giá trị đến với người dùng, góp phần kiến tạo không gian, môi trường sống lành mạnh, khoa học, nhân văn
Bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành CNVH ở nước ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức
Hệ thống cơ chế, chính sách còn thiếu Hệ
thống cơ chế, chính sách về CNVH nói chung
và việc xây dựng hệ thống các bộ luật cho từng ngành CNVH vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ
Do chưa có những quy định, chế tài, hướng dẫn cụ thể nên việc phát triển một số ngành CNVH gặp nhiều khó khăn CNVH liên quan mật thiết đến quá trình cung - cầu, xuất nhập khẩu sản phẩm văn hóa trên thị trường nội địa và quốc tế, điều này đòi hỏi hệ thống cơ chế, chính sách phải phù hợp với thông lệ, quy
Trang 5ĐƯA NGH Ị QU YẾT CỦA ĐÀNG VÀO cuộc SỐNG
định chung của quốc tế, vừa phù hợp với điều
kiện tình hình ở Việt Nam Tuy nhiên, một số
chính sách chậm được ban hành, bị thực tiễn
vượt qua, tạo rào cản trong việc huy động sự
tham gia của các chủ thể trong khai thác, phát
huy tài nguyên văn hóa
Nhận thức về vai trò của CNVH còn chưa
đầy đủ, toàn diện CNVH là ngành công
nghiệp ra đời muộn, còn khá mới ở nước ta
nên nhận thức của cộng đồng về CNVH chưa
đầy đủ, thông suốt Một số doanh nghiệp còn
băn khoăn, cân nhắc khi đầu tư vào CNVH bởi
tính rủi ro và hiệu quả kinh tế mang lại ở một
số ngành chưa cao
Nguồn nhân lực tham gia vào CNVH còn có
những hất cập về trình độ tay nghề, chuyên
môn Văn hóa, văn nghệ là lĩnh vực đặc thù,
liên quan trực tiếp đến tài năng sáng tạo (văn
chương, âm nhạc, hội họa, điện ảnh, nhiếp
ảnh ) trong khi số lượng người theo học, theo
đuổi đam mê nghệ thuật còn khiêm tốn số
nhân lực làm trong CNVH có tay nghề, trình
độ chuyên môn, được đào tạo còn hạn chế
Thiếu sự kết nối giữa các không gian sáng
tạo Ở một số thành phố, đô thị lớn, các không
gian sáng tạo về văn hóa, nghệ thuật bước đầu
hình thành, đi vào hoạt động, tạo ra những
hiệu ứng tích cực trong xã hội (năm 2021,
cả nước có 198 không gian văn hóa sáng tạo
ngoài công lập) Tuy nhiên, các không gian
sáng tạo còn thiếu sự kết nối, thiếu cơ chế vận
hành, thiếu cơ sở hạ tầng, hoạt động mang
tính tự phát nên chưa khai thác, phát huy
được tiềm năng sáng tạo và những đam mê
cống hiến của giới trẻ và những người có tình
yêu văn hóa, nghệ thuật nước nhà
Thị trường nội địa còn yếu Việt Nam đang
ở giai đoạn dân số vàng với lực lượng người
trong độ tuổi lao động chiếm đại đa số Tuy
nhiên, mức sống, mức thu nhập của người
dân còn khó khăn dẫn đến việc chi tiêu cho
vãn hóa còn thấp Sức mua của thị trường
CNVH trong nước còn chậm Một số sản phẩm
văn hóa còn đơn điệu, chưa đủ sức cạnh tranh
về giá thành, mẫu mã so với sản phẩm CNVH
của các nước tiên tiến
Trước những tác động xấu của hội nhập toàn cầu, quá trình biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, sự thiếu vắng của các nghệ nhân dân gian khiến cho một số loại hình di sản văn hóa đứng trước nguy cơ mai một Bên cạnh
đó, tình trạng khai thác triệt để giá trị kinh
tế của các di sản văn hóa cũng như cách làm
du lịch văn hóa thiếu chuyên nghiệp của một
số cá nhân, tổ chức đang đặt ra những thách thức cho sự phát triển bền vững của ngành CNVH
Tình trạng vi phạm bản quyền CNVH liên
quan mật thiết đến quá trình sáng tạo của
cá nhân, với những phát minh, sáng chế độc quyền Tình trạng vi phạm, xâm phạm, tranh chấp bản quyền xảy ra với tần suất các vụ việc
có chiều hướng gia tăng Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong khai thác, phát huy tiềm năng văn hóa dân tộc, nhất là văn hóa truyền thống còn chưa được như kỳ vọng
Tác động của đại dịch COVID-19 Đại dịch
COVID-19 khiến cho nhiều ngành như du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn bị đình trệ, khủng hoảng
3 Giải pháp phát triển ngành cồng nghiệp văn hóa
Thứ nhất, tiếp tục làm tốt công tác tuyên
truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn thể người dân, cộng đồng doanh nghiệp về vai trò, tầm quan trọng của CNVH CNVH không chỉ là ngành kinh tế đơn thuần mà những giá trị, thông điệp từ các sản phẩm CNVH có ý nghĩa đặc biệt trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách, lối sống đẹp cho mỗi người Khi nhận thức đầy
đủ, thông suốt sẽ tạo động lực, sức mạnh và tinh thần quyết tâm để xây dựng, phát triển ngành CNVH vững mạnh
Thứ hai, bổ sung và ban hành kịp thời cơ
chế, chính sách, hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ, kịp thời, nhất là việc ban hành luật, chiến lược, chương trình hành động cho 12 ngành CNVH Tạo môi trường thuận lợi trong hoạt động sáng tạo, sản xuất sản phẩm CNVH; bảo đảm quyền tự do, dân chủ trong sáng tạo văn hóa, nghệ thuật Có chính sách ưu đãi
28 I TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ I số 43 (3-2022)
Trang 6trong tuyển dụng, đào tạo, thu hút nguồn
nhân lực trẻ, tài năng tham gia vào quá trình
CNVH Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước tham
gia tích cực vào quá trình khai thác, sản xuất,
quảng bá sản phẩm văn hóa thông qua những
cơ chế đặc thù, những ưu đãi về thuế, lệ phí,
xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hóa vì lợi
ích chung của cộng đồng, xã hội
Tăng cường nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực
phát triển văn hóa nói chưng và CNVH nói riêng
thông qua nguồn lực từ ngân sách nhà nước,
nguồn vốn xã hội hoá, nguồn vốn huy động từ
cộng đồng Phát huy tinh thần chủ động, tích
cực, sáng tạo của nhân dân trong hoạt động
sáng tạo, thụ hưởng thành quả CNVH
Trong số 12 ngành thuộc CNVH, các bộ
ngành và chính quyền địa phương cần xác
định những ngành trọng tâm, trọng điểm,
có thế mạnh để tập trung ưu tiên nguồn lực
đầu tư, gắn với đặc trưng văn hóa vùng miền,
tộc người Từ những thành công bước đầu
sẽ nhân rộng mô hình phát triển đối với các
ngành nghề khác, tạo sự phát triển hài hòa,
bền vững
Thứ ba, nguồn vốn, tài nguyên quan trọng
của CNVH là truyền thống, bản sắc văn hóa
phong phú, độc đáo và sức sáng tạo của người
dân Vì thế, phát triển CNVH phải bảo đảm
nguyên tắc hài hòa giữa kế thừa, bảo tồn với
phát huy, lan tỏa; giữa truyền thống với hiện
đại; tăng tưởng, phát triển kinh tế nhưng phải
bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội Bên cạnh việc gìn giữ, bảo tồn tốt giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp cần không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Nâng cao trình độ ngoại ngữ, năng lực quản trị, điều hành hoạt động khai thác, kinh doanh sản phẩm văn hóa Tăng cường khả năng liên kết, mở rộng hợp tác với các quốc gia
có CNVH phát triển để học tập kinh nghiêm, chuyển giao tri thức, ứng dụng khoa học công nghệ, tạo ra những sản phẩm văn hóa có chất lượng, mang bản sắc, đặc trưng văn hóa quốc gia Thiếp lập và tạo dựng mối liên kết bền chặt với các cơ quan, tổ chức, tập đoàn chuyên
về CNVH để tìm kiếm thị trường tiềm năng,
ổn định, phục vụ tốt nhu cầu thụ hưởng văn hóa, mang lại những "món ăn tinh thần" bổ ích cho công chúng
Đấu tranh, đẩy lùi và xử lý nghiêm tình trạng vi phạm bản quyền, vi phạm pháp luật trong hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm và dịch vụ văn hóa; các hiện tượng trục lợi, khai thác tối đa giá trị kinh tế của văn hóa; các xuất bản phẩm có nội dung xấu độc, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc Hình thành thị trường CNVH lành mạnh, minh bạch, trong sạch, nhân văn, tiến bộ, tạo động lực để các nguồn lực văn hóa, các chủ thể sáng tạo, chủ thể lãnh đạo, quản lý tham gia ngày càng tích hơn vào công cuộc xây dựng, phát triển ngành CNVH
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
777 Lương Hồng Quang: Các ngành công nghiệp sáng
tạo ở Việt Nam: Môi trường thể chế, thị trường rà sự
tham gia, Nxb Thế giới, H.2018.
[2] Vũ Thị Phương Hậu: Một số vấn đề về công nghiệp
văn hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 374, tháng
5-2013.
[3] ĐCSVN: Vãn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, 1.1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021.
[4] ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.67, Nxb Chính
trị quốc gia Sự thật, H.2008.
[5] ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2016.
[6] Nguyễn Thị Thu Phương: "Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam hiện nay" in trong Kỷ yếu Hội nghị văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXIII của Đảng, H, ngày 24/11/2021.
[7] Chính phủ: Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số: 1755/QĐ-TTg, ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ).