MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 1 I Khái quát chung 1 II Điểm mới của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 so với Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 3 2 1 Phát hiện tham nhũng thông qua Công tác tha.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Khái quát chung 1
II Điểm mới của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 so với Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 3
2.1 Phát hiện tham nhũng thông qua Công tác thanh tra, giám sát, kiểm toán 3
2.2 Về xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán 4
2.3 Về công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng 5
2.4 Phản ánh, tổ cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng 5
2.5 Bảo vệ người tố cáo 7
III Hạn chế và kiến nghị hoàn thiện 8
C KẾT LUẬN 10
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 21
A MỞ ĐẦU
Tham nhũng từ lâu đã trờ thành một vấn nạn gây nhức nhối trong người dân
ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam Hiện nay, tham nhũng ở Việt Nam xảy ra nhiều, các vụ đại án về tham nhũng ngày càng có dấu hiệu gia tăng Tình trạng tham nhũng kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kình tế, bộ máy chính trị của một quốc gia Do đó, vấn đê phòng chống tham nhũng luôn là vấn đề mà tất cả mọi người trong chúng ta ai cũng cần quan tâm, thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình để đẩy lùi "nội giặc tham nhũng" ra khỏi cuộc sống Để thực hiện tốt được công việc này thì việc phát hiện tham nhũng là hoạt động vô cùng quan trọng Việc phát hiện ra được các hành vi tham nhũng thì mới có thể co những biện pháp
xử li thích đáng, định tội danh đúng đắn và có những hình phạt đủ sức răn đe
Chính vì lẽ đó, em xin chọn đề bài số 05: "Những điểm mới trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về phát hiện tham nhũng" để nghiên cứu Do kiến
thức còn hạn chế, kính mong được sự giúp đỡ của thầy cô giáo để bài làm được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
B NỘI DUNG
I Khái quát chung
Qua tổng kết 10 năm thi hành Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005 thì cho thấy: Việc tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng hiệu quả thấp, chủ yếu phát hiện qua dư luận xã hội, đơn thư tố cáo, báo chí phản ánh hoặc khi có cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra Một số quy định của pháp luật liên quan tới việc phát hiện, xử lý tham nhũng không hợp lý, gây khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện Mô hình, tổ chức các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng chưa ổn định, chưa đủ mạnh; địa vị pháp lý không tương xứng
Trang 32
với nhiệm vụ được giao Việc xử lý tham nhũng trong nhiều trường hợp còn chưa nghiêm, chưa kịp thời; các biện pháp hỗ trợ hoạt động tư pháp còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là công tác giám định tư pháp trên các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư xây dựng cơ bản, khoa học công nghệ… Để khắc phục hạn chế, bất cập trên Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 đã dành Chương III
để quy định về phát hiện tham nhũng trong cơ quan đơn vị
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 kế thừa luật Phòng chống tham nhũng năm 2005 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 tiếp tục quy định về phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước (Điều 55); công tác tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị (Điều 56); hình thức kiểm tra (Điều 58); đồng thời, bổ sung quy định mới về kiểm tra hoạt động chống tham nhũng trong Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, CQĐT, VKSND, TAND (Điều 57) phải tăng cường quản lý cán bộ, công chức, viên chức và người
có chức vụ, quyền hạn khác; chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ nhằm ngăn chặn hành vi lạm quyền, nhũng nhiễu và các hành vi khác vi phạm pháp luật trong hoạt động chống tham nhũng và việc xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và người có chức vụ, quyền hạn khác của các
cơ quan này khi có vi phạm pháp luật trong hoạt động chống tham nhũng Tiếp tục quy định phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử và xử lý đề nghị của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử (Điều 59); phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán (Điều 60) Đồng thời, bổ sung quy định mới về thẩm quyền của Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước trong thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng (Điều 61); trách nhiệm xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán (Điều 62); công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc
Trang 43
có dấu hiệu tham nhũng (Điều 63) và Xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán (Điều 64)
II Điểm mới của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 so với Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005
2.1 Phát hiện tham nhũng thông qua Công tác thanh tra, giám sát, kiểm toán
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định việc Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử và xử lý
đề nghị của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử; thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán Bỏ quy định của Luật năm 2005 về phát hiện tham nhũng thông qua điều tra, kiểm sát, xét xử Đồng thời quy định cụ thể Trách nhiệm xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán (Luật năm 2005 chỉ quy định chung chung: xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật)
Tại Khoản 1 Điều 62 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định thi trong quá trình thanh tra, kiểm toán nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thì người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán phải có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, phải chỉ đạo xác minh, làm rõ vụ việc tham nhũng và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình Trường hợp
vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ vụ việc và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét, khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho VKSND cùng cấp Trong trường hợp này, Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước tiếp tục tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm toán về các nội dung khác theo kế hoạch tiến hành thanh tra, kế hoạch kiểm toán đã phê duyệt và ban hành Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán theo quy định của pháp luật về thanh tra, pháp luật về
Trang 54
kiểm toán nhà nước Trường hợp vụ việc không có dấu hiệu tội phạm thì kiến nghị
cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi vi phạm
Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý phải thông báo bằng văn bản về kết quả xử lý cho Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị (Khoản 2 Điều 62)
Đây là điểm mới của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước trong phát hiện và xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng và thực tiễn thời gian qua cho thấy, các cơ quan này hoàn toàn có đủ điều kiện để xác minh, làm rõ về tính chất, mức độ của hành vi tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, hơn nữa để chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm, vi phạm pháp luật sang cơ quan có thẩm quyền xử lý, các cơ quan này phải đánh giá được tính chất, mức độ của hành vi vi phạm thì mới có thể xác định được hành vi
đó đã đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hay xử phạt hành chính để chuyển vụ việc và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý cho phù hợp
2.2 Về xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán
Điều 64 Luật Phòng năm 2018 quy định trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra, Trưởng đoàn kiểm toán, thành viên đoàn thanh tra, thành viên đoàn kiểm toán
và cá nhân có liên quan đã tiến hành thanh tra, kiểm toán đối với trường hợp sau khi kết thúc thanh tra, kiểm toán trước đó mà cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện có vụ việc tham nhũng xảy ra tại cơ quan, tổ chức, đơn vị đã tiến hành thanh tra, kiểm toán về cùng một nội dung, thì nếu có lỗi thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Đoàn thanh tra, đoàn kiểm toán nếu đã phát hiện, báo cáo về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, nhưng người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán không xử lý thì trưởng đoàn thanh tra, trưởng đoàn kiểm toán, thành viên đoàn thanh tra, thành viên đoàn kiểm toán và cá nhân có liên quan không phải chịu
Trang 65
trách nhiệm “Khoản 1, Điều 64 quy định về việc xử lý trách nhiệm đối với trường hợp trong “cùng một nội dung” nhưng thanh tra, kiểm toán không phát hiện sai phạm mà các cơ quan có thẩm quyền khác lại phát hiện sai phạm là đã đầy đủ, vì nếu có hồ sơ, tài liệu khác mới phát sinh mà người có thẩm quyền thanh tra, kiểm toán không biết hoặc không thuộc phạm vi thanh tra, kiểm toán thì họ không có lỗi”1 Quy định này nhằm tăng cường hơn nữa trách nhiệm của Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước trong phát hiện hành vi tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán
2.3 Về công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng
Điều 63 Luật PCTN năm 2018 quy định người ra quyết định thanh tra, người
ra quyết định kiểm toán có trách nhiệm công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng Việc công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra, pháp luật về kiểm toán nhà nước
2.4 Phản ánh, tổ cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng
So với Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 bổ sung quyền của công dân, ngoài quyền phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng, còn có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng và giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng và đặc biệt là được giữ bí mật về thông tin của người phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng… Luật cũng đã mở rộng các hình thức tiếp nhận thông tin về tham nhũng, bao gồm: phản ánh, tố cáo, báo cáo Mở rộng hơn các hình thức tiếp nhận thông tin về tham nhũng so với quy định của Luật PCTN năm 2005, bao gồm: phản ánh, tố cáo và xử
1 Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga dẫn báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Trang 76
lý phản ánh, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng (Điều 65); báo cáo và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng (Điều 66) để giúp các cơ quan có thẩm quyền có nhiều kênh thông tin tiếp nhận, thu thập các thông tin về tham nhũng nhằm phát hiện và xử lý nhanh chóng, kịp thời; đồng thời, khuyến khích cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng.Qua đó giúp các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, thu thập các thông tin về tham nhũng nhằm phát hiện và xử lý nhanh chóng, kịp thời; khuyến khích cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin liên quan đến hành vi có dấu hiệu tham nhũng Quy định rõ hơn trách nhiệm tiếp nhận và xử lý phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng tại Điều 65 và Điều 66
Quy định trên phù hợp với Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng quy định việc công dân có thể chọn hình thức tố giác nếu có đầy đủ chứng cứ xác định dấu hiệu tham nhũng Cụ thể: Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành
vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng Và tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản (Điều 114
- Luật Tố tụng hình sự 2015) Điều 145 - Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng quy định về thẩm quyền giải quyết việc tố giác tội phạm Đó là mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm… Từ những quy định trên, công dân có thể làm đơn trình báo với cơ quan Công an hoặc Viện Kiểm sát để tố giác hành vi tham
Trang 87
nhũng những trường hợp không phải đối tượng do Luật Tố cáo năm 2018 điều chỉnh
2.5 Bảo vệ người tố cáo
Luật 2005 không có quy định cụ thể về bảo vệ người tố cáo, chỉ quy định
“Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây
thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật“
Luật năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số quy định mới về bảo vệ người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng (Điều 67); khen thưởng người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng (Điều 68) và trách nhiệm của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng (Điều 69) Luật Tố cáo được Quốc hội thông qua đã quy định chi tiết về việc bảo vệ người tố cáo, trong đó có cả việc bảo vệ những người thân thích của người tố cáo Đồng thời, việc khen thưởng cho người tham gia tích cực vào công tác phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng cũng đã được pháp luật về khen thưởng quy định Tuy nhiên, đối với việc bảo vệ người phản ánh, báo cáo thì pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể, vì vậy, Điều 67 Luật PCTN năm 2018 quy định người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo Điều 69 Luật PCTN năm 2018 cũng quy định trách nhiệm của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng phải chịu trách nhiệm về việc tố cáo của mình theo quy định của Luật Tố cáo; người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của nội dung phản ánh, báo cáo.Những uy định mới này là cơ sở để người dân có thể tố cáo Chỉ khi bản thân họ được bảo vệ thì họ mới dám đứng lên phơi bày những hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật
Trang 98
III Hạn chế và kiến nghị hoàn thiện
Khái quát về tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2018, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao Lê Minh Trí cho biết tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, cơ quan chức năng đã khởi tố mới hơn 72.000 vụ án, tăng 3,2% so
với năm 2017, trong đó đáng chú ý là tội phạm về tham nhũng, chức vụ tăng 32,2%, tội phạm về ma túy tăng 12,6%, tội phạm về trật tự Xã hội tăng 0,8%2 Từ con số trên có thể thấy số vụ tham nhũng đang tăng nhiều chứng tỏ những quy định mới vẫn còn nhiều hạn chế,
Thứ nhất, cơ quan thanh tra chủ yếu chỉ có thẩm quyền kiến nghị xử lý
Qua hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, các cơ quan thanh tra phát hiện sai phạm, vi phạm pháp luật nhưng hầu như không có quyền quyết định xử lý (trừ thanh tra chuyên ngành được xử phạt vi phạm hành chính), chủ yếu là kiến nghị nhưng khi kiến nghị không được người có thẩm quyền xem xét xử lý thì cơ quan thanh tra, người đứng đầu cơ quan thanh tra cũng không có quyền xử lý người đó Tương tự như vậy, trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan thanh tra, đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu… nhưng nếu họ không cung cấp thì cũng không có quyền xử lý họ… Pháp luật thanh tra quy định cơ quan thanh tra được quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức báo cáo về công tác thanh tra nhưng nếu cơ quan, tổ chức đó không báo cáo cũng không có quyền xử lý họ…
Thứ hai, quyền hạn của các cơ quan thanh tra trong bộ máy hành chính nhà
nước chưa được xác định tương xứng với nhiệm vụ được giao, việc đảm bảo thực hiện quyền cũng còn hạn chế
2 Khởi tố hơn 72.000 vụ án trong năm 2018, tội phạm tham nhũng tăng
Trang 109
Theo Luật Thanh tra 2010, các cơ quan thanh tra nhà nước được giao nhiệm
vụ thanh tra các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc quyền quản lý của thủ trưởng
cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao Tuy nhiên, Luật Thanh tra quy định, các cơ quan thanh tra nhà nước là cơ quan tham mưu hoặc là cơ quan chuyên môn của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp nghĩa là, cơ quan thanh tra chỉ có vị trí tương đương với các cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra Thủ trưởng các cơ quan thanh tra cũng chỉ tương đương với thủ trưởng các cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra, thậm chí trong một số trường hợp còn kém vị thế hơn (không phải là cấp ủy viên)
Do vậy, khi triển khai nhiệm vụ, quyền hạn gặp nhiều khó khăn
Thứ ba, Ngày 10/01/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực Tuy nhiên trên thực tế vẫn xảy ra tình trạng người đi tố giác bị đe dọa, uy hiếp dẫn đến việc người dân còn e
dè trong việc tố giác tội phạm Do đó cần tăng cường cơ chế phối hợp giám sát của các cơ quan quyền lực, cơ quan nhà nước và người dân đối với việc thực hiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo tham nhũng theo một cơ chế vận hành thống nhất Việc giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành điều lệ đảng bằng
hệ thống ủy ban kiểm tra các cấp; giám sát trong hệ thống các cơ quan nhà nước chính là sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp với các cơ quan hành chính nhà nước; giám sát của cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới Mặc
dù tính chất, phạm vi ảnh hưởng khác nhau nhưng cùng mục đích nâng cao năng lực quản lý, điều hành, bảo đảm việc thực hiện các chức trách, nhiệm vụ bảo vệ người tố cáo tham nhũng được đúng đắn, phát hiện những hạn chế, bất cập để có những điều chỉnh kịp thời Đòi hỏi phải tăng cường phối hợp chặt chẽ bằng quy chế phối hợp giám sát giữa các cơ quan đảng, chính quyền đối cơ quan nhà nước, bảo đảm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động là yếu tố khách quan cần thiết Có sự