LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam đang trở thành một điểm dến Du Lịch toàn cầu với ngành công nghiệp du lịch phát triển và trăng trưởng nhanh chóng. Năm 1998, có khoảng 1,5 triệu lượt khách quốc tế đến với Việt Nam. Kể từ đó, số lượng du khách tăng gần gấp đôi lên đến 4,2 triệu trong năm 2008 và tổng cục du lịch ước tính năm 2013 có khoảng 7,5 triệu lượt khách quốc tế đến việt nam. Tuy nhiên có dấu hiệu cho thấy tỉ lệ tăng trưởng sụt giảm trong những năm gần đây. Cuộc khủng hoảng tài chính cũng đã ảnh hưởng đáng kể đến lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Và đặc biệt ảnh hưởng đến phát triển Du Lịch vùng Duyên hải Miền Trung. Vùng duyên hải miền Trung bao gồm 9 tỉnhthành phố (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) nằm ở vị trí trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Các quốc lộ 14B, 24 và 19 nối các cảng biển đến vùng Tây Nguyên và trong tương lai gần sẽ nối với hệ thống đường xuyên Á qua Lào, đông bắc Campuchia, Thái Lan, Myanmar theo hành lang Đông Tây là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và các nước trên đến các nước vùng Bắc Á. Vị trí địa lý là một lợi thế quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Vùng mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên, cả nước và quốc tế. Toàn Vùng có 06 sân bay (trong đó có 04 cảng hàng không quốc tế), 08 cảng biển nước sâu, 06 khu kinh tế ven biển (cả nước có 15 khu kinh tế ven biển), 01 khu công nghệ cao (cả nước có 3 khu công nghệ cao), 09 tuyến đường quốc lộ, đường sắt Bắc Nam chạy qua, phân bổ đều khắp ở các địa phương, nối liền các đô thị, các khu kinh tế, khu công nghiệp trong Vùng. Trên địa bàn tập trung đến 4 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận là Quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế, Phố cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn. Một chuỗi đô thị ven biển đang hình thành như: Chân Mây Lăng Cô, Đà Nẵng, Hội An, Vạn Tường, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang là cơ sở quan trọng để thiết lập và mở rộng các liên kết kinh tế giữa các địa phương trong Vùng. Cơ cấu kinh tế của các địa phương trong Vùng chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần các ngành dịch vụ, du lịch, công nghiệp và xây dựng, giảm dần ngành nông nghiệp. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu còn có những hạn chế nhất định: Chưa có hệ thống giao thông đường bộ hiện đại, nhất là các tuyến đường cao tốc đáp ứng yêu cầu phát triển. Xuất phát điểm nền kinh tế của các địa phương thấp, tích lũy đầu tư nhỏ, hiệu quả đầu tư chưa cao. Tiềm năng, thế mạnh khá tương đồng (biển, du lịch, cảng biển, sân bay, khu kinh tế, nguồn nhân lực dồi dào...); các ngành kinh tế chủ lực tại các khu kinh tế, khu công nghiệp của các địa phương có sự trùng lắp nên địa phương nào cũng bị phân tán nguồn lực đầu tư (cả nhà nước lẫn tư nhân). Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các nhóm ngành dịch vụ, công nghiệp xây dựng; tuy nhiên, tỷ trọng nhóm ngành nông lâm ngư nghiệp vẫn còn khá lớn. Các địa phương của Vùng có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) còn ở mức thấp hoặc trung bình. Phần lớn các địa phương đều có tư duy phát triển dàn trải dựa trên tiềm năng, thế mạnh của mình về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch (thiên nhiên, nhân văn), nguồn nhân lực dồi dào, lao động rẻ... Đã xuất hiện những xung đột giữa lợi ích địa phương và lợi ích toàn Vùng do các tỉnh đều ưu tiên tập trung phát triển cảng biển, sân bay, khu kinh tế. Mặt khác, các ngành kinh tế chủ lực của các tỉnh có cơ cấu ngành, sản phẩm khá trùng lắp, thiếu các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ. Các tỉnh vẫn còn lúng túng, bị động, chưa biết bắt đầu và triển khai các bước cần thiết như thế nào để liên kết phát triển. Để phát huy tiền năng Du Lịch vùng duyên hải miền Trung. Tôi lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp phát triển du lịch vùng duyên hải miền Trung trên cơ sở tầm nhìn vùng, liên kết vùng”.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trở thành một điểm dến Du Lịch toàn cầu với ngành côngnghiệp du lịch phát triển và trăng trưởng nhanh chóng Năm 1998, có khoảng 1,5triệu lượt khách quốc tế đến với Việt Nam Kể từ đó, số lượng du khách tăng gầngấp đôi lên đến 4,2 triệu trong năm 2008 và tổng cục du lịch ước tính năm 2013 cókhoảng 7,5 triệu lượt khách quốc tế đến việt nam Tuy nhiên có dấu hiệu cho thấy
tỉ lệ tăng trưởng sụt giảm trong những năm gần đây Cuộc khủng hoảng tài chínhcũng đã ảnh hưởng đáng kể đến lượng khách quốc tế đến Việt Nam Và đặc biệtảnh hưởng đến phát triển Du Lịch vùng Duyên hải Miền Trung
Vùng duyên hải miền Trung bao gồm 9 tỉnh/thành phố (Thừa Thiên Huế, ĐàNẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận,Bình Thuận) nằm ở vị trí trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam vềđường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Các quốc lộ 14B, 24 và 19nối các cảng biển đến vùng Tây Nguyên và trong tương lai gần sẽ nối với hệ thốngđường xuyên Á qua Lào, đông bắc Campuchia, Thái Lan, Myanmar theo hành langĐông Tây là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và các nước trên đến các nước vùngBắc Á Vị trí địa lý là một lợi thế quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Vùng mởrộng giao lưu kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên, cả nước và quốc tế
- Toàn Vùng có 06 sân bay (trong đó có 04 cảng hàng không quốc tế), 08cảng biển nước sâu, 06 khu kinh tế ven biển (cả nước có 15 khu kinh tế ven biển),
01 khu công nghệ cao (cả nước có 3 khu công nghệ cao), 09 tuyến đường quốc lộ,đường sắt Bắc - Nam chạy qua, phân bổ đều khắp ở các địa phương, nối liền các
đô thị, các khu kinh tế, khu công nghiệp trong Vùng
- Trên địa bàn tập trung đến 4 di sản văn hóa thế giới được UNESCO côngnhận là Quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế, Phố cổ Hội An vàKhu di tích Mỹ Sơn
- Một chuỗi đô thị ven biển đang hình thành như: Chân Mây - Lăng Cô, ĐàNẵng, Hội An, Vạn Tường, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang là cơ sở quan trọng đểthiết lập và mở rộng các liên kết kinh tế giữa các địa phương trong Vùng
Trang 2- Cơ cấu kinh tế của các địa phương trong Vùng chuyển dịch theo hướngtích cực, tăng dần các ngành dịch vụ, du lịch, công nghiệp và xây dựng, giảm dầnngành nông nghiệp.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu còn có những hạn chế nhất định:
- Chưa có hệ thống giao thông đường bộ hiện đại, nhất là các tuyến đườngcao tốc đáp ứng yêu cầu phát triển
- Xuất phát điểm nền kinh tế của các địa phương thấp, tích lũy đầu tư nhỏ,hiệu quả đầu tư chưa cao
- Tiềm năng, thế mạnh khá tương đồng (biển, du lịch, cảng biển, sân bay,khu kinh tế, nguồn nhân lực dồi dào ); các ngành kinh tế chủ lực tại các khu kinh
tế, khu công nghiệp của các địa phương có sự trùng lắp nên địa phương nào cũng
bị phân tán nguồn lực đầu tư (cả nhà nước lẫn tư nhân)
- Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng cácnhóm ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng; tuy nhiên, tỷ trọng nhóm ngànhnông - lâm - ngư nghiệp vẫn còn khá lớn
- Các địa phương của Vùng có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) còn
ở mức thấp hoặc trung bình
- Phần lớn các địa phương đều có tư duy phát triển dàn trải dựa trên tiềmnăng, thế mạnh của mình về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch (thiênnhiên, nhân văn), nguồn nhân lực dồi dào, lao động rẻ
- Đã xuất hiện những xung đột giữa lợi ích địa phương và lợi ích toàn Vùng
do các tỉnh đều ưu tiên tập trung phát triển cảng biển, sân bay, khu kinh tế Mặtkhác, các ngành kinh tế chủ lực của các tỉnh có cơ cấu ngành, sản phẩm khá trùnglắp, thiếu các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ
- Các tỉnh vẫn còn lúng túng, bị động, chưa biết bắt đầu và triển khai cácbước cần thiết như thế nào để liên kết phát triển
Để phát huy tiền năng Du Lịch vùng duyên hải miền Trung Tôi lựa chọn đề
tài: “Một số giải pháp phát triển du lịch vùng duyên hải miền Trung trên cơ sở
tầm nhìn vùng, liên kết vùng”.
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 LIÊN KẾT KINH TẾ:
Tư tưởng về liên kết kinh tế được các nhà lý luận kinh tế đề cập nhiều Từ thế
kỷ XVI-XVII, chủ nghĩa trọng thương đã nói vấn đề này Đến thế kỷ XIX, các nhàkinh tế học cổ điển nêu lên rõ nét
Trong lý luận về phân công lao động, Adam Smith đã nói, khi phân công laođộng đã trở thành phổ biến ở khắp nơi thì mỗi người đều sống bằng trao đổi và xã
hội sẽ trở thành một liên minh buôn bán Adam Smith đã nêu lên lý thuyết về “lợi
thế tuyệt đối” Nếu một nước ngoài có thể cung cấp cho ta một thứ hàng hoá rẻ
hơn chúng ta tự làm lấy thì tốt nhất là chúng ta hãy mua ở nước đó với một phầnsản phẩm công nghiệp của chúng ta Còn công nghiệp của chúng ta thì hãy đemdùng cho một loại sản phẩm nào đó mà chúng ta có một lợi thế nào đó
Lênin đã phân tích ở lý luận về phân công lao động xã hội, về chủ nghĩa đếquốc, nêu lên cụ thể về sự hình thành, hoạt động của các liên minh tư bản độcquyền
Vào giữa thế kỷ XX, P.Samuelson đã nhấn mạnh và cụ thể hơn lý thuyết vềlợi thế so sánh Ông nêu lên ví dụ, có hai vùng, trong đó một vùng xét theo con sốtuyệt đối là hữu hiệu hơn, có lợi hơn hoặc không có lợi bằng vùng kia, nếu mỗivùng tự sản xuất ra của cải, nay từng vùng chuyển sang chuyên môn hoá để tạo rasản phẩm có lợi thế so sánh, tức là hiệu quả tương đối cao hơn thì việc trao đổigiữa hai vùng sẽ có lợi cho cả hai bên
Như vậy, các nhà lý luận đã đề cập đến tư tưởng, nội dung của liên kết kinh
tế Vậy, liên kết kinh tế là gì? Có thể hiểu liên kết kinh tế là sự liên minh, kết hợpcác quan hệ vật chất, tài chính giữa các chủ thể lại với nhau theo những thoả thuậnnhất định nhằm thực hiện các chương trình, mục tiêu nào đó để mang lại lợi íchchung của khối, trong đó có lợi ích của các bên
Có nhiều hình thức liên kết kinh tế, mức độ và tính chất như thế nào còn phụthuộc vào các bên tham gia Nếu căn cứ vào chủ thể, liên kết kinh tế được chia rahai cấp độ vi mô và vĩ mô Liên kết kinh tế vi mô là hình thức liên kết của các
Trang 5công ty hay tập đoàn công ty, doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp,giữa nhà máy với các địa phương Liên kết kinh tế vĩ mô là hình thức liên kết giữacác nước với nhau theo những thoả thuận nhất định Tuỳ theo điều kiện và yêu cầumỗi nước mà liên kết kinh tế quốc tế có tính chất và mức độ khác nhau, nhìn chung
có các loại hình phổ biến như khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thịtrường chung, liên minh tiền tệ, liên minh kinh tế
1.2 TẦM NHÌN VÙNG:
1.2.1 Khái niệm vùng:
Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhấtđịnh, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽgiữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như mối quan hệ có chọn lọc với khônggian các cấp bên ngoài
Với cách hiểu trên, có thể thấy rằng : Vùng là một hệ thống bao gồm cácmối liên hệ của các bộ phận cấu thành với các dạng liên hệ địa lí, kĩ thuật, kinh tế,
xã hội bên trong hệ thống cũng như bên ngoài hệ thống
Vùng tồn tại do yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc gia Tính kháchquan của vùng được cụ thể hóa thông qua những nguyên tắc do con người đặt ra.Vùng là cơ sở để hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển kinh tế theolãnh thổ cũng như để quản lí các quá trình phát triển kinh tế – xã hội trên mỗi vùngcủa đất nước
có giá trị nhất
Nhiều nước trên thế giới phân chia lãnh thổ quốc gia thành các vùng kinh tế
- xã hội để hoạch định chiến lược, xây dựng các kế hoạch phát triển, xây dựng hệ
Trang 6thống cơ chế, chính sách vĩ mô để quản lý vùng nhằm đạt được mục tiêu phát triểnchung của đất nước.
Vùng kinh tế là khách quan và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Vùng kinh
tế hình thành trên cơ sở tác động tổng hợp của nhiều yếu tố Nói một cách khác, đểphân chia các vùng kinh tế cần có các căn cứ, đó là các yếu tố tạo vùng kinh tế,như: Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ; yếu tố điều kiện tự nhiên; yếu tố kếtcấu hạ tầng; yếu tố quan hệ kinh tế đối ngoại;yếu tố khoa học công nghệ; yếu tốdân cư, dân tộc; yếu tố lịch sử, văn hoá
Về mặt khoa học, khái niệm phát triển vùng cho đến nay vẫn còn là mới mẻ
và chưa thống nhất Ở Việt Nam chẳng hạn, cùng lúc đang có khái niệm vùng kinh
tế (bao gồm 8 vùng: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ,
Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long), vùng kinh tế trọng điểm (bao gồm 3 vùng: vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
với 7 tỉnh, thành phố là thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương,Hưng Yên, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh; vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với 5tỉnh, thành phố là Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và BìnhĐịnh; vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với 7 tỉnh, thành phố là thành phố Hồ ChíMinh, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước và Long
An), vùng sinh thái - môi trường (núi, trung du, đồng bằng, ven biển), vùng địa lý
(vùng sâu, vùng xa và vùng trung tâm) Hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới vẫnchưa có nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu cả về lý luận lẫn thực tiễn về vùng vàphát triển kinh tế - xã hội vùng
1.3 LIÊN KẾT VÙNG:
1.3.1 Liên kết kinh tế:
+ Liên kết kinh tế là một hình thức kinh tế phổ biến của các nước trên thế
giới Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hầu hết các quốc gia đều thực hiện
sự liên kết, hợp tác dưới những hình thức và mức độ khác nhau Trong điều kiệnngày nay, không có một nước nào, một vùng lãnh thổ nào tự cô lập, khép kín mà
có thể tồn tại và phát triển được Liên kết kinh tế là hiện tượng khách quan, tất yếu
Trang 7và có vai trò quan trọng trong việc khai thác, sử dụng các nguồn lực phát triển kinh tế
-xã hội
+ Có nhiều nguyên nhân hình thành và phát triển các liên kết kinh tế, trong
đó có những nguyên nhân cơ bản sau đây:
- Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến phân công lao động xã hội
- Khoa học - công nghệ phát triển tạo điều kiện và thúc đẩy liên kết kinh tế
- Cạnh tranh dẫn đến hình thành các liên kết kinh tế
- Toàn cầu hoá kinh tế với sự chi phối của các nước lớn, các công ty xuyênquốc gia
- Sự phân bố tài nguyên, nguồn lực không đều
+ Vai trò của liên kết kinh tế được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
- Tạo ra thế và lực để nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm sự phát triển bềnvững
- Khai thác được tiềm năng, lợi thế cho sự phát triển
- Liên kết kinh tế làm giảm chi phí và tiêu hao nguồn lực, tăng hiệu quả đápứng nhanh nhạy yêu cầu phát triển
- Liên kết kinh tế tập trung nguồn lực để thực hiện được những công trình, dự
án lớn mà từng công ty hoặc từng địa phương không làm được
- Liên kết kinh tế tạo sức mạnh nội sinh, hạn chế sự tác động tiêu cực từ bênngoài, đồng thời tạo môi trường thu hút đầu tư có hiệu quả
- Liên kết kinh tế tăng thêm sự phân công chuyên môn hoá và phát triển kinh
tế tổng hợp, xoá bỏ sự phát triển đơn cực, cục bộ, khép kín, mở rộng sự hợp tác vàphân công quốc tế, mở rộng thị trường
1.3.2 Liên kết kinh tế Vùng:
- Liên kết kinh tế Vùng có thể được hiểu là các mối quan hệ hợp tác và phốihợp thường xuyên, ổn định các hoạt động kinh tế do các địa phương, đơn vị trongvùng được thiết lập trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi nhằm khaithác tốt nhất tiềm năng, lợi thế so sánh thúc đẩy kinh tế cả vùng và từng địaphương phát triển, đảm bảo lợi ích tối đa cho các bên tham gia
Trang 8- Là phương thức hợp tác và cạnh tranh lành mạnh cùng phát triển giữa cáctỉnh, thành phố, đơn vị theo nguyên tắc “win - win”, liên kết kinh tế vùng là mộtđòi hỏi bức thiết và cơ bản lâu dài, đan xen nhiều hình thức và quy mô khác nhau,đồng thời chịu sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường và yêu cầu của hội nhậpkinh tế khu vực và quốc tế Liên kết kinh tế Vùng có thể diễn ra song phương hoặc
đa phương giữa các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, các địa phương với nhau,giữa các đơn vị, cơ quan trung ương với các tỉnh, thành phố trong vùng để cùng lập
và thực hiện các kế hoạch, chương trình, biện pháp, dự án thông qua biên bản ghinhớ, cam kết trách nhiệm hoặc các quy chế hoạt động hoặc ký kết hợp đồng kinh tế
mà không làm mất quyền tự chủ của mình hoặc vi phạm trách nhiệm hợp đồng đã
kí với các địa phương, đơn vị khác phù hợp với pháp luật của Nhà nước Trong đó,tỉnh thành phố là chủ thể quan trọng và quyết định nhất
- Nội dung của liên kết kinh tế vùng rất đa dạng, phong phú và phù hợp với yêucầu phát triển của cả vùng và từng địa phương, đơn vị trong từng thời kỳ nhất định
Đó có thể là cùng phối hợp để kết nối và sử dụng hiệu quả hạ tầng giao thông, cungcấp xăng dầu, điện, nước, bưu chính viễn thông, đào tạo dạy nghề, nghiên cứu khoahọc; có thể là phân công, chuyên môn hoá và hiệp tác hoá sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm, dịch vụ; cùng nhau xúc tiến đầu tư, thương mại; nhằm tiết kiệm thời gian,công sức và kinh phí, đạt hiệu quả cao các hoạt động kinh tế cho toàn vùng và chotừng chủ thể tham gia
- Mục đích của sự phối hợp, liên kết giữa các tỉnh, thành phố với nhau trongVùng nhằm tạo không gian kinh tế thống nhất cho toàn vùng để cùng phát triển đạtđược hiệu quả cao trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, điều này đã
và đang diễn ra không như mong muốn Ở đây, thiếu nhiều quy hoạch, từ quy hoạchchung đến quy hoạch ngành, thiếu các phương án phối hợp tổng thể, lâu dài cho cảvùng và từng tỉnh, thành phố Mặt khác, các các tỉnh, thành phố chưa ý thức hếtđược trách nhiệm và lợi ích trong phối hợp, liên kết chặt chẽ với nhau, thay vào đó
là trình trạng “mạnh ai nấy làm”, “dàn hàng ngang” trên đường đua phát triển, chỉchăm lo phát triển địa phương mình mà “quên” nghĩ đến việc liên kết cùng pháttriển cho cả vùng
Trang 9- Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách khách quan, vấn đề liên kết kinh tế ởViệt Nam nói chung và Vùng kinh tế nói riêng dường như còn nhiều bất cập cả về
lý luận lẫn thực tiễn Có thể kể ra ở đây một số điểm sau:
Về mặt lý luận, mặc dù đã khẳng định việc liên kết kinh tế là tất yếu, nhưng
đến nay vẫn chưa được tổng kết và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về liên kết kinh
tế, chưa hình thành các quan điểm, nguyên tắc rõ ràng tạo nền tảng cho việc xâydựng, tổ chức và đánh giá quá trình liên kết
Về mặt thực tiễn, việc triển khai đường lối phát triển kinh tế có thể trong
chừng mực nào đó còn thiếu nhất quán Cụ thể: Vấn đề quy hoạch phát triển kinh
tế vẫn còn tiến hành ở phạm vi các địa phương theo địa giới hành chính làm cảntrở tính liên tục của “không gian kinh tế”.Vấn đề ban hành các chính sách pháttriển của các địa phương và trung ương vẫn chưa nhất quán, chồng chéo nhưngchưa có chế tài xử lý Chưa có những đánh giá cụ thể về yêu cầu liên kết kinh tếtrên phạm vi quốc gia, từng vùng, địa phương, ngành và doanh nghiệp
- Năm 1997, Thủ tướng Chỉnh phủ đã ban hành Quyết định số1018/1997/QĐ-TTg phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùngkinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010”; và năm 2004, Quyết định số148/2004/QĐ-TTg phê duyệt “Phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế-xã hộivùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và năm 2020” thực hiện đối với
5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm: Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý vàcác lợi thế so sánh của vùng, từng bước phát triển VKTTĐMT thành một trongnhững vùng phát triển năng động của cả nước, bảo đảm vai trò hạt nhân tăngtrưởng và thúc đẩy phát triển khu vực miền Trung và Tây Nguyên Với mục tiêuđạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 đạtkhoảng 1,2 lần và giai đoạn 2011-2020 đạt khoảng 1,25 lần tốc độ tăng trưởngbình quân cả nước Tăng tỷ lệ đóng góp của vùng trong GDP của cả nước khoảng5,5% năm 2010 và 6,5% năm 2020
- Trong hai thập niên qua, nhất là trong 10 năm gần đây, Đảng bộ và chínhquyền mỗi địa phương trong Vùng với khát vọng vươn lên, đã có những nỗ lực
Trang 10mạnh mẽ, chủ động khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, thu hút đầu tư, tranhthủ sự hỗ trợ của Trung ương nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội củamỗi địa phương Những nỗ lực trong thời gian qua đã mang lại những kết quả khá
ấn tượng, thậm chí là kết quả vượt bậc trên nhiều lĩnh vực, có những bước pháttriển khởi sắc và thay đổi quan trọng bộ mặt của chuỗi đô thị duyên hải theo hướnghiện đại
- Tuy nhiên, quá trình phát triển vừa qua cũng cho thấy, nếu chỉ dựa vào “lợithế tĩnh” về điều kiện tự nhiên mỗi địa phương có được để thực hiện chính sách ưuđãi kêu gọi đầu tư, mà thiếu sự liên kết để tạo ra “lợi thế động” nhằm tối ưu hóanguồn lực hữu hạn, thì sẽ khó có thể nâng cao sức cạnh tranh của toàn Vùng Với
sự quy hoạch phân bố lực lượng sản xuất theo mô hình cơ cấu kinh tế tỉnh dẫn đến
sự phân tán nguồn lực và thiếu sự liên kết để giải quyết những vấn đề chung củabài toán phát triển đã và đang đặt ra khá gay gắt đối với mỗi địa phương Nhậnthức được vấn đề trên, lãnh đạo 09 tỉnh, thành phố duyên hải miền Trung đã thốngnhất về sự cần thiết xây dựng, thực thi các chính sách và cơ chế liên kết phát triểnchung của cả Vùng, bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững, để cùng cả nướcthực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; hướng tới tương lai một Vùngduyên hải phồn vinh của đất nước
- Nhận thức vấn đề đúng, nhưng làm thế nào trong điều kiện mà lợi ích pháttriển của mỗi địa phương không chỉ có điểm tương đồng, mà còn chứa đựng cảnhững dị biệt, thậm chí mâu thuẫn lợi ích Mặt khác, sự liên kết không làm mất điđộng lực cạnh tranh, tính năng động sáng tạo của từng địa phương; đồng thời phảibiến sức mạnh kinh tế của Vùng thành “con số nhân”, chứ không phải là “con sốcộng” của 09 địa phương hiện nay Thật vậy, liên kết phát triển là cần thiết, là tấtyếu khách quan, nhưng liên kết thế nào, gồm nội dung gì, cách thức và bước đi rasao; cơ chế vận hành, lợi ích và trách nhiệm của từng địa phương; vai trò lãnh đạo
và hỗ trợ của Trung ương… nhằm biến ý tưởng thành hiện thực của cuộc sống lànhững điều cần phải giải đáp
Trang 11Chương 2 THỰC TRẠNG, TIỀM NĂNG, LỢI THẾ VÀ MẶT HẠN CHẾ,
THÁCH THÚC VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG
Vùng duyên hải miền Trung (Vùng) nằm ở vị trí trung độ của đất nước, làdải đất hẹp ngang bao gồm 9 tỉnh/thành phố: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, QuảngNam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận vớidiện tích 49.409,7 km2 chiếm 14,93% diện tích cả nước Là nhịp cầu nối giữa BắcTrung Bộ với Đông Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên, tạo điều kiện thuận lợi choVùng khai thác và phát triển ngành kinh tế mũi nhọn du lịch
2.1 TIÊM NĂNG VÀ LỢI THẾ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG.
Nhìn chung, các địa phương có nguồn tài nguyên khá đa dạng và phong phúvới nhiều tiềm năng nổi trội về biển, đảo, vịnh nước sâu, đất, rừng, di sản văn hóalịch sử… cho phép phát triển kinh tế tổng hợp với các ngành chủ lực như: du lịch,công nghiệp đóng tàu và dịch vụ hàng hải, khai thác và chế biến thủy sản, dịch vụhậu cần nghề cá
- Đặc biệt, trên địa bàn tập trung đến 4 di sản văn hóa thế giới đượcUNESCO công nhận là Quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế,Phố cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn; có nhiều vũng, vịnh, bãi tắm đẹp tầm cỡ( Bải biền Chân Mây - Lăng Cô, Mỹ Khê - Đà Nẵng, Hội An, Vạn Tường, QuyNhơn, Tuy Hòa, Nha Trang); với 10 khu du lịch quốc gia (Lăng Cô - CảnhDương, Sơn Trà, Bà Nà, Cù Lao Chàm, Mỹ Khê, Phương Mai, vịnh Xuân Đài, BắcCam Ranh, Ninh Chữ, Mũi Né,), 7 điểm du lịch quốc gia (Bạch Mã, Ngũ HànhSơn, Mỹ Sơn, Trường Lũy, Trường Sa, Lý Sơn, Phú Quý,) và 5 đô thị du lịch(Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phan Thiết); ngoài ra, nhiều khu, điểm du lịchđịa phương đã và đang hình thành, đầu tư phát triển Có thể nói, sự tập trung về tàinguyên du lịch biển gắn với sự đa dạng và đặc sắc của bề dày văn hóa, vùng duyênhải miền Trung là điều kiện quan trọng và thế mạnh nổi trội để thu hút đầu tư pháttriển du lịch
Trang 12- Cùng với nét văn hóa đặc sắc, đa dạng và độc đáo của miền biển với hệthống di sản có giá trị, duyên hải miền Trung đã và đang có sức hút mạnh mẽ cácnhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch: Tiềm năng du lịch nhân văn trong Vùng gắn liềnvới những giá trị văn hóa, lịch sử mang đậm dấu ấn văn hóa biển và văn hóa Chămnhất là Bảo tàng Điêu khắc Chăm tại Đà Nẵng, nơi lưu trữ và trưng bày nhiều divật về nghệ thuật điêu khắc của Vương quốc ChămPa Mặc khác, trong Vùng còntập trung đến 4 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận ( quần thể di tích
cố đô Huế, Nhã nhạc Cung đình Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn)
- Mặt khác với lợi thế về vị trí địa lý, các tài nguyên du lịch biển của vùngduyên hải miền Trung còn kết nối với tài nguyên du lịch núi rừng Trường Sơn, tạonên sự phong phú, kết hợp đặc biệt về du lịch giữa núi rừng và biển đảo
- Với sự phát triển ngày càng năng động của các địa phương trong Vùng đãhình thành nên một chuỗi đô thị ven biển như: Chân Mây - Lăng Cô, Đà Nẵng, Hội
An, Vạn Tường, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Rang - Tháp Chàm, Mũi
Né là cơ sở quan trọng để thiết lập và mở rộng các liên kết phát triển du lịch giữacác địa phương trong và ngoài Vùng
- Với hơn 5,8 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm 71,3% dân số toànVùng và 11,3% lực lượng lao động cả nước, với đặc tính chân thành, chịu thươngchịu khó, cơ cấu độ tuổi lại khá trẻ, chi phí nhân công thuộc loại rẻ nhất cả nước,đây là những thế mạnh về nguồn nhân lực của Vùng, rất phù hợp trở thành nguồnlao động tiềm năng đối với các hoạt động, dự án đầu tư du lịch đã, đang và sẽ tiếnhành trong vùng duyên hải miền Trungi
- Vùng duyên hải miền Trung nằm ở trung độ trên các trục giao thông chínhBắc - Nam cả về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, có ýnghĩa chiến lược về giao lưu kinh tế Bắc - Nam và Đông - Tây, có quan hệ chặtchẽ với Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Đông Bắc Thái Lan vàMyanmar, là cửa ngõ ra biển của các tuyến hành lang Đông - Tây nối với đườnghàng hải quốc tế qua biển Đông và Thái Bình Dương Với lợi thế địa - kinh tế này,cộng thêm những tiềm năng to lớn về tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao độngdồi dào, đã tạo điều kiện thuận lợi hình thành một hành lang thương mại quan
Trang 13trọng nằm giữa 02 Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam và Tây Nguyên,cũng như kết nối giữa khu vực tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng với khu vựcĐông Bắc Á và khu vực Đông Nam Á.
2.2 CÁC ĐIỂM YẾU VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG.
- Xuất phát điểm nền kinh tế của các địa phương trong vùng thấp, quy môkinh tế còn nhỏ hẹp, tích lũy đầu tư nhỏ và hiệu quả đầu tư chưa cao, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ít hiệu quả
- Tiềm năng, thế mạnh khá tương đồng (biển, du lịch, cảng biển, sân bay,khu kinh tế, nguồn nhân lực dồi dào ); các ngành kinh tế chủ lực tại các khu kinh
tế, khu công nghiệp của các địa phương có sự trùng lắp nên địa phương nào cũng
bị phân tán nguồn lực đầu tư (cả nhà nước lẫn tư nhân)
- Dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực du lịch vùng duyên hải miền Trung khá lớnnhưng phần nhiều gắn với bất động sản du lịch, trong đó tỷ trọng vốn thực sự đầu
tư vào hoạt động du lịch vẫn còn khiêm tốn, chưa có chiều sâu Hơn nữa, do tínhchất liên ngành, liên vùng của du lịch mà vì thế việc đầu tư vào du lịch gắn liền vớiđầu tư vào các ngành liên quan khác (hạ tầng, giao thông, viễn thông, nôngnghiệp ) và các địa bàn phụ cận (khu, điểm du lịch trên tuyến du lịch) thuộc cácđịa phương xung quanh liên quan (tương đồng và/hoặc bổ trợ) trong Vùng
- Thách thức lớn nhất đó là quan điểm, tầm nhìn trong đầu tư và quản trịvòng đời sản phẩm du lịch: Hiện nay, một số sản phẩm du lịch ở những điểm đến
đã từng thành công những năm trước, rõ nét nhất như ở Huế, tiếp đến là NhaTrang, hay Mũi Né, Hội An đã xuất hiện dấu hiệu bước sang giai đoạn thoái trào
- Phần lớn các địa phương đều có tư duy phát triển dàn trải dựa trên tiềmnăng, thế mạnh của mình về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch (thiênnhiên, nhân văn), nguồn nhân lực dồi dào, lao động rẻ Tình trạng các tỉnh, thành
“mạnh ai nấy làm”, “dàn hàng ngang” để tiến diễn ra rất phổ biến Đã xuất hiệnnhững xung đột giữa lợi ích địa phương và lợi ích toàn vùng do các tỉnh đều ưutiên tập trung phát triển cảng biển, sân bay, khu kinh tế Mặt khác, các ngành kinh
tế chủ lực của các tỉnh có cơ cấu ngành, sản phẩm khá trùng lắp, thiếu các ngành
Trang 14công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ.Thách thức đối với liên kết thu hút đầu tư toàn Vùng là
sự xung đột về chính sách, quy hoạch ở mỗi địa phương và/hoặc xung đột giữa dulịch với các ngành liên quan khác Thực tế đã diễn ra vấn đề này, ví dụ: khai tháctitan với phát triển các khu nghỉ dưỡng ở Bình Thuận, cảng nước sâu với phát triển
du lịch ở Vân Phong cũng như sự trùng lặp về sản phẩm, thiết kế phong cách cáckhu nghỉ dưỡng ven biển của nhiều tỉnh
- Chất lượng nguồn nhân lực du lịch chưa đáp ứng nhu cầu đặt ra: Về nguồnlao động làm việc trong ngành du lịch Vùng hiện nay có 109.472 lao động, chiếm5,32% tổng số lao động du lịch cả nước Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 57,86%,trong đó trình độ từ cao đẳng trở lên không cao - chỉ có khoảng 33,15% lượng laođộng du lịch trong Vùng biết và sử dụng các loại ngoại ngữ khác nhau, chưa đápứng nhu cầu đặt ra của các địa phương
- Lãnh thổ trải rộng và địa hình phức tạp sẽ cản trở tổ chức không gian pháttriển kinh tế - xã hội của Vùng; đặc biệt là kết nối giao thông đường bộ Hạ tầngkinh tế - xã hội còn thiếu, yếu, chưa đồng bộ (chưa có hệ thống giao thông đường
bộ hiện đại, nhất là các tuyến đường cao tốc, để đáp ứng yêu cầu liên kết phát triểnkinh tế - xã hội của vùng…); thường xuyên chịu tác động của biến đổi khí hậu (hạnhán, bão lụt) Nhu cầu vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thôngliên tỉnh và quốc tế là rất lớn; đa số các địa phương trong Vùng chưa có khả năngtích lũy để phát triển
- Chính sách ưu đãi áp dụng cho các địa phương trong vùng chưa đồng bộ,chưa đủ sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư (khả dĩ bù đáp được những bất lợi về điềukiện địa lý, điều kiện về kinh tế - xã hội và sự yếu kém về cơ sở hạ tầng); chỉ sốnăng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trong những năm gần đây vẫn chưa cải thiệnđáng kể (trừ thành phố Đà Nẵng)
+ Nhìn chung thực trạng phát triển du lịch của Vùng vẫn chưa xứng đáng so
với tiềm năng, thế mạnh và sự quan tâm đầu tư phát triển du lịch của các địa phương, vẫn còn tồn tại những vấn đề chính sau: Chưa thực sự hình thành mối liên
kết toàn diện trong phát triển du lịch của Vùng, giữa các địa phương chéo vớinhau Chưa hình thành tiếng nói chung giữa các đơn vị quản lý Nhà nước và các